I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Lịch sử là một môn khoa học có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục
phổ thông. Giáo viên giảng dạy Lịch sử cần có phương pháp hợp lí nhằm giúp
học sinh tiếp thu một cách tốt nhất các kiến thức lịch sử. Trong thời đại ngày
nay, khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ nhanh, thông tin ngày càng nhiều.
Để theo kịp sự phát triển của xã hội và cung cấp cho học sinh những kiến thức
mới nhất, đầy đủ nhất trong một thời gian có hạn, việc đổi mới phương pháp dạy
học luôn là vấn đề bức xúc được nhiều người quan tâm.
Việc cập nhật thông tin và đổi mới luôn đặt lên hàng đầu, trong tình hình
đó việc giảng dạy bộ môn Lịch sử cần phải đổi mới, cần phải có định hướng
chung để học sinh tiếp xúc với nhiều tri thức, nhiều thông tin và rèn luyện kỹ
năng làm bài, kỹ năng thực hành. Như chúng ta biết lịch sử là một trong những
nội dung vô cùng quan trọng thuộc kiến thức xã hội. Việc nhận thức lịch sử vừa
phải tuân thủ quy luật nói chung, nhưng đồng thời còn có nét đặc thù riêng. Học
sinh không thể trực tiếp lĩnh hội các sự kiện lịch sử, vì lịch sử là cái đã qua
không lặp lại nguyên xi, không thể dựng lại hoàn toàn hay thí nghiệm như khoa
học tự nhiên. Vì lẽ đó dạy học lịch sử trước hết là một quá trình truyền thông tin,
thu nhận và xử lý thông tin giữa giáo viên và học sinh qua các phương tiện dạy
học. Thông tin về sự kiện lịch sử càng chính xác, chân thật, phong phú thì càng
có khả năng nhận thức sự vật, hiện tượng chính xác và chân thật hơn .
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển, trước tác động ngày
càng mạnh của xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn trở ngại
do chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo còn thấp hơn so với yêu cầu. Và
hơn thế nữa, khi hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thì cũng kéo theo đó có nhiều
nền văn hóa du nhập vào nước ta, bản lĩnh dân tộc đang bị lung lay khi bản sắc
dân tộc có thể bị mất đi. Khi chính những con người Việt Nam lại quên đi
nguồn gốc, lịch sử dân tộc. Vì điều này, những năm gần đây số học sinh đăng kí
thi vào đại học môn lịch sử quá thấp đã đặt ra cho chúng ta một vấn đề: Vì sao
lại như vậy?
1
pháp kể chuyện nhân vật lịch sử trong dạy học.
2
3. Phạm vi áp dụng của đề tài:
Đề tài có thể áp dụng cho tất cả các giáo viên dạy môn Lịch sử bậc THCS.
Với các nhóm bài: Giới thiệu chân dung nhân vật lịch sử, thuyết trình sự kiện ...
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Thực trạng:
Đổi mới dạy học nói chung và đổi mới dạy học lịch sử nói riêng là một quá
trình được thực hiện thường xuyên và kiên trì, trong đó có nhiều yếu tố quan hệ
chặt chẽ với nhau.
Công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đang được tiến hành đồng bộ và
thu được những kết quả đáng kể. Tuy vậy xã hội vẫn không khỏi băn khoăn về
việc học sinh đăng kí thi tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng môn Lịch
sử quá thấp.
Vậy, làm thế nào để học sinh cảm thấy hứng thú, yêu thích, say mê với môn
học là một vấn đề đáng trăn trở đối với giáo viên dạy Lịch sử.
