SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG THCS&THPT HÀ TRUNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG CÔNG TÁC
CHỦ NHIỆM LỚP 8 Ở TRƯỜNG THCS&THPT HÀ TRUNG
Lĩnh vực/ Môn: QUẢN LÝ
Tên tác giả: NGUYỄN THỊ KIM CHIỂU
GV môn: TIẾNG ANH
Phú Vang, tháng 03 năm 2015
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lý do chọn đề tài:
Đối với học sinh(HS) lớp 8, lứa tuổi mà ở đó đặc điểm tâm sinh lí đang phát triển, trí
tuệ biến đổi cả về chất và lượng nhưng lại rất dễ thay đổi tính nết, dễ xa ngã và bị lôi kéo,
lứa tuổi đang và muốn tự khẳng định mình trước mọi người. Để làm tốt công tác chủ nhiệm
(CTCN) trước hết tất cả giáo viên chủ nhiệm (GVCN) phải nắm rõ nhiệm vụ của mình
trong điều lệ trường học, cụ thể: “Ngoài các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 của Điều 31
Chương IV, Giáo viên chủ nhiệm còn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp
giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với hoàn cảnh và điều kiện
thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng học sinh;
b) Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng;
c) Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan
cùng nhau tháo gỡ khó khăn, chia sẻ kinh nghiệm và tìm ra các giải pháp hay trong CTCN
lớp.
Xuất phát từ những lí do trên bản thân tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp góp phần
nâng cao hiệu quả trong CTCN lớp 8 ở trường THCS&THPT Hà Trung”. Trên cơ sở
nghiên cứu lý luận và thực trạng vai trò, nhiệm vụ của GVCN để đề ra những biện pháp hợp
lý nhằm nâng cao hiệu quả trong CTCN lớp 8 ở trường THCS&THPT Hà Trung qua đó góp
phần cùng với nhà trường và toàn ngành nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các em
HS đáp ứng yêu cầu chung của xã hội.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
HS lớp 8 trường THCS&THPT Hà Trung – Phú Vang – Thừa Thiên Huế
2.2. Phạm vi nghiên cứu:
HS lớp 8; gia đình HS; đồng nghiệp giảng dạy lớp 8 trường THCS&THPT Hà Trung –
Phú Vang – Thừa Thiên Huế.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp điều tra:
Điều tra hồ sơ lớp 7; Trò chuyện, trao đổi với HS, với giáo viên bộ môn (GVBM), với
phụ huynh học sinh (PHHS), bạn của các em; Lập mẫu sơ yếu lý lịch để HS tự điền theo mẫu.
Thông qua phương pháp này GVCN nắm rõ hơn tâm lý, tính cách của từng HS, rõ về
học tập của từng em để tham mưu cho các GVBM, phối hợp với PHHS được tốt hơn.
3.2. Phương pháp phân tích số liệu:
Kết quả cụ thể qua 2 năm sẽ có sự thay đổi GVCN sẽ tìm ra mặt tích cực và hạn chế
3
để có giải pháp phù hợp hơn.
3.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tham khảo những báo cáo tổng kết hàng năm của nhà trường; kinh nghiệm GV
trường mình; kinh nghiệm của chính bản thân qua các năm làm CTCN.
phụ thuộc không nhỏ vào khả năng phối hợp và phát huy tiềm năng của các LLGD ngoài nhà
trường (gia đình, các đoàn thể xã hội, cộng đồng, dân cư …) về mọi mặt nhằm thực hiện nội
dung GD đối với lớp CN. Dựa vào đặc điểm, điều kiện của nhà trường, gia đình HS mà
GVCN tổ chức phối hợp các LLGD trên.
GVCN không chỉ biết cách phối hợp tốt với gia đình HS mà còn là người tổ chức bồi
dưỡng nhận thức lý luận GD cho các bậc cha mẹ khi cần thiết.
