PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế khoa học – kĩ thuật phát triển như vũ bão, xã hội biến đổi
không ngừng theo dòng chảy của thời gian. Con người hiện tại và trong tương
lai phải là những con người có trình độ nhận thức, năng động, sáng tạo để thích
ứng với những đổi thay của xã hội, thời đại. Với yêu cầu đó giáo dục đóng vai
trò hết sức quan trọng để đào tạo ra những con người có trình độ, năng lực theo
kịp xu thế của thời đại, vì vậy Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã chỉ rõ “Giáo dục
– đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở
để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”.
Chính vì thế mà trong những năm qua bộ giáo dục – đào tạo đã quán triệt
chặt chẽ về qui chế đánh giá, xếp loại học lực của học sinh và quá trình thực
hiện cuộc vận động hai không với bốn nội dung: “Nói không với bệnh thành
tích trong giáo dục và tiêu cực trong thi cử, nói không với vi phạm đạo đức nhà
giáo và học sinh không đạt chuẩn lên lớp” do bộ giáo dục – đào tạo chỉ đạo đã
đem lại sự đánh giá thực chất về chất lượng của học sinh. Theo đó, số lượng học
sinh yếu kém có chiều hướng tăng cao hơn so với những năm trước đây. Đây là
thực trạng mà chúng ta phải chấp nhận và cần tìm ra những giải pháp phù hợp
để cải thiện trên tinh thần không chạy theo những thành tích nhưng phải nâng
cao chất lượng thực của học sinh. Đây không những là trách nhiệm của các nhà
quản lí mà còn là trách nhiệm của toàn thể đội ngũ giáo viên.
Với trường THPT Vinh Xuân một trong những mục tiêu quan trọng hàng
đầu là nâng cao chất lượng học tập của học sinh, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém
trên tinh thần đánh giá thực chất năng lực của các em. Xuất phát từ những khó
khăn thực tế của nhà trường mà trong những năm qua tỷ lệ học sinh yếu kém
vẫn còn cao.
Đặc biệt với môn Ngữ văn, một môn được coi là “không ưa thích”,
“không thịnh hành” nên học sinh còn xem nhẹ, coi thường, học mang tính chất
đối phó với thầy cô trên lớp nhất là học sinh khối 12. Điều này ảnh hưởng
không nhỏ đến tỷ lệ học sinh yếu kém của nhà trường.
-1-
đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh có kết quả học lực yếu, kém trong
số những học sinh đó phần lớn là do yếu kém môn Ngữ văn đặc biệt là học sinh
khối 12. Đó là một thực trạng đáng buồn đối với nhà trường nói chung và giáo
viên giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 12 lại là tổ trưởng
chuyên môn bản thân tôi thật sự trăn trở và suy nghĩ phải làm thế nào để khắc
phục tình trạng này. Vì vậy, để tìm ra giải pháp phù hợp tôi đã tìm hiểu và nắm
bắt thực trạng cụ thể về tỷ lệ học sinh yếu kém môn Ngữ văn khối 12 ở nhà
trường trong những năm qua cụ thể như sau:
Năm học 2011-2012 tỷ lệ học sinh yếu, kém khối 12 là 17,5%
Năm học 2012-2013 tỷ lệ học sinh yếu, kém khối 12 là 13,6%
Học kì I năm học 2013-2014 tỷ lệ học sinh yếu, kém khối 12 là 26,5%
-3-
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TỶ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM
MÔN NGỮ VĂN LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT VINH XUÂN
Từ thực trạng của vấn đề bản thân tôi nghĩ rằng nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ
học sinh yếu, kém môn Ngữ văn khối 12 có rất nhiều nhưng ở đây tôi chỉ đưa ra
một số nguyên nhân chủ yếu nhất:
2.1. Về phía học sinh
2.1.1. Ý thức học tập chưa tốt
Do các em chưa nhận thức được Ngữ văn là môn học làm cơ sở để hỗ trợ
cho nhiều môn học khác và bồi đắp nhân cách tâm hồn cho con người nên còn
xem nhẹ, coi thường và nghĩ rằng đó là môn học không quan trọng, không cần
đầu tư nhiều thời gian vì nó là môn học không khó chỉ cần học thuộc bài và đọc
một số tài liệu tham khảo là đủ.
