Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy tác phẩm truyện ngắn văn học việt nam ở trung tâm GDTX thành phố thanh hóa - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
THÀNH PHỐ THANH HOÁ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢNG DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN NGẮN VĂN HỌC
VIỆT NAM Ở TRUNG TÂM GDTX THÀNH PHỐ
THANH HOÁ

Người thực hiện: Lê Thị Liên
Chức vụ
: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc bộ môn : Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2017

1


MỤC LỤC

Trang
I. Mở đầu:
1.1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 03
1.2. Mục đích nghiên cứu....................................................................................04
1.3. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................04
1.4. Phương pháp


Văn học đến với mỗi người rất tự nhiên bởi lẽ từ khi còn nằm trong nôi ai
cũng nghe được những câu hát ru của bà của mẹ, văn học trở thành món ăn tinh
thần không thể thiếu của mỗi người dân Việt Nam.Vì vậy môn văn có chức năng
quan trọng, có vai trò đặc biệt trong giáo dục mục đích, động cơ học tập đúng
đắn cho học sinh. Dạy học môn ngữ văn là một môn khoa học có vai trò quan
trọng trong Nhà trường. Hiện nay, khi nền kinh tế phát triển yêu cầu xã hội hóa
giáo dục, tất nhiên con người có biến đổi tâm lí và đạo đức. Đạo đức chiến đấu,
hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc đang chuyển dần sang đạo đức làm
người công dân tốt, người lao động sáng tạo, đạo dức kinh doanh đạt hiệu
quả,...Tất cả cùng góp phần làm cho dân giàu nước mạnh. Như vậy, mục tiêu
bao quát và cao nhất của môn văn là góp phần hình thành và phát triển nhân
cách con người mới xã hội chủ nghĩa cho học sinh, một nhân cách cân đối cả về
trí tuệ lẫn tâm hồn, nhân văn và thẩm mỹ, có hiểu biết và có kỹ năng hành động
đáp ứng nhu cầu do thực tế cuộc sống đòi hỏi.
Dạy học ngữ văn là một môn học chú trọng nhiều đến mục tiêu hình thành
và phát triển nhân cách cho học sinh qua các tác phẩm văn học giúp học sinh
phát triển toàn diện năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo và hình thành
nhân cách con người Việt Nam XHCN, từng bước hoàn thành tư cách và trách
nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh những hành trang về đối nhân xử thế,
sống đẹp, sống có ý nghĩa để bước vào đời .Trong Sách giáo khoa Ngữ văn lớp
11 và Ngữ văn lớp 12 đã đưa vào chương trình giảng dạy một số tác phẩm văn
xuôi truyện ngắn, khai thác tác phẩm truyện ngắn như thế nào để có hiệu quả là
một việc làm cần thiết, giúp học sinh không những tiếp cận đúng mà còn tạo
hứng thú, niềm say mê cho học sinh trong mỗi tiết học. Giúp học sinh tự lĩnh
hội, chủ động tiếp thu kiến thức, rèn luyện và hình thành các kĩ năng trong quá
trình dạy - học tác phẩm văn chương trong Nhà trường.
Mỗi người thầy đều luôn muốn học hỏi nâng cao, luôn tìm cách dạy tốt
nhất truyền đạt những cái đúng, cái hay, cái đẹp, cái cần thiết đối với các em,
nhưng nhiều em không chú trọng đến việc đọc và học tác phẩm truyện ngắn văn
học Việt Nam, các em hiểu một cách hời hợt mơ hồ thậm chí còn hiểu sai lệch

truyện , Tìm hiểu các chặng đường biến đổi của nhân vật, tìm hiểu chi tiết tiêu
biểủ nhằm bộc lộ tính cách nhân vật, tìm hiểu cách trần thuật truyện, giọng điệu
tác giả ... rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
II.

Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm

2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm1
Trong số các giải pháp của “Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010”
đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng
ta xác định: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục chuyển từ việc
truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học
chủ động tư duy trong quá trình tiếp nhận tri thức. Dạy cho người học có
phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống có tư duy
phân tích tổng hợp. Từ đó phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng
cường tính chủ động, tự chủ sáng tạo của học sinh”. Như vậy, hoạt động dạy
học trong Nhà trường không phải là cung cấp kiến thức một chiều, mà nhằm
hướng dẫn cho học sinh cách học. Để đạt được hiệu quả này bản thân mỗi giáo
viên phải có trình độ chuyên môn vững vàng, năng lực cảm thụ và truyền đạt,
nghệ thuật sư phạm linh hoạt sáng tạo, tâm huyết với nghề, luôn cập nhật thông
tin mới nhất để đưa vào bài giảng phù hợp xu thế về đổi mới phương pháp dạy
học hiện nay.[1]
1