2. Thực trạng của vấn đề:
5
Năm học: 2014 - 2015 trường THCS&THPT Hà Trung – Vinh Hà – Phú Vang hiện
nay vẫn đang là trường có 2 cấp học với 36 lớp/1.192 HS trong đó bậc THCS có 19 lớp/ 657
HS (Riêng khối lớp 8 có: 05 lớp/164 HS)
2.1. Thuận lợi:
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội đã mang lại không ít những
thuận lợi cho CTCN trong nhà trường. Cơ sở vật chất, trang thiết bị GD của nhà trường ngày
một khang trang, đầy đủ, đảm bảo cho việc dạy và học, sự phát triển như vũ bão của khoa học
công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin đã hỗ trợ cho GV và phụ huynh trong việc liên lạc,
trao đổi, nắm bắt nhanh những thông tin cần thiết trong việc phối kết hợp GD; đồng thời hỗ
trợ tích cực cho hoạt động dạy của GV trong những giờ lên lớp, trong những hoạt động tập
thể khiến HS thấy hứng thú hơn.
Đa số GVCN bậc THCS là GV công tác lâu năm nên có nhiều kinh nghiệm CN lớp.
Phần lớn HS ngoan ngoãn, biết vâng lời thầy cô giáo nên đây cũng chính là một phần
động lực thúc đẩy những GV được phân công làm CTCN.
2.2. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, CTCN lớp còn gặp không ít những khó khăn, thách
thức: CTCN chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân, cộng với trao đổi học hỏi đồng
nghiệp trong và ngoài nhà trường. Bên cạnh đó, số tiết dành cho GVCN còn quá ít (chỉ 4
tiết/tuần) chưa tương xứng yêu cầu công việc, dẫn đến nhiều GV không có đủ thời gian để
130
630 249 193 188
122
571 199 186 186
-8
-59 -50
-7
-2
so với đầu năm
6
Trường có 03 điểm trường, nhiều học sinh ở cách xa trường và hầu hết HS thuộc khu
vực đầm phá của huyện Phú Vang nên vấn đề đi lại của các em gặp nhiều trở ngại, nhất là về
mùa mưa.
Kinh tế địa phương còn nhiều khó khăn, thuộc diện “Xã bãi ngang” nên vấn đề huy
động nguồn đóng góp từ phía phụ huynh là rất khó; phòng thực hành bộ môn không có nên
ảnh hưởng đến vấn đề học tập của HS.
Nhiều gia đình do quá bận rộn với công việc nên thời gian dành cho việc GD con cái
không nhiều, gần như phó mặc cho nhà trường và xã hội. Nhiều phụ huynh chỉ gặp gỡ trao
đổi với GVCN trong buổi họp phụ huynh trong một năm học (Thậm chí một số PHHS không
đi họp để nắm tình hình học tập của con em trong cả năm học). Còn chủ yếu là trao đổi qua
điện thoại trong những trường hợp cần thiết. HS thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm của
gia đình, dễ bị kẻ xấu lôi cuốn sa ngã. Một số em do được chiều chuộng và chăm sóc quá chu
đáo nên nảy sinh tính ích kỉ, ương bướng, khó bảo…
2.3. Nguyên nhân:
2.3.1. Nguyên nhân khách quan:
Do điều kiện kinh tế của địa phương còn gặp nhiều khó khăn nên ảnh hưởng đến nhiều
của HS, nhận xét của GVCN cũ. Đây là tài liệu đáng tin cậy ban đầu giúp tôi nhận biết và
phân loại HS.
- Tiến hành tìm hiểu HS thông qua quan sát: Quan sát HS hằng ngày trong các hoạt
động trên lớp, thường xuyên trao đối với giáo viên bộ môn để biết hành vi thái độ HS. Đây là
tài liệu sống, qua đó tôi cố gắng tìm ra những nét cá tính nhất của từng em. Tôi quan sát lớp
CN cả trong giờ ra chơi xem em nào nghịch thái quá, em nào từ tốn, hiền lành, có khi trên
đường vào dạy lớp khác tôi cũng ngang qua lớp CN. Nếu thấy những sai phạm của HS thì
phải nhắc nhở ngay.
