SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRUNG TÂM GDNN-GDTX THÀNH PHỐ THANH HÓA
----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY
HỌC PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM MÔN VĂN LỚP 12 Ở
TRUNG TÂM GDNN - GDTX THÀNH PHỐ THANH HOÁ
Người thực hiện: Lê Thị Liên
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2019
-1-
MỤC LỤC
Trang
A. Mở đầu ………………………………………………………………….…...3
I. Lí do chọn đề tài………………………………………………………….…....3
II. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………...….4
III. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………..4
IV. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………….4
B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm ….......... ………………..……………….5
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.………………...…………………...5
II.Thực trạng và nguyên nhân của việc dạy phụ đạo học sinh yếu kém môn Ngữ
văn lớp 12 ở Trung Tâm GDNN - GDTX Thành Phố Thanh Hóa Thực trạng vấn
đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.……..........................……...…5
sự nghiệp giáo dục hiện nay. Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội
nghị TW 8 khóa XI về “ Đổi mới, căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ
đó cần phải tổ chức các hoạt động tích cực cho người học, từ đó khơi dậy và
thúc đẩy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh kiến
thức của người học để phát huy khả năng tự học của họ. Có thể nói, vấn đề học
sinh yếu kém hiện nay đang được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục
tình trạng này. Muốn vậy, người giáo viên không chỉ biết dạy mà còn phải biết
tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ
lệ học sinh yếu kém.
Hằng năm, qua các kỳ thi môn văn của các Trung Tâm GDNN - GDTX
cũng có đạt được những thành công đáng kể. Song đáng tiếc là số học sinh đạt
điểm cao môn văn lại chưa nhiều. Là một giáo viên được công tác và giảng dạy
tai Trung Tâm GDNN - GDTX Thành Phố Thanh Hoá, tiếp cận với đối tượng
học sinh bổ túc trung học phổ thông – các em không đủ điều kiện vào các
trường THPT trên địa bàn thành phố. Điều đó cũng đồng nghĩa với tỷ lệ học sinh
yếu kém về văn hoá cao hơn so với các trường THPT. Với số lượng khoảng hơn
200 học sinh, chất lượng đầu vào kém, các em chưa có động cơ học tập, lười
học, chán học,...
Qua thực tế bản thân và đồng nghiệp trong những năm qua, tôi đã đúc rút
được : “ Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả dạy phụ đạo học sinh yếu
kém môn Ngữ văn lớp 12 ở Trung tâm GDNN - GDTX Thành Phố Thanh Hoá
-3-
” với mong muốn các em học văn thật, thi văn thật và ngày càng yêu thích văn
chương.
II.Mục đích nghiên cứu
Mỗi người thầy đều luôn muốn học hỏi nâng cao, luôn tìm cách dạy tốt nhất
yếu kém. Trong các giờ học môn ngữ văn chỉ một số học sinh chăm chú học
bài, còn một số học sinh khác rất mơ hồ, điều này không chỉ ở học sinh khối 10 ,
11 mà ngay cả học sinh khối 12 chuẩn bị thi tốt nghiệp cũng chưa chú trọng đến
giờ học môn văn. Các em viết những câu văn mơ hồ, sử dụng từ không đúng
nghĩa hoặc không đúng văn cảnh, thậm chí có em còn viết sai tên tác giả, tên
nhân vật,...
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao bản thân không chỉ hoàn thành
nhiệm vụ chuyên môn mà còn cần nắm bắt tâm lí học sinh, quan tâm giúp đỡ với
từng đối tượng cụ thể, kịp thời uốn nắn động viên , khích lệ, dạy phụ đạo cho
học sinh yếu kém môn văn để các em thấy được tầm quan trọng của môn văn
trong nhà trường, từ đó các em thích học văn, yêu văn chương và không chỉ đạt
kết quả tốt tại trường mà còn có thể tham gia các kì thi đạt kết quả cao.
II. Thực trạng và nguyên nhân của việc dạy phụ đạo học sinh yếu kém
môn Ngữ văn lớp 12 ở Trung Tâm GDNN - GDTX Thành Phố Thanh Hóa .
1.Thực trạng:
Trong những năm qua toàn thể đội ngũ cán bộ giáo viên của nhà
trường đã có nhiều nỗ lực để nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Với sự
cố gắng đó chúng tôi đã đạt được một số kết quả nhất định: tỷ lệ học sinh khá,
giỏi tăng lên; học sinh đạt các giải cao trong kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh; học
sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng cũng tăng lên. Bên cạnh đó vẫn còn
một bộ phận không nhỏ học sinh có kết quả học lực yếu, kém trong số những
học sinh yếu kém đó có cả học sinh khối 12. Đó là một thực trạng đáng buồn đối
với nhà trường nói chung và giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng.