Các em không mấy hứng thú với môn Ngữ văn vì đây là môn học không có
2.2.1. Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp
Đa số giáo viên của tổ Ngữ văn trong nhà trường đều được đào tạo đạt
chuẩn và trên chuẩn, tận tụy với công việc, quan tâm đến học sinh nhưng nhiều
khi phương pháp dạy chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh điều đó cũng
làm tăng lên tỷ lệ học sinh yếu, kém của bộ môn.
Môn Ngữ văn là một môn học gồm ba phân môn: Đọc văn, Làm văn,
Tiếng Việt. Mỗi phân môn đều có một phương pháp giảng dạy riêng, mỗi bài
mỗi thể loại văn bản cũng đòi hỏi một phương pháp riêng nên việc lựa chọn
phương pháp phù hợp là một điều rất khó. Người giáo viên đứng lớp có khi vẫn
còn lúng túng chưa biết lựa chọn phương pháp tối ưu, có khi phương pháp phù
hợp với lớp này nhưng lại không phù hợp với lớp khác.
Do điều kiện khách quan và chủ quan của nhà trường nên một số tiết học
chưa sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trực quan còn hạn chế đều đó
cũng ảnh hưởng đến chất lượng giờ dạy.
2.2.2. Tổ chức tiết dạy chưa hứng thú và lôi cuốn học sinh
Một số giáo viên chưa thật sự tâm huyết với nghề nên chưa có sự chuẩn bị
bài tốt, chưa có sự đầu tư thích đáng cho tiết dạy, chưa nắm được giá trị sâu sắc
-5-
của tác phẩm văn học. Do vậy, chưa khơi gợi được hứng thú và cảm xúc cho
học sinh trong các tiết dạy.
Giáo viên chưa phân loại các đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu,
kém mà tiết dạy chỉ tiến hành chung chung vì vậy học sinh yếu, kém không theo
kịp nội dung bài mới ảnh hưởng đến chất lượng giờ dạy.
Một số giáo viên còn thiếu kinh nghiệm nên việc tổ chức tiết dạy còn cứng
nhắc, mang tính hình thức chưa có sự linh động để vận dụng phương pháp phù
hợp với từng tiết dạy, bài dạy, từng đối tượng học sinh. Đa số đều áp dụng một
phương pháp giống nhau cho mọi đối tượng học sinh vì vậy mà chất lượng giờ
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỤ ĐẠO
MÔN NGỮ VĂN LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT VINH XUÂN
3.1. Đối với học sinh
3.1.1. Qúa trình chuẩn bị bài
Chuẩn bị bài trước khi lên lớp là một việc làm hết sức quan trọng đối với
học sinh đặc biệt là học sinh yếu, kém, vì như vậy sẽ giúp các em tiếp cận bài
mới tốt hơn. Đối với môn Ngữ văn việc soạn bài trước khi đến lớp gồm các
bước sau:
Đọc kĩ tác phẩm, nội dung bài học để bước đầu cảm thụ, hiểu được tác
phẩm, sơ bộ nắm được chủ đề, kết cấu, trạng thái cảm xúc, cốt truyện, tính cách
của các nhân vật đối với tiết Đọc văn và nắm được nội dung bài học đối với tiết
Làm văn, Tiếng Việt.
Đối với phân môn Đọc văn sau khi đọc tác phẩm phải nắm được tiểu sử
của tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Vì tác phẩm văn học là thế giới nội
tâm của nhà văn thể hiện tư tưởng, thái độ, tình cảm của nhà văn đối với cuộc
sống. Nếu không nắm bắt được tiểu sử, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm thì không
hiểu đúng, đánh giá đúng tác phẩm.