- Có thể tiến hành những thử nghiệm tìm hiểu HS. Đây là cách làm giúp cho người
GVCN có thể thu thập thông tin về một hay nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ. Những thử nghiệm
này là những bài tập tình huống đã được xây dựng về một vấn đề nào đó để HS có dịp bộc lộ
mình. Chẳng hạn có thể đưa ra tình huống: Cô đang rất cần một số em chiều nay tham gia
trang trí lại lớp học cho đẹp mắt hơn; hoặc cho học sinh trả lời nhanh vào phiếu in sẵn một số
câu hỏi về vấn đề định tìm hiểu (ví dụ: tìm hiểu về thái độ của học sinh đối với cha mẹ và anh
chị em trong gia đình bằng những câu hỏi đơn giản),... Những thử nghiệm nhỏ này có thể áp
dụng linh hoạt sao cho phù hợp với HS. Kết quả thử nghiệm sẽ giúp GVCN lớp có thể nắm
bắt được thêm những thông tin mới, bổ sung cho những nhận định của mình về HS.
3.2. Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp:
8
Trên cơ sở nắm được mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường trong năm học, đặc điểm tình
hình lớp, địa phương, cơ sở vật chất của nhà trường, GVCN tiến hành xây dựng kế hoạch GD
đạt kết quả cao cần phải có kế hoạch khoa học, phù hợp với tình hình của lớp.
Trong kế hoạch GD phải xác định rõ ràng mục đích, chỉ tiêu phấn đấu và các biện
pháp chính. Đặc biệt chú trọng chiến lược phối hợp giữa các LLGD khác để đạt mục đích đề
ra, cần có phương hướng phát triển lớp, sự thực hiện tuần tự, hợp lí nhằm đi đến mục đích. Kế
hoạch phải phát huy được mặt mạnh, khắc phục được hạn chế của lớp. Biện pháp thực hiện
cần thể hiện tính phong phú, đa dạng. Tuy nhiên các biện pháp đề ra trong kế hoạch chỉ là
+ Đạo đức loại khá trở lên đạt 100% (trong đó tốt 60%).
+ Học lực đạt trung bình trở lên: 90% (trong đó: khá, giỏi: 25%).
+ Đạt lớp tiên tiến xuất sắc, Chi đội vững mạnh.
+ Hoàn thành và tham gia đầy đủ, đạt kết quả xuất sắc trong tất cả các hoạt động được
giao.
Với việc lập kế hoạch cho CTCN như trong năm học qua, lớp tôi CN đã hoàn thành
tốt, đúng thời gian quy định và đạt được nhiều thành tích cao (Tham gia đầy đủ các phong
trào, hoạt động do nhà trường và Liên đội triển khai; luôn xếp vào nhóm đầu trong phong trào
thi đua về nề nếp và học tập hàng tháng, học kỳ và năm học).
3.3. Phát huy tính tự giác, khả năng tự quản của HS
Công việc này yêu cầu GVCN phải thường xuyên đến lớp vào đầu buổi học, giữa các
tiết và cuối buổi học. Để rèn cho HS tính tổ chức kỷ luật, phải giúp các em nhận thức đúng
vấn đề, trên cơ sở đó các em sẽ thực hiện một cách tự giác. Xây dựng dựng đội ngũ tự quản là
nền tảng cho CTCN và cũng là một việc làm quan trọng và khó khăn đối với GVCN. Đầu tiên
GVCN cần xác định được tiêu chuẩn của cán bộ lớp:
+ Có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, có khả năng gương mẫu.
+ Tính tình thẳng thắn, giám đấu tranh, giám phê bình.
+ Năng nổ hoạt động và sẵn sàng hoạt động.
+ Có khả năng học tập tốt: Từ khá trở lên.
+ Được tập thể lớp tín nhiệm.
+ Có hoàn cảnh gia đình thuận lợi.