4


Theo giỏo s Lờ Bỏ Hỏn, Trn ỡnh S: Truyện ngắn l tỏc
phm t s c nh. Ni dung ca th loi truyn ngn bao trựm hu ht cỏc

V chng A Ph ó lờn ỏn khc lit thi chin tranh trong xó hụi by gi ;
Cng vỡ sc sng tim tng git gõn y ca M lm ta luụn ny sinh mt tõm lý
núng vi
* Nguyờn nhõn:
- V phớa gia ỡnh:
Gia ỡnh cú vai trũ quan trng i vi con cỏi, do thiu s quan tõm v
giỏo dc ca cỏc bc ph huynh ; cng cú nhiu gia ỡnh cú hon cnh ộo le, b
m chia tay hoc b mt, m mt,...cỏc em sao nhóng vic hc tp. Bờn cnh ú
cng cú ph huynh v hc sinh cho rng mụn vn "d" nờn khụng chỳ ý hc.
2

5


Đối với học sinh ở các trường phổ thông thì các em rất chú ý học và cả phụ
huynh nữa đều rất quan tâm, lo lắng đầu tư cho con mình còn đối với các em
học sinh của Trung Tâm GDTX Thành Phố Thanh Hóa thì nhiều phụ huynh
không biết con em mình học thế nào, có học tốt hay học kém, có được khen hay
bị vi phạm xử lí kỉ luật cũng không quan tâm thậm chí không đi họp phụ
huynh, cũng không hề gọi điện thoại cho giáo viên hỏi xem tình hình của con ra
sao.
- Về phía giáo viên
Một số chưa thu hút được học sinh, hoặc có tâm lí dạy cho đủ nghĩa vụ,
không quan tâm đến tâm lí, tình cảm của học sinh.Chưa thực sự áp dụng đổi mới
phương pháp dạy học mới, vẫn duy trì phương pháp dạy học truyền thống, dạy
học lấy thầy giáo làm trung tâm, giờ học môn ngữ văn chủ yếu là thầy giảng, trò
nghe, trò ghi chép, học thuộc lòng một cách thụ động, nên tiết học còn mang
tính dập khuôn áp đặt. Hơn nữa dạy văn là dạy một môn khoa học mang tính đặc
thù, ngoài việc tuân theo những kiến thức chuẩn, quy định của chương trình thì
sự thành công của của mỗi tiết học, bài học, còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực

vật truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách, thường
khi là hiện thân cho một trạng thái quan hệ, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn
tại của con người. Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian,
không gian, nó có chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, về con
người. Kết cấu truyện ngắn thường không nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường
được dựng theo kiểu tương phản hoặc liên tưởng ...” Như vậy để tìm hiểu khai
thác về tác phẩm văn xuôi truyện ngắn cần chú ý các yếu tố: Nhan đề tác phẩm;
cốt truyện; chi tiết tiêu biểu; lời trần thuật; tình huống truyện...[2]
Khi tìm hiểu tác phẩm văn xuôi truyện ngắn nào, chúng ta cần chú ý đến
nhan đề. Vì ở nhan đề nhà văn thường đã khái quát nội dung, chủ đề tác phẩm;
hoặc nhan đề đã bộc lộ rõ quan điểm nghệ thuật, cũng có khi nhan đề tác phẩm
còn gợi được hoàn cảnh, số phận của nhân vật chính. Đó là người đàn bà không
tên trong tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân). Nhan đề tác phẩm còn mang yếu tố
biểu tượng ca ngợi cho vẻ đẹp thiên nhiên, phẩm chất con người Tây Nguyên
trong kháng chiến chống Mĩ: kiên trung bất khuất, dũng cảm gan góc, đoàn kết
gắn bó với buôn làng sẵn sàng đứng dậy chống trả kẻ thù được thể hiện ở nhan
đề “Rừng xà nu” (Nguyên Trung Thành).
Thế nhưng, cũng có những tên truyện thì vấn đề chủ yếu của tác phẩm đã
được gợi mở qua việc xây dựng tình huống truyện éo le độc đáo giàu kịch tính.
Đặt nhân vật trong tình thế tương phản đối nghịch, đối đầu nhau trên phương
diện xã hội (viên quản ngục - quan cai ngục và Huấn Cao tên tử tù cầm đầu
cuộc khởi nghĩa chống phá triều đình). Nhưng trên phương diện nghệ thuật họ
trở thành người bạn tri kỉ tâm giao. (Huấn Cao là người sáng tạo ra cái đẹp và
viên quản ngục người say mê trân trọng cái đẹp, nghệ thuật viết chữ Hán, hay
gọi là nghệ thuật thư pháp) “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân).
Hoặc qua sự thay đổi tên truyện, người đọc dễ dàng nhận ra quan điểm
nghệ thuật tác giả khi xây dựng nhân vật trong tác phẩm “Chí Phèo” (Nam
Cao). Nam Cao viết tác phẩm “Chí Phèo” năm 1941 nguyên có tên là “Cái lò
gạch cũ” hướng chúng ta chỉ chú tâm tới hoàn cảnh và nguồn gốc xuất thân của
Chí Phèo. Năm 1941, khi in thành sách lần đầu Nhà xuất bản Đời mới, Hà Nội