Đối với phân môn Làm văn và Tiếng Việt thì phải nắm được những nội
dung, kiến thức cơ bản, phương pháp làm bài mà bài học cung cấp.
Phải soạn bài mới theo định hướng của giáo viên, theo những câu hỏi và
gợi ý ở sách giáo khoa.
Là những học sinh yếu, kém nếu nội dung nào chưa rõ khi soạn bài cần
phải hỏi thêm bạn bè hoặc thầy cô không được bỏ qua nội dung đó nếu bỏ qua
thì sẽ bị hỏng kiến thức lên lớp khó tiếp thu bài mới.
3.1.2. Qúa trình lên lớp
Phải lắng nghe giáo viên giảng bài, ghi chép đầy đủ nội dung bài học để có
cơ hội nắm bắt được nhiều kiến thức.
cấp độ lớn nhỏ phải theo quan hệ chính phụ.
Mỗi bài soạn giáo viên phải định hình phương hướng triển khai bài giảng
gồm: xác định trọng tâm, thiết kế hệ thống ý, hoạt động của thầy và trò.
-9-
Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tìm kiếm tư liệu, ứng dụng phần
mền powpoint để soạn bài mà mình cho là cần thiết và thật sự có hiệu quả.
Xác định rõ, chính xác, đầy đủ các luận điểm, luận cứ về nội dung và nghệ
thuật phù hợp với nội dung bài dạy, tiết dạy.
Soạn bài là khâu rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng các giờ dạy
nhất là với môn Ngữ văn vì vậy người giáo viên đứng lớp phải chuẩn bị tốt
khâu này phải quan tâm đến đối tượng học sinh yếu, kém.
3.2.2. Qúa trình lên lớp
3.2.2.1. Phải áp dụng đổi mới phương pháp dạy học
Vận dụng kết hợp các phương pháp dạy học không được xem nhẹ bất kì
một phương pháp nào điều quan trọng là biết vận dụng phương pháp đó một
cách thích hợp, có hiệu quả như phương pháp giảng bình, phát vấn, gợi mở…
Tránh việc vận dụng mang tính hình thức một số phương pháp như thảo luận
nhóm, phát vấn…
Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh yêu cầu học sinh
làm việc nhiều hơn như đọc sách giáo khoa, trả lời câu hỏi của giáo viên, thảo
luận nhóm khi cần thiết…
Hạn chế việc đọc chép, chiếu chép.
Giáo viên tránh viết nhiều trên bảng, hạn chế cho học sinh ghi lại sách giáo
khoa trong vở.
Giáo viên phải rèn luyện cho học sinh bốn kĩ năng trong một tiết dạy:
nghe, nói, đọc, viết.
3.2.2.2. Phải tạo được sự hấp dẫn hứng thú cho học sinh trong mỗi tiết
dạy
3.2.3. Tiến hành dạy phụ đạo cho học sinh
Dạy phụ đạo là giải pháp quan trọng, thiết thực nhất để nâng cao hiệu quả,
giảm tỷ lệ học sinh yếu kém. Với môn Ngữ văn muốn dạy phụ đạo có hiệu quả
thì phải tiến hành theo các bước sau:
3.2.3.1. Xác định đối tượng
Chúng ta khi làm việc gì cũng hướng đến đối tượng cụ thể với những mục
đích nhất định, đối tượng của giáo viên không ai khác chính là học sinh nhưng
đối tượng mà tôi hướng đến đặc biệt hơn bởi đó là những học sinh yếu kém
- 11 -
khối 12. Đây là những học sinh tiếp thu bài chậm, ý thức học tập kém, ham
chơi, hỏng kiến thức nên nội dung công việc lại càng khó khăn hơn.
Sau khi xác định đối tượng phải có sự phân loại học sinh thành các loại:
giỏi, khá, trung bình, yếu, kém và chú ý nhiều hơn đến học sinh yếu kém. Phải
tìm hiểu nguyên nhân xem do đâu mà các em yếu, kém để có phương pháp dạy
phụ đạo thích hợp giúp các em tiến bộ.