Trong học tập là thế, nhưng các em lại rất hiếu động và dễ bị ảnh hưởng
bởi những hoạt động mới lạ. Chính vì thế mà các em dễ bị sa vào các trò game...
Khi bàn luận về vấn đề phim ảnh, những vấn đề vui chơi của giới trẻ thì các em
lại rất hào hứng và ngôn ngữ sử dụng phần nhiều là tiếng lóng, từ ngữ sử dụng
không đúng chính tả mà là ngôn ngữ của “chat” trên mạng như: “pít rùi” (biết
-5-
tham gia dạy học, dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém còn gặp rất nhiều khó khăn
2.3. Nguyên nhân từ phía học sinh:
Đối tượng học sinh của Trung Tâm GDNN - GDTX Thành Phố Thanh
Hóa thường tiếp thu chậm, hiểu nội dung mơ hồ, khả năng cảm thụ một tác
phẩm văn chương chưa tốt,...
* Ý thức học tập chưa tốt
Ý thức tự giác học tập ở các em chưa cao, không coi trọng các môn xã hội,
trong đó có môn Ngữ văn. Do các em chưa nhận thức được môn Ngữ văn là
môn học làm cơ sở để hỗ trợ cho nhiều môn học khác và bồi đắp nhân cách tâm
hồn cho con người nên còn xem nhẹ, coi thường và nghĩ rằng đó là môn học
không quan trọng, không cần đầu tư nhiều thời gian vì nó là môn học không khó
-6-
chỉ cần học thuộc bài và đọc một số tài liệu tham khảo là đủ. Ở nhà các em
không chuẩn bị bài tốt, không đọc trước văn bản, đến lớp không chú ý nghe giáo
viên giảng bài, không ghi bài đầy đủ nên không tiếp thu được kiến thức bài mới.
Một số em bị hổng kiến thức từ những lớp dưới, năng lực học tập yếu, kém
nên càng tỏ ra chán nản trong việc học tập, đến lớp không nắm bắt được nội
dung bài mới, ngày càng lơ là bỏ bê việc học dẫn đến yếu, kém trong các kì
thi…
* Phương pháp học tập không phù hợp
Đa số học sinh đều nghĩ rằng học Văn không khó, không cần phải tư duy
như những môn khoa học tự nhiên khác nên các em chọn cách học thuộc bài một
cách máy móc như “học vẹt” học xong chẳng nhớ được gì, chẳng biết nội dung
tác phẩm đó bàn đến vấn đề gì nên không có khả năng phân tích và cảm thụ tốt
văn bản, không nắm chắc được phương pháp làm bài cho từng dạng bài cụ thể.
2.4. Một số nguyên nhân khác
Xã hội phát triển nên ngày càng có nhiều phương tiện giải trí hấp dẫn hơn
khiến học sinh ít hứng thú với việc tiếp cận sách vở đặc biệt là đọc tác phẩm văn
thích môn Ngữ văn không được xem nhẹ.
Mỗi học sinh nhất là học sinh yếu, kém phải chịu khó đọc nhiều sách báo
để nâng cao năng lực đọc văn, cảm thụ văn bản và khả năng nói viết lưu loát, rõ
ràng, đúng chuẩn.
Phải tích cực tìm hiểu, tham khảo các tài liệu liên quan đến môn Ngữ văn, tham
gia các hoạt động ngoại khóa do tổ chuyên môn tổ chức để nâng cao hứng thú và
niềm yêu thích đối với môn Ngữ văn
Một số em còn hạn chế khả năng phân tích, cảm thụ, diễn đạt lưu loát cũng như
nói viết đúng chuẩn… đòi hỏi học sinh phải đọc bài nhiều lần trước khi phân
tích văn bản. Vì vậy khả năng tiếp thu bài không tốt dẫn đến hậu quả không hiểu
bài , làm bài thi chỉ suy diễn không đúng nội dung bài học và phải nhận điểm
yếu kém môn Ngữ văn.
Học sinh yếu kém lớp 12 là những học sinh tiếp thu bài chậm, ý thức học
tập kém, ham chơi, hổng kiến thức nên nội dung công việc lại càng khó khăn
hơn.