Kết quả điều tra đầu năm học đối với khối 6, 7, 9:
Lớp
SLHS
6
7
9
94
88
79
là rất cần thiết. Mỗi phương pháp có một công năng khả thi khác nhau: Phương
pháp trực quan góp phần quan trọng tạo biểu tượng giúp cụ thể hóa các sự kiện
và khắc phục tình trạng hiện đại hóa Lịch sử của học sinh. Phương pháp “kể
chuyện nhân vật trong dạy học lịch sử” cũng là phương pháp góp phần kích
thích hứng thú tự chiếm lĩnh tri thức của các em. Vận dụng linh hoạt các phương
pháp trong các tiết dạy sẽ giúp học sinh tiếp nhận kiến thức bài học dễ dàng và
chắc chắn hơn.
2. Giải pháp.
Do đặc thù của môn học: các sự kiện lịch sử là những vấn đề thuộc về thời
đã qua, nên người học không trực tiếp quan sát được. Vậy nên phương pháp trực
quan góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các
sự kiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Trong bài viết này tôi không trình bày lại phương pháp sử dụng đồ dùng
trực quan trong dạy học lịch sử nói chung mà chủ yếu đề xuất một số biện pháp
sử dụng nhằm phát huy tính tích cực hoạt động độc lập của học sinh, đồng thời
phát huy sự chủ động tích cực hơn nữa cho học sinh bằng việc kết hợp với
những câu chuyện lịch sử bổ ích, hấp dẫn.
4
Để đáp ứng yêu cầu này cũng như khắc phục tình trạng trước đây chúng ta
cần phải biết kết hợp hài hoà giữa lời dạy và hình ảnh cụ thể qua đồ dùng trực
quan. Tuy nhiên đối với mỗi đồ dùng chúng ta có những phương pháp sử dụng
riêng phù hợp với nội dung từng loại bài.
2. 1. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.
2.1.1. Sử dụng hình vẽ, tranh ảnh trong SGK:
Tranh ảnh trong sách giáo khoa là một phương tiện trực quan tạo hình có
tác dụng rất lớn trong dạy học lịch sử, nó cung cấp cho học sinh hình ảnh về quá
khứ một cách cụ thể, sinh động và khá xác thực.
dụng để giảng dạy nhằm tăng cường, cụ thể hóa về hình ảnh cũng như đặc điểm
tính cách tài đức của các nhân vật lịch sử. Khi sử dụng giáo viên không nên
miêu tả quá nhiều về hình dáng bên ngoài của nhân vật mà chủ yếu là làm nổi
bật những nét tính cách, tài đức, lập trường, quan điểm và nội tâm của nhân vật
để cho học sinh hiểu nhân vật một cách trọn vẹn, sâu sắc.
6
Chẳng hạn như khi dạy về “Luận cương Chính trị năm 1930”, học sinh
không thể không biết đến Trần Phú - Tổng bí thư đầu tiên của Đảng - người
cộng sản trung kiên đã khởi thảo ra bản Luận cương của Đảng. Để học sinh hiểu
rõ về Trần Phú, giáo viên không thể không cho các em xem bức chân dung của
ông (hình 31)
7
mà còn phải tìm đọc tiểu sử của Trần Phú để nêu thêm những nét tiêu biểu nhằm
giúp học sinh có ấn tượng sâu sắc về nhà cách mạng trẻ tuổi này. Giáo viên có
thể dựa vào bản tư liệu sau: “Trần Phú sinh ngày 1/5/1904 tại Quảng Ngãi
(nguyên quán ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ngay từ thuở thơ ấu Trần Phú
đã sống trong cảnh cực khổ, vì cha mẹ mất sớm. Anh em Trần Phú phải về
Quảng Trị nương tựa họ hàng. Sau này Trần Phú vào học ở trường Quốc học
Huế. Năm 1925, tham gia hội Phục Việt rồi gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng.