3.2.3.2 Xây dựng giáo án phụ đạo
Xây dựng giáo án phụ đạo cho một bài dạy, tiết dạy cụ thể là thể hiện mối
tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh giúp học sinh
đạt được mục tiêu bài học. Để tiến hành một tiết dạy trên lớp nói chung người
giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ giáo án cả về nội dung và phương pháp để
hướng dẫn học sinh tiếp cận kiến thức theo mục đích, yêu cầu của từng bài học.
Với đối tượng học sinh yếu kém thì việc xây dựng giáo án phụ đạo như thế nào
để phù hợp với học lực của các em mà vẫn đảm bảo nội dung cơ bản của bài
học thì quả là một vấn đề cần được quan tâm.
Theo tôi để tiến hành dạy phụ đạo một tiết Ngữ văn đạt hiệu quả tốt trước
hết cần xây dựng một giáo án dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng, có sự tích hợp
giữa các phân môn khác nhau. Nghĩa là phải xác định trọng tâm sau đó lựa chọn
* Kiến thức trọng tâm
- Hiểu được quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ
thuật, về cách nhìn đời và nhìn người trong cuộc sống
- Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: phải
nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện; nghệ thuật chân chính luôn
phải gắn chặt với cuộc sống và con người.
* Kĩ năng: giúp HS rèn kĩ năng nhận thức; có tư duy phê phán, sáng tạo;
kĩ năng đọc hiểu truyện ngắn hiện đại
* Nhận thức: biết phê phán nghệ thuật xa rời cuộc sống…
II. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Phương tiện: GV: SGK, SGV,Giáo án, tài liệu chuẩn KTKN, , phiếu học
tập
HS: Học bài cũ , chuẩn bị bài mới
2. Phương pháp: phát vấn- đàm thoại, thảo luận nhóm, hoàn tất nhiệm vụ
III.Tiến trình lên lớp
1. Ổn định
2. Kiểm tra bài cũ, bài soạn
Kiểm tra bài cũ: - Nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Thi có đặc điểm
gì? Đặc điểm đó thể hiện như thế nào qua hình tượng nhân vật Việt – Chiến
trong truyện ngắn: “Những đứa con trong gia đình” ?
- Bài mới: - Sau 1975, đất nước thoát khỏi chiến tranh bước vào giai
đoạn xây dựng, phát triển. Nhiều nhà văn trăn trở, tìm tòi hướng đi mới cho
văn học trong tình hình mới : khám phá đời sống ở phương diện đời thường
- 14 -
trên bình diện đạo đức thế sự. Một trong những cây bút tiên phong trong sự tìm
tòi, khám phá là Nguyễn Minh Châu. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu một tác
phẩm tiêu biểu của ông thuộc khuynh hướng này : Chiếc thuyền ngoài xa.
HOẠT ĐỘNG
- Đoạn 2: Tiếp theo......giữa phá: Câu chuyện
của người đàn bà hàng chài.
- Đoạn 3: Phần còn lại: Tấm ảnh được chọn
trong bộ lịch năm ấy.
II. Đọc-hiểu văn bản
Hoạt động 2: HD đọc
1. Hai phát hiện của người nghệ sĩ:
hiểu
1.1. Phát hiện thứ nhất - một cảnh đắt
TT1: Học sinh đọc lại trời cho
tác phẩm – gv dẫn + "mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào
lược phần sau
bầu sương mù trắng như sữa ..."
TT2: gv tổ chức cho +" vài bóng người ngồi im phăng phắc như
HS làm việc theo tượng trên chiếc mui khum khum..."
nhóm (trên phiếu)
+ "từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và
* Nhóm 1: - Phát hiện đẹp"
thứ nhất của người Một bức tranh đẹp "toàn bích"
nghệ sĩ nhiếp ảnh * Tâm trạng người nghệ sĩ:
trong buổi sáng mờ
+ Một người đàn bà: "thô kệch", "rỗ mặt",
động của cái đẹp, của "mệt mỏi" nghệ thuật đối với đời
+ Lão đàn ông: "mái tóc tổ quạ", " hai con
sống tinh thần con mắt độc dữ" ...
người?