Để xây dựng đội ngũ cán bộ lớp tốt cần tìm hiểu thông qua GVCN cũ, bạn bè trong
lớp, quan sát sự hoạt động của các em khi ra chơi hoặc giao một số công việc. Khi đã tìm
được đội ngũ cán bộ lớp, GVCN cần bồi dưỡng cho các em có ý thức trách nhiệm cao đối với
lớp, phục vụ tập thể lớp, biết phê bình và tự phê bình. Bồi dưỡng cho các em có phương pháp
quản lý lớp. Khi xây dựng đội ngũ tự quản cần xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ từng năm học
và tính chất phát triển của tập thể HS. Nhiều GVCN chỉ căn cứ vào một số tiêu chuẩn cán bộ
10
+ Giáo viên chủ nhiệm phải tìm hiểu lý lịch, tính cách HS, tìm hiểu điểm yếu của HS.
+ Kết hợp với GV bộ môn, nhà trường, gia đình.
11
+ GVCN không được nóng vội, uốn nắn dần khi đưa ra tập thể lớp không nói nhiều,
khi gặp riêng không được chì trích mà nhẹ nhàng tâm sự và phân tích.
+ Giao cho HS cá biệt một số việc và sau đó phải động viên khuyến khích kịp thời
những việc em làm tốt.
+ Lập kế hoạch cho cán sự lớp để thành lập các đôi bạn cùng tiến.
+ Luôn thông báo kịp thời các thông tin về HS với gia đình và ngược lại.
Như vậy đối với những HS ngoan, có ý thức thì chỉ cần nhắc nhở chung. Nhưng đối
với những HS có cá tính, có hoàn cảnh khó khăn thì lại phải vừa nghiêm khắc khi xử lý
những sai phạm của các em, vừa phải tình cảm, động viên, thậm chí phải dỗ dành. GD những
HS cá biệt điều quan trọng là phải tạo được mối quan hệ gần gũi, cảm thông giữa thầy và trò.
Muốn vậy GVCN không chỉ đứng ở cương vị người thầy mà phải biết nhập vai, biết lắng
nghe các em nói, tìm hiểu tâm tư của các em, tạo cho các em có cảm giác mình được chia sẻ,
cảm thông, được giúp đỡ thì các em sẽ tự giác sửa chữa khuyết điểm, tự giác phấn đấu hơn.
Có những HS khi mắc khuyết điểm đã nói với bạn bè rằng: không sợ bị kỷ luật, bị phạt mà
chỉ sợ làm ảnh hưởng đến thành tích thi đua của lớp, sợ làm cô giáo buồn…
Có em học sinh đầu năm học thường xuyên đi học muộn, nhiều hôm không vào được
trường lại ra quán Internet. Tôi đã sắp xếp thời gian đến thăm gia đình HS này, mới hay em ở
với ông bà ngoại (cha mẹ ly hôn, cha có vợ khác…). Vì ít được quan tâm nên em cũng sao
nhãng chuyện học hành. Được cô giáo đến thăm nhà, động viên nên em tiến bộ rất nhanh,
chấm dứt hiện tượng đi học muộn và tham gia rất tích cực vào các hoạt động của lớp.
Qua những trường hợp cụ thể vừa nêu, tôi thấy việc sắp xếp thời gian đến thăm gia
đình HS (đặc biệt là những HS cá biệt) cũng đem lại nhiều hiệu quả trong CTCN.