Tháng 8 – 1926, ông sang Trung Quốc liên lạc với Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên và trở thành hội viên của tổ chức này. Đầu năm 1927, ông được cử
sang học tại trường Đại học Phương Đông Mát - xcơ - va. Đầu năm 1930, ông
về nước hoạt động và được cử vào Ban chấp hành Trung ương lâm thời. Thời
gian này, Trần Phú sống trong căn hầm của ngôi nhà 90 phố Thợ Nhuộm, Hà
tụ thiên tài của nhân dân Cu- ba - Một người bạn chí tình của nhân dân Việt
Nam với câu nói nổi tiếng: “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu
của mình”.
2.1.3 . Phương pháp sử dụng bản đồ, niên biểu.
Bản đồ, sơ đồ, niên biểu, là những đồ dùng trực quan quy ước không thể
thiếu được trong dạy học lịch sử. Nhờ có bản đồ lịch sử mà học sinh có biểu
tượng đúng đắn về hình ảnh địa lý, địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử. Chúng ta đều
biết rằng mỗi một sự kiện lịch sử bao giờ cũng gắn liền với một không gian và
thời gian nhất định. Tách sự kiện khỏi không gian và thời gian chúng ta sẽ
không hiểu được nội dung ý nghĩa của sự kiện đó. Nắm được địa điểm xảy ra sự
kiện lịch sử sẽ không phải chỉ là biết tên địa điểm xảy ra sự kiện mà quan trọng
hơn gắn liền với mỗi địa danh đó là các yếu tố, địa hình phạm vi không gian
cũng như đặc điểm điều kiện tự nhiên của địa điểm đó. Trong khi sử dụng bản
đồ giáo viên luôn chú ý đến sự thu nhận của học sinh, giúp học sinh phân tích
nêu kết luận khái quát về sự kiện được phản ánh trên bản đồ chứ không nên cho
học sinh tiếp thu một cách thụ động.
9
Giáo viên sử dụng bản đồ của trường, nếu không có thì giáo viên tự vẽ hoặc
cho học sinh vẽ. Tác dụng của việc sử dụng bản đồ này là nhằm cụ thể hóa kiến
thức giúp học sinh. Ví dụ khi dạy bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp kết thúc (1953-1954), giáo viên cho học sinh khai thác hình 53:
Lược đồ hình chiến trường trong Đông - Xuân 1953 –1954.
Để khai thác lược đồ trên, trước hết giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc
ghi chú, trong đó đặc biệt chú ý đến hướng tấn công của Pháp, hướng tấn công
của ta, hướng tấn công của quân giải phóng Lào và Bộ đội tình nguyện Việt
Nam. Sau đó giáo viên chỉ rõ cho học sinh các hướng tấn công của quân Pháp ở
Bắc Kì và duyên hải Nam Trung Bộ. Hướng tấn công của ta và Liên quân Lào
Liên quân Lào – Việt tấn công địch ở Thượng Lào
Tháng 2/1954
Quân ta tấn công địch ở Bắc Tây Nguyên
11
Như vậy với việc sử dụng bản đồ, sơ đồ niên biểu, trong quá trình giảng
dạy làm cho tiết học trở nên sôi nổi gây được sự chú ý tập trung của học sinh,
phát huy khả năng độc lập tư duy. Cũng như việc khái quát tổng kết kiến thức
lịch sử của học sinh. Với giờ dạy sử dụng đồ dùng trực quan chất lượng cao hơn
nhiều so với giờ dạy “chay”. Chính vì lẽ đó trong các giờ dạy lịch sử giáo viên
nên tích cực sử dụng đồ dùng trực quan này.