+ Cảnh tượng tàn nhẫn:
- Niềm hạnh phúc của . lão đàn ông dùng thắt lưng quật tới tấp vào
người nghệ sĩ chính là lưng vợ - nguyền rủa vợ..
cái hạnh phúc của . người phụ nữ vẫn "cam chịu nhẫn nhục"...
khám phá và sáng tạo, . thằng bé con: đánh cha vì thương mẹ -> bị
của sự cảm nhận cái bố giáng cho hai cái tát…
đẹp
tuyệt
điệu.=> <=> Một bi kịch gia đình khủng khiếp, ghê sợ,
Anh đã bắt gặp cái tận nhức nhối
thiện, tận mĩ, thấy tâm * Thái độ của người nghệ sĩ:
hồn mình như được
+ “Chết lặng”, “kinh ngạc đến mức cứ đứng
gột rửa, trở nên thật há mồm ra mà nhìn”
trong trẻo, tinh khôi
kiến cảnh tượng trên?
Phùng cay đắng nhận
thấy những cái ngang
trái, xấu xa,nó như
thứ thuốc rửa quái
đản làm những thức
phim huyền diệu kia
bỗng hiện hình thật
khủng khiếp, ghê sợ.
HS làm việc trong 4
phút => trình bày
TT3: Qua hai phát à Cuộc đời không đơn giản xuôi chiều mà
hiện của người nghệ sĩ chứa đựng nhiều nghịch lí; không thể đánh giá
nhiếp ảnh, nhà văn con người, cuộc sống ở dáng vẻ bên ngoài =>
muốn người đọc nhận phải đi sâu tìm hiểu, phát hiện bản chất bên
thức điều gì về cuộc trong.
đời ?
- Cuộc đời không đơn
giản,
xuôi
chiều,
không phải bao giờ
cũng đẹp, cũng là
nghệ thuật, mà chứa
đựng nhiều nghịch lí,
mâu thuẫn giữa cái
đẹp - xấu, thiện – ác.
nghĩa?
- Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm?
- Đặc sắc Nghệ thuật?
Tiết 71: Đọc văn
Ngày soạn:…./…../….
Ngày dạy: …./…./….
- 19 -
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
Nguyễn Minh Châu
I. Mục tiêu cần đạt: Giúp HS
* Kiến thức trọng tâm
- Hiểu được quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ
thuật, về cách nhìn đời và nhìn người trong cuộc sống
- Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: phải
nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện; nghệ thuật chân chính luôn
phải gắn chặt với cuộc sống và con người.
-Thấy được nghệ thuật kết cấu độc đáo, cách triển khai cốt truyện, khắc
hoạ nhân vật của một cây bút viết truyện ngắn có bản lĩnh và tài hoa.
* Kĩ năng: giúp HS rèn kĩ năng nhận thức; có tư duy phê phán, sáng tạo;
kĩ năng đọc hiểu truyện ngắn hiện đại
* Nhận thức: biết phê phán loại nghệ thuật xa rời cuộc sống…
II. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Phương tiện: GV: SGK, SGV,Giáo án, tài liệu chuẩn KTKN, , phiếu học tập
HS: Học bài cũ , chuẩn bị bài mới
2. Phương pháp: phát vấn- đàm thoại, thảo luận nhóm, hoàn tất nhiệm vụ
III.Tiến trình lên lớp
TT1: Người đàn bà * Người đàn bà có ngoại hình: cao lớn, thô
làng chài xuất hiện ở kệch, rỗ mặt, áo bạc phếch và rách rưới.. -> sự
toà án huyện với bộ vất vả, lam lũ in hằn trên diện mạo
dạng và ước nguyện
như thế nào?