Sau khi tìm hiểu và có sự phân loại học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém và
chú ý nhiều hơn đến học sinh yếu kém. Từ đó xác định đối tượng học sinh tìm
hiểu nguyên nhân xem do đâu mà các em yếu, kém để có phương pháp dạy phụ
đạo thích hợp giúp các em tiến bộ.
2. Dạy phụ đạo học sinh yếu, kém môn văn lớp 12:
a. Xây dựng kế hoạch
Trung Tâm GDNN- GDTX Thành Phố Thanh Hóa với số lương học
sinh ít ỏi ,học sinh học giỏi văn là hiếm chỉ là những em học khá, trung bình và
cả yếu kém. Sau khi đã xác định được đối tượng học sinh học yếu kém môn văn
,tôi xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch dạy phụ đạo (Bao gồm cung cấp
kiến thức,ôn luyện đề, hướng dẫn tự học và rèn luyện kỹ năng). Trong phạm vi
bài viết này, tôi chỉ xin trình bày một vài kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ
năng làm văn cho học sinh.
b. Các bước rèn luyện kỹ năng làm văn
* Lựa chọn hướng ra đề
phẩm, như hệ thống chi tiết, hình ảnh; hiểu khái quát giá trị nội dung - nghệ
thuật của tác phẩm; năng lực chọn lựa và cảm thụ tác phẩm trên nhiều cấp độ:
chỉnh thể tác phẩm - hình tượng - chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ…
Tuy nhiên, không nên chỉ giới hạn trong những tác phẩm đã có trong sách
giáo khoa. Làm như vậy học sinh rất khó thể hiện năng lực thật sự của mình.
Cần mạnh dạn đưa thêm những đoạn thơ, đoạn văn trong phần đọc thêm hoặc
chưa có trong sách giáo khoa. Cố nhiên, với những bài chưa có trong sách giáo
khoa, cần cung cấp văn bản và chỉ nên đưa ra một đoạn ngắn, yêu cầu người làm
bài phải suy nghĩ, vận dụng tổng hợp tri thức và năng lực tư duy.
* Đề kiểm tra kiến thức về lý luận văn học và cảm thụ tác phẩm
Dạng đề này yêu cầu học sinh phải bao quát được những vấn đề cơ bản của lí
luận văn học và soi sáng nó vào những tác phẩm văn học cụ thể.
Chẳng hạn:
Đề 1: Anh chị hiểu như thế nào về lời nói của cổ nhân “thơ ca bắt rễ từ
lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”.
Hãy chọn và phân tích một bài thơ mà anh chị tâm đắc nhất trong chương trình
phổ thông để làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đề 2: Bàn về thơ, R.Tagore viết: "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực
chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong".Ý kiến anh chị?
-9-
Đề 3: Nhà văn Nguyễn Đình Thi viết: "Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn
người ta bởi cách nhìn mới, tình cảm mới, về những việc, những điều mà ai
cũng biết cả rồi" (Nhà văn nói về tác phẩm - NxbVH, 1998, tr. 260).
Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên và phân tích sức hấp dẫn của một tác phẩm
văn học mà anh (chị) cho là lớn.
Đề 4: Trong tác phẩm Đaghextan của tôi, Raxun Gamzatốp viết: "Bài
ca là sứ giả của nỗi buồn hay của niềm vui sướng. Bài ca là tấm chứng minh thư
của lòng trung thực và lòng dũng cảm, của ý nghĩ và việc làm".
Bàn về việc học môn văn hiện nay.
Đề 2:
- 10 -
Quan niệm của anh (chị) về lòng nhân ái.
Đề 3:
Qua cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác trong vở kịch Hồn Trương Ba da làng
thịt, hãy bàn về lẽ sống.
Đề 4:
Anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận với chủ đề "Con đường phía trước"
Đề 5
Em ơi em ,đất nước là máu xương của mình
Phải biết găn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời
( Đất nước-Nguyễn Khoa Điềm)
Em hãy viết một bài văn nghị luận xã hôi nói về trách nhiệm của cá nhân đối với
đất nước.
* Rèn luyện kỹ năng phân tích đề
Rèn luyện kỹ năng phân tích đề, về thực chất là tìm hiểu đề. Bao gồm:
nhận diện kiểu dạng đề, xác định yêu cầu đề, phạm vi tư liệu cần bao quát. Thao
tác này có ý nghĩa định hướng cho việc xử lý đề bài của học sinh. Cần phải cho
học sinh thấy rằng, không thể có bài làm tốt nếu xác định sai yêu cầu, kiều dạng
đề ra.