2.2. Phim ảnh, âm thanh
Ngày nay công nghệ thông tin đã đạt được những bước tiến vượt bậc và có
tác động lớn đến giáo dục đặc biệt là môn Lịch sử. Các nhà làm phim tái hiện lại
hình ảnh lịch sử một thời trong quá khứ. Những nhân vật lịch sử, những sự vật
hiện tượng, những sự kiện đã qua nhằm giúp học sinh nắm bắt lịch sử một cách
chính xác dễ nhận biết, dễ nhớ làm tăng hiệu quả học tập, lôi cuốn học sinh tham
gia tích cực vào bài giảng. Mặt khác, có những đoạn phim lịch sử tái hiện lại bối
cảnh có thật. Khi cho học sinh xem những thước phim này sẽ đạt hiệu quả cao
trong quá trình giảng dạy. Với việc sử dụng phim tài liệu vào dạy học lịch sử
giúp học sinh dễ nhận biết dễ nhớ các sự vật hiện tượng, các sự kiện làm tăng
thêm hiệu quả học tập. Ông bà ta đã từng nói “Trăm nghe không bằng một
thấy”, tập trung được sự chú ý của học sinh vào đối tượng lôi cuốn học sinh
tham gia tích cực vào bài học làm cho lớp học năng động, không buồn tẻ, tăng
hiệu quả dạy học. Giúp học sinh dễ dàng hiểu được vấn đề, nắm bắt chính xác
Biên giới Thu - Đông năm 1950”. Khi trình bày diễn biến về trận Đông Khê (16
- 18/9/1950), giáo viên lồng ghép kể chuyện nhân vật lịch sử: anh hùng La Văn
Cầu.
13
Anh hùng La Văn Cầu sinh năm 1932 trong một gia đình nghèo, dân tộc
Tày, tỉnh Cao Bằng. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh,
được nhiều cán bộ tuyên truyền giác ngộ, nên hăng hái tham gia vào công cuộc
kháng chiến ở quê hương. Với khát khao được cầm súng giết giặc giải phóng đất
nước, La Văn Cầu mới 16 tuổi đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội. Một
trong những chiến công mà từ đó tên tuổi của anh đã đi vào sử sách là Trận
đánh đồn Đông Khê lần thứ hai (từ 16 - 18. 9.1950). Trong trận đánh này, anh
được phân công chỉ huy tổ bộc phá làm nhiệm vụ phá hàng rào và đánh lô cốt
đầu cầu (cửa mở trận đánh). Trong trận đánh, anh bị thương nát tay phải và đã
nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay ấy cho khỏi vướng rồi tiếp tục đánh bộc phá mở
đường cho đơn vị xung phong.
- Giáo viên có thể trích giới thiệu một phần bản tự thuật của anh La Văn
Cầu về trận đánh đồn Đông Khê lần thứ hai được ghi trong “Biên bản Đại hội
Toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu” diễn ra tại Việt Bắc từ
ngày 01 tháng 5 đến ngày 06 tháng 5 năm 1952, hiện đang được bảo quản tại
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phòng Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 467.
Tấm gương chiến đấu của anh La Văn Cầu đã cổ vũ phong trào thi đua giết
giặc lập công trong toàn quân và trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử
dụng bộc phá công đồn, một hình thức chiến thuật mới của quân đội ta mở ra từ
chiến dịch Biên Giới năm 1950. Với những chiến công của mình, anh La Văn
Cầu được tặng thưởng một Huân chương Quân công hạng Ba (năm 1950), Huân
chương Kháng chiến hạng Nhất và được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân đợt đầu (năm 1952).
15
Hay khi dạy về chiến dịch Điện Biên Phủ (Lịch sử 9) - một chiến dịch
gắn liền với thiên tài quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến dịch Điện
Biên Phủ được tính toán là phải tiêu diệt địch nhanh gọn bằng chiến lược “đánh
nhanh, thắng nhanh”. Tuy nhiên, ngày 26/01/1954 sau khi xem xét thực tế trận
địa Đại tướng trăn trở và đã có một quyết định thay đổi chiến lược từ “đánh
nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, thắng chắc”. Đại tướng biết rõ khó khăn
nhưng phải đảm bảo chiến dịch giành thắng lợi. Mặc dù tất cả đã sẵn sàng chỉ
cần chờ lệnh là xuất phát, pháo đã được kéo vào bây giờ lại phải kéo ra. Giáo
viên dừng lại để kể về anh Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo. “Tô Vĩnh
Diện xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống
dốc. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô to: “Thà hi sinh, quyết
bảo vệ pháo” và anh buông tay lái xông lên phía trước lấy thân mình chèn vào
bánh pháo”.