TT2: Tóm lược nội * Câu chuyện cuộc đời bất hạnh, éo le
dung
câu
chuyện
cuộc đời của chị.
+Lúc nhỏ: xấu, rỗ mặt.
+Lớn lên: không ai lấy -> có thai với anh
con trai làng chài -> cuộc sống lênh đênh trên
sóng nước cơ cực ->bị chồng hành hạ, đánh
đập "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận
nặng" - Nhẫn nhịn cam chịu vì thương con
TT3: Câu chuyện và * Ước nguyện: xin không bỏ chồng vì: "nghề
ước
nguyện
của chài trên biển cần có người đàn ông chèo
người đàn bà giúp chống khi phong ba", vì tình thương đối với
Phùng hiểu ra những các con
hồn con bị tổn thương.
Hs thảo luận trong 3
+ sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời -> cảm thông và
- 21 -
phút => trình bày => thấu hiểu sự bế tắc của chồng, nhận phần lỗi về
Gv nhận xét, bỏ sung mình: "giá như tôi đẻ ít đi.." -> bao dung nhân
– chốt vấn đề
hậu, vị tha, giàu đức hi sinh.
+ sống đau khổ nhưng vẫn chắt chiu hạnh
phúc nhỏ nhoi: "Nhìn đàn con được ăn no.Gia
đình cũng có lúc hòa thuận vui vẻ...".
=>Là người phụ nữ có suy nghĩ và hiểu
đời; cao cả, hi sinh cho con cho chồng
- Về người chồng: là thủ phạm gây đau khổ
cho những người thân nhưng là nạn nhân của
cuộc sống khốn khổ
- Về chánh án Đẩu: có lòng tốt, sẵn sàng bảo
vệ công lí nhưng kinh nghiệm sống chưa nhiều
- Về chính mình: đơn giản trong cách nhìn
nhận suy nghĩ
TT4:
Qua
của nghệ thuật
+
“người đàn bà đang bước ra khỏi tấm
ảnh….” => hiện thân của những lam lũ, khốn
khó sự thật cuộc đời
=> vẻ đẹp nghệ thuật hài hòa trong vẻ đẹp cuộc
đời
+ TT7: Vậy Nguyễn * Ý nghĩa: nghệ thuật chân chính không thể
Minh
Châu
muốn tách rời, thoát li cuộc sống. Nghệ thuật chính là
phát biểu điều gì về cuộc đời và phải vì cuộc đơì.
mối quan hệ giữa
nghệ thuật và cuộc
đời?
Hoạt động 2: Tổng III. Tổng kết
kết nghệ thuật của
tác phẩm
1. Nghệ thuật
- Tình huống truyện độc đáo, mang tính
nhận thức, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về
TT1: Tác giả đã xây chân lí đời sống và nghệ thuật:
dựng được một tình
- Ngôn ngữ nhân vật: phù hợp với từng
cách xây dựng ngôn đối tượng với những nét tính cách khác nhau.
ngữ của các nhân
vật?
2. Nội dung
TT4:Gía trị nhân đạo
- Giá trị hiện thực : Truyện phản ảnh tình
và hiện thực của tác trạng bạo lực trong gia đình do cuộc sống
phẩm.
nghèo đói cơ cực.
è Chừng nào chưa thoát khỏi đói nghèo,
con người còn phải dối diện với cái xấu và cái
ác.
- Giá trị nhân đạo :
+Trân trọng vẻ đẹp của tình mẫu tử, đức hy
sinh của người phụ nữ.
+ Nỗi lo âu khắc khoải về tình trạng nghèo
cực, tăm tối của con người.
+Đặt ra cấn đề: Làm gì cho con người sống
hạnh phúc? Một cuộc chiến mới đang đợi mọi
người.
HĐ 3. Củng cố
TT1: Mỗi lần nhìn
bức ảnh đen trắng,
* Kiến thức trọng tâm
- Hiểu được quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ
thuật, về cách nhìn đời và nhìn người trong cuộc sống
- 25 -