Sau khi đã nhận diện đúng yêu cầu đề, việc xác định thao tác nghị luận
chỉ cần củng cố và hệ thống lại. Điều cần lưu ý với học sinh là dù đề thi có yêu
cầu hay không, học sinh vẫn phải vận dụng nhiều thao tác nghị luận khác nhau
trong một bài làm (Phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh…) và
phải xác định thao tác nào là chính, thao tác nào là hỗ trợ. Nắm chắc yêu cầu
thì đó là điều cần thiết và không nuối tiếc”.
(Hạt giống tâm hồn- NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh )
Anh, (chị) có suy nghĩ gì về câu nói của người La Mã cổ đại?
Ở đề trên, học sinh cần đề xuất được các luận điểm chính sau:
Luận điểm 1:
- Con người luôn có khao khát hướng tới sự hoàn mĩ, nhưng vẫn có thể
phạm phải sai lầm. Điều quan trọng là phải biết chấp nhận để rút kinh nghiệm và
tránh sai lầm.
- Sai lầm không đồng nghĩa với thất bại. Sai lầm là nhận thức, là việc làm
trái với yêu cầu khách quan hoặc với lẽ phải, dẫn đến hậu quả không hay. Còn
thất bại là bị thua, là hỏng việc, không đạt kết quả.
- Con người có nhu cầu hòan thiện mình, có ước muốn tránh được mọi sai
lầm trong cuộc đời. Song cuộc sống vốn phức tạp, con người không thể không
mắc sai lầm. Như có người nói Con người không phạm phải sai lầm, trừ phi
người ấy không làm việc gì, đó mới là sai lầm của người ấy. Nói cách khác, đòi
hỏi con người không được mắc sai lầm là siêu hình, là duy tâm.
Luận điểm 2
Một lần sai lầm có thể huỷ hoại con người, nhưng cũng có thể giúp cho
con người trưởng thành. Đối với người có ý chí kiên cường, một lần vấp ngã là
một lần thử thách ý chí, để họ chiến thắng bản thân. Sai lầm không làm ta tuyệt
vọng. Phải có thái độ nhìn nhận sai lầm một cách tích cực, để thấy rằng mình có
đầy đủ sức mạnh vượt lên chính mình. Sai lầm là bài học đắt giá mà ta phải trả
cho sự trưởng thành của bản thân, đó là điều cần thiết và không nên nuối tiếc.
Luận điểm 3
- Câu ngạn ngữ của người Hi Lạp, thể hiện một quan niệm nhân sinh đúng
đắn, có tính phổ quát.
- 12 -
- Phê phán thái độ lẩn tránh, không giám thừa nhận sai lầm, hoặc không
văn mẫu do giáo viên lựa chọn, định hướng; Có thể học tập cách viết của các
bạn của mình (những đoạn, những ý mà giáo viên cho là đúng và hay). Hình
thức này rất có hiệu quả bởi đó là những đoạn văn, bài văn hay do chính các em
viết. Các em rất tự hào khi có được bài văn, đoạn văn hay mà được thầy cô và
bạn mình trân trọng, kịch thích hứng thú học tập cho các em.
* Chấm và chữa bài
Đối với các em học sinh, khi chấm bài giáo viên phải chỉ ra được
điểm mạnh, yếu cơ bản của mỗi bài; theo dõi và động viên kịp thời mức độ tiến
- 13 -
bộ của mỗi học sinh trong từng bài viết. Khi chấm, giáo viên phải chỉ ra các lỗi
cụ thể về dùng từ, viết câu, tổ chức ý… phân tích cho học sinh hiểu nguyên nhân
và định hướng cách chữa để học sinh có thể tự sửa chữa các lỗi của mình. Và để
tạo hứng thú, giáo viên có thể tổ chức hưỡng dẫn học sinh đọc và chữa bài cho
nhau. Thay đổi cách chấm điểm phải đi liền với sự thay đổi việc dạy và
học.Theo ý kiến của cá nhân tôi và cũng là kinh nghiệm giảng dạy của tôi với
những bài, những đề học sinh đã làm và được giáo viên chấm chữa thì khi học
sinh đi thi gặp phải những bài những đề như vậy bao giờ cũng làm tốt hơn nhiều
với kết quả rất cao.