Ngoài ra, để tạo không khí cởi mở trong tập thể lớp và cũng là để giúp cho mình hiểu
HS hơn tôi thường động viên các em ghi nhật ký lớp hằng ngày. Thi thoảng tôi lại cho HS
kĩ năng sống nhất thiết phải vươn tới chân lý tốt đẹp: nhân ái, vị tha, bản lĩnh tự tin, khiêm
tốn, văn minh lịch sự, dám nghĩ dám làm, hoà đồng và tôn trọng người khác. Thực tiễn ngày
nay cho thấy đôi khi kiến thức uyên bác, học vị cao lại không làm nên sự thành đạt của con
người bằng chính kĩ năng sống của họ. Cuộc sống ngày càng phát triển, đất nước đang hội
nhập với thế giới, cơ hội có được vị trí trong xã hội và khẳng định bản thân của người lao
động đang rộng mở, nhưng số lượng người thất nghiệp vẫn không ngừng gia tăng. Một trong
những nguyên nhân quan trọng là do họ chưa được trang bị những kĩ năng sống cơ bản của
một người lao động. Chính vì vậy, kĩ năng sống cần được mỗi người chúng ta rèn luyện ngay
từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Trong bốn vấn đề cơ bản của giáo dục được Unesco nêu
ra là “học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để cùng chung sống” đã có ba nội
dung hàm chứa các yêu cầu kĩ năng sống. Điều này càng khẳng định hơn nữa tầm quan trọng
và cần thiết của nhà trường trong việc giáo dục kĩ năng sống cho HS. Đành rằng hình thành kĩ
13
năng sống phải qua cả trường học và trường đời nhưng trường học vẫn giữ vị trí nền móng vì
hầu hết mọi người đều được đi học, và nội dung học ở trường phổ thông gồm nhiều lĩnh vực
tự nhiên, xã hội cùng nhiều bài học về lối sống tốt đẹp của những bậc tiền nhân mà HS cần
học tập noi theo.
Có thể tiến hành GD kĩ năng sống cho HS lớp CN bằng các hình thức như:
+ Tổ chức các hoạt động tập thể, ngoại khoá để các em được tham gia vào hoạt động
thực tiễn của cuộc sống, tạo cơ hội bộc lộ chân thật những suy nghĩ, tình cảm, hành vi trong
công việc, chia sẻ những khó khăn và niềm vui cũng như hoàn thiện dần dần các kĩ năng thực
hành một cách tự nhiên.
+ Trong mỗi tiết dạy, ngoài yêu cầu về kiến thức thì yêu cầu về kĩ năng và thái độ luôn
được đặt ra và đó cũng chính là yêu cầu về giáo dục kĩ năng sống. Do vậy, trong các giờ lên
lớp tôi đều có sự liên hệ với thực tế cuộc sống của học sinh ở cả hai mặt tích cực và hạn chế.
Tuỳ theo bài học mà hình thành những kĩ năng tích hợp cho học sinh như kĩ năng đặt câu hỏi
và trả lời, kĩ năng trình bày, kĩ năng phân tích tổng hợp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng xử lý
để phối hợp và phổ biến kịp thời đến HS. Thường xuyên động viên, đôn đốc nhắc nhở các em
tham gia tốt các hoạt đông đoàn thể, phong trào thi đua do đoàn thể phát động. Trên cơ sở đó,
lớp lại đề ra các hình thức thi đua giữa các tổ, nhóm và các cá nhân. Kết thúc mỗi đợt thi đua
lại chọn ra những tập thể (tổ, nhóm) và các cá nhân xuất sắc để biểu dương khen thưởng. Để
tạo hứng thú cho HS trong việc xây dựng bài học ở trên lớp, tôi gợi ý các em tính điểm thi
đua cho mỗi lượt phát biểu. Kết quả nhiều giờ học diễn ra sôi nổi và có chất lượng, GV dạy
rất phấn khởi.
3.8. Phối hợp các lực lượng giáo dục khác:
- Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường: GVCN là cầu nối giữa hiệu trưởng với HS,
truyền đạt chủ trương chính sách của ngành, nội quy của nhà trường đến học sinh không phải
bằng mệnh lệnh mà bằng sự thuyết phục cảm hoá, gương mẫu của bản thân mình. Bên cạnh
đó GVCN phát hiện kịp thời các hành vi xấu của học sinh, đề nghị nhà trường xét kỷ luật
nghiêm khắc nhằm ngăn chặn hành vi xấu khác có thể xẩy ra tiếp.