16
Bằng ngôn ngữ của mình cùng với những hình ảnh minh chứng sống động
giáo viên đã đưa các em sống lại một thời chiến tranh ác liệt đầy gian khổ nhưng
rất hào hùng và oanh liệt của dân tộc. Gương hy sinh cao cả của anh hùng Tô
Vĩnh Diện giúp các em thấy sức mạnh cổ vũ từ tấm gương anh dũng của anh để
toàn đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ và càng tự hào hơn về thế hệ cha ông đã
chiến đấu và hi sinh xương máu, bảo vệ nền độc lập tự do cho Tổ Quốc. Từ đó,
giáo dục thêm lòng biết ơn các anh hùng, liệt sĩ của dân tộc.
Giờ học lịch sử sẽ sinh động hơn khi biết lồng ghép những câu chuyện
ngắn kết hợp với kênh hình, những thước phim tư liệu… có ý nghĩa thiết thực
tác động đến trí nhớ, đến sự hứng thú của học sinh.
SL
%
6
94
20
21,3
74
78,7
7
88
27
30,7
61
69,3
9
Hứng thú
Không hứng thú
SL
%
SL
%
89
94,7
5
5,3
93,3
7
6,7
91.1
7
1. Ý nghĩa của đề tài.
20
Trong dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, đổi mới phương
pháp dạy học là việc làm thường xuyên của mỗi một thầy cô giáo. Nếu giáo viên
khéo léo tổ chức cho các em học tập bằng việc khắc hoạ sâu sắc hình ảnh nhân
vật lịch sử, vận dụng đồ dùng trực quan sinh động… có tác dụng rất lớn trong
việc gây hứng thú học tập cho học sinh hiện nay, đây là việc cần phải làm của
giáo viên, vì có hứng thú học tập, rung cảm thì người học nhất là học sinh trung
học cơ sở, là lứa tuổi rất nhạy cảm trong việc tìm tòi cái mới cái chưa biết và rất
cảm động khi giáo viên biết sử dụng những tư liệu giáo dục đạo đức cách mạng
cho các em ngay trong bài học lịch sử trên lớp.
Gây hứng thú học tập là chiếc cầu nối, là phương tiện để góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học tập bộ môn lịch sử hiện nay, đây là yêu cầu phải làm
thường xuyên đối với giáo viên dạy sử ở trường phổ thông. Với cách thức và
những con đường cùng một số biện pháp trên góp phần kích thích sự tò mò, gây
hứng thú, tạo niềm say mê phấn khởi trong học tập. Đồng thời người giáo viên
biết phát huy những ưu điểm, kinh nghiệm có sẵn, biết sáng tạo linh hoạt trong
quá giảng dạy trên lớp, biết khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong dạy và học,
và quan trọng hơn là đã loại bỏ kiểu dạy “thầy giảng trò nghe”, “thầy đọc trò
chép”, các phương pháp học tập tích cực mà cụ thể là: “Một số biện pháp góp
phần nâng cao chất lượng giờ học lịch sử ở trường THCS” được trình bày trên
cũng là cách thức để gây hứng thú học tập bộ môn lịch sử đối với học sinh bậc
trung học cơ sở nói riêng và ở nhà trường phổ thông nói chung.
Với sáng kiến này, hiệu quả trên hết là thái độ học tập của học sinh: các em
tham gia học tập sôi nổi hơn, tập trung hơn và thể hiện ý kiến bản thân về sự
kiện lịch sử một cách tự nhiên hơn bởi có nhiều hình ảnh sống động như thật,
nhiều hình ảnh minh họa cụ thể. Tiết dạy trở nên sinh động hơn, thu hút được sự