IV. Kết quả đạt được:
Người giáo viên nào cũng vậy, họ rất vui khi nhìn thấy học trò của mình
thành công - đó là những bông hoa điểm mười : kết quả cao trong học tập, đạt
thành tích cao trong kì thi và sau nữa là bước chân vào các trường đại học.
Trung Tâm GDNN- GDTX thành phố Thanh Hóa với số lượng học sinh
ít, chất lượng đầu vào kém . Hơn nữa mỗi năm có 2- 4 lớp 12 , các năm học tôi
đều được giao nhiệm vụ dạy môn Văn lớp 12, bằng kiến thức vốn có, học hỏi
đồng nghiệp và sự nổ lực không ngừng của bản thân đạt được kết quả :
Năm học 2014-2015: Tổng số HS khối 12 có 67 em tham gia thi tốt
nghiệp THPT đều đậu : 67 HS (đạt 100%)
khi 12 khụng phi l vic lm mt sm mt chiu m phi lm thng xuyờn,
liờn tc. thc hin ph ao co hiu qu ngoi s la chon phng phỏp, gii
phỏp phự hp v s tn tõm ca ngi thy cn phi co s cng tỏc t nhiu
phớa: s ch ao ca nh trng, ý thc ca ngi hc
Trờn õy l mt s kinh nghim m tụi ó tớch ly c t Mt s bin
phỏp gop phn nõng cao hiu qu day ph ao hc sinh yu kem mụn Ng vn
lp 12 Trung tõm GDNN - GDTX Thnh Ph Thanh Hoỏ . Vi mong mun
góp thêm một số kinh nghiệm , một số biện pháp của mình
vào vốn kinh nghiệm và phơng pháp của tất cả giáo viên dạy
văn nói chung và đối với giáo viên tại trung tâm GDNN- GDTX
Thành Phố Thanh Hoá nói riêng góp phần bồi dỡng tri thức cho
các em có đủ đức đủ tài phục vụ đất nớc trong thời đại CNHHĐH. Là một giáo viên luụn c gng song co th bi sỏng kin kinh nghim
ca tụi cha c hon ho nhng vi s tin b ca hc sinh, tụi ó manh dan
trỡnh by. Rt mong c s gop ý chõn thnh ca Hi ng khoa hc, quớ ban
bố ng nghip sỏng kin kinh nghim ca tụi ngy cng c hon thin
hn.
2. Kin ngh:
* V giỏo viờn day phu ao:
Giỏo viờn gi vai trũ quan trng trong kt qu ca cỏc em. Giỏo viờn
day ph ao trc ht phi l ngi co nhit huyt, am mờ vi ngh v phi
thc s co nng lc v tn tõm vi hc sinh, nm c mt manh, mt yu ca
hc sinh, tớch ly c kinh nghim. Nhng giỏo viờn ny s chu trỏch nhim
trc tip vi nh trng. Khụng nờn b trớ giỏo viờn khụng trc tip ging day
lp co hc sinh yu kem vỡ nhng giỏo viờn o s co ớt thi gian theo sỏt v
nm vng mc hc tp ca hc sinh.
- 15 -
* Động viên, khuyến khích :
Để hỗ trợ cho công tác dạy phụ đạo học sinh yếu kém có hiệu quả, các
9. Ôn tập và tự kiểm tra kiến thức ngữ văn THCS-Luyện thi vào lớp 10Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
10. Bình luận văn chương, Tạ Đức Hiển, TS Nguyễn Trung Kiên. PGS
Nguyễn Kim Hoa- TS Lê Thuận An, Nhà xuất bản Hà Nội 2005.
11. Phương pháp làm bài thi đại học môn văn .Nguyễn Phước Bảo Khôi- trường
chuyên Lê Hồng Phong.
12. Luyện văn - ôn thi đại học.Lê Xuân Lít- Đỗ Kim Hồi-Lê Lưu Oanh- tạ Đức
Hiền của Nxb Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh.
- 17 -
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Liên
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trung tâm GDNN- GDTX TP Thanh
Hóa.
TT
1.
2.
Cấp đánh giá
xếp loại
Tên đề tài SKKN
2010-2011
“ Một số biện pháp góp
phần nâng cao hiệu quả
dạy bồi dưỡng học sinh
giỏi môn văn ở Trung tâm
GDTX Thành Phố Thanh
Hoá ”
QĐ Số
753/QĐSGD&ĐT
ngày
3/11/2014 của
Giám đốc sở
Giáo Dục và
Đào Tạo Tỉnh
Thanh Hóa
Loại C
2013-2014
- 18 -