- Phối hợp với GV bộ môn: Biết lắng nghe những nhận xét của GV bộ môn thậm chí là
những phê phán cá nhân, tập thể lớp mình sau đó chọn lọc, phân tích thông tin để phối hợp
tác động giáo dục cùng chiều, khắc phục khó khăn, vướng mắc của HS trong quá trình học
tập, đề đạt nguyện vọng của HS với GV bộ môn để nâng cao chất lượng giáo dục. Phối hợp
với các GV khác để dạy học có hiệu quả ở lớp CN. Đề xuất các ý kiến của tập thể HS về công
tác dạy và học với GV có liên quan từ đó đưa ra biện pháp GD. Đối với tập thể lớp thì các em
luôn chuẩn bị bài cũ ở nhà, làm bài tập về nhà đầy đủ, hăng hái phát biểu ý kiến. Cuối năm đã
đạt được kết quả cao về học tập và rèn luyện.
- Phối hợp với cha mẹ HS.
15
GVCN và cha mẹ HS phải thống nhất được phương hướng phấn đấu của lớp đặt trong
kế hoạch chung của nhà trường, đặc biệt là thống nhất được các biện pháp thực hiện. Đây là
điều kiện đầu tiên để GVCN có được sự ủng hộ của phụ huynh trong công tác tổ chức lớp
học. Trong thực tế biện pháp này tôi và nhiều GV đã làm và có hiệu quả: HS tiến bộ và phụ
số học
Hạnh kiểm
Tốt
Khá
TB
Yếu
sinh
SL %
SL
% SL % SL %
35
21 60
10 28.6 4 11.4 0
0
- Năm học: 2014 – 2015 (Học kỳ 1):
số học
sinh
30
Tốt
SL %
19 63,3
Hạnh kiểm
Khá
TB
Yếu
08 26.7 13 43.3 5 16.6
Tình trạng HS bỏ học lớp 8/4:
- Năm học; 2013-2014: Bỏ học 5 HS so với đầu năm
- Năm học: 2014 – 2015: Không có tình trạng HS bỏ học
III. KẾT LUẬN:
17
Nhìn chung biện pháp để làm tốt CTCN thì nhiều, tuỳ theo đặc điểm tình hình của mỗi
lớp, GVCN có thể tìm cho mình những biện pháp thích hợp, không nên áp dụng rập khuôn
máy móc bất kỳ một phương pháp tiên tiến nào bởi lẽ sản phẩm đây chính là “con người.”
Tuy nhiên điều cơ bản nhất là GVCN phải tạo được uy tín với HS và đồng nghiệp về năng lực
chuyên môn và tư cách đạo đức, tác phong công việc. Chỉ có thể trở thành GVCN tốt khi thực
sự là một tấm gương mẫu mực trong cuộc sống, giải quyết tốt các mối quan hệ không chỉ đối
với HS lớp CN mà còn với gia đình, đồng nghiệp, với mọi người ở nơi cư trú. Có thể thấy
mọi cử chỉ, cách ăn mặc, nói năng, đi đứng, thái độ biểu hiện của GVCN đối với mọi hiện
tượng xã hội lúc có mặt HS hay không có mặt HS đều có ảnh hưởng đến nhân cách HS lớp
CN.
Xây dựng tập thể lớp vững mạnh là hết sức phong phú và phức tạp. Đòi hỏi ngoài
những phẩm chất và năng lực của mọi GV bình thường khác, GVCN lớp còn phải có lòng
nhiệt tình, yêu nghề, yêu trẻ sâu sắc, chấp nhận gian khó và rèn luyện năng lực hoạt động xã
hội, đoàn thể, chính trị,... để làm tốt CTCN của mình.
Trong công tác này GVCN không nên nóng vội, áp đặt, mà cần có lòng kiên nhẫn, có
nghệ thuật giao tiếp với HS, luôn đặt quyền lợi của HS lên trên hết, giành nhiều thời gian và
tâm huyết thì khi đó CTCN sẽ không còn khó khăn phức tạp mà sẽ là niềm vui cho mỗi GV
khi đến trường.