Đối với những truyện ngắn có cốt truyện, diễn biến các sự kiện, tình tiết
thì nhất thiết phải yêu cầu học sinh đọc trước ở nhà, tóm tắt theo nội dung cốt
truyện hoặc tóm tắt theo nhân vật chính. Việc tóm tắt tác phẩm có thể ngắn gọn
hoặc chi tiết tùy theo yêu cầu nội dung từng tác phẩm. Khi tóm tắt tác phẩm cần
nắm vững nội dung cốt truyện phát triển theo trục thời gian nào, cốt truyện phát
triển theo trục thời gian một chiều (tuyến tính) hoặc trục thời gian đảo ngược.
Có thể thấy rõ trong truyện ngắn “Vợ chồng A phủ” (Tô Hoài). Tác phẩm đã
kể về cuộc đời cô gái Mèo - tên Mị xinh đẹp hiếu thảo, giàu lòng tự trọng ở
vùng núi cao xa xôi, nhưng vì món nợ từ đời trước: Cha mẹ Mị lấy nhau không
có tiền phải vay tiền nhà Thống lí Pá Tra, cha mẹ đã làm vất vả cả cuộc đời mà
trả không hết nợ, Mị phải lấy A Sử con trai nhà thống lí Pá Tra trừ nợ (con dâu
gạt nợ). Kể từ đó Mị làm quần quật cả ngày, cuộc sống của Mị lầm lũi như con
rùa nuôi trong xó cửa, cuộc sống của kiếp người nô lệ nghèo khổ ở vùng miền
núi Tây Bắc xa xôi. A Phủ cũng là một con người tự do khỏe mạnh vì đánh A Sử
con trai nhà thống lí Pá Tra, nên bị bắt, bị trói ở cột đánh đập, bị thống lí Pá Tra
phạt vạ 100 đồng bạc trắng. A Phủ không có tiền nên phải ở lại làm việc để trả
nợ. Để cuối thiên truyện ánh sáng cách mạng soi đường cho những con người
nghèo khổ bị áp bức trà đạp, đã cho họ niềm tin sức mạnh, Mị cởi trói cho A phủ
và cùng A Phủ chạy trốn khỏi đất Hồng Ngài đến vùng đất Phiềng Sa tham gia
hoạt động cách mạng.
Nhưng ta cũng thấy sự khác biệt trong tác phẩm “Chí Phèo” (Nam Cao),
truyện ngắn “Rừng xà nu” (NguyÔn Trung Thµnh) cả hai tác giả cùng
8


xây dựng truyện cốt truyện phát triển theo cách đảo ngược trục thời gian: Mở
đầu truyện “Chí Phèo” (Nam Cao) đã dẫn người đọc bắt gặp hình ảnh một con
người ngả nghiêng với những cơn say rượu, tiếng chửi của Chí Phèo, tiếp đó
mới kể về hoàn cảnh nguồn gốc xuất thân, quá trình trưởng thành và quá trình
tha hóa biến chất của Chí Phèo. Một con người bị tha hóa cả nhân tính lẫn hình

căm thù và khao khát chiến đấu, sắt son với cách mạng. Sự gắn bó sâu nặng giữa
tình cảm gia đình với tình yêu quê hương đất nước, giữa truyền thống gia đình
với truyền thống dân tộc, đã làm nên sức mạnh vĩ đại của con người Việt Nam
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. [7]
Như vậy mỗi tác phẩm nhà văn sẽ tạo ra sự hấp dẫn sinh động sáng tạo
riêng .biệt bằng cách xây dựng nội dung cốt truyện phát triển theo mô típ khác
nhau. Nên khi đọc- hiểu bất kỳ một tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn nào học sinh
9


càng nắm vững cốt truyện bao nhiêu, thì càng có điều kiện hiểu sâu tác phẩm
bấy nhiêu.
2.3.3. Tìm hiểu tình huống truyện
Tình huống truyện là tất cả những sự kiện, chi tiết xảy ra trong cuộc sống
của con người, nhà văn không miêu tả tất cả mà chọn lọc khi phán ánh trong tác
phẩm. Truyện ngắn “Vi hành” (Nguyễn Ái Quốc) đã xây dựng tình huống
truyện độc đáo, tình huống nhầm lẫn cùng một lúc với nhiều đối tượng: đôi
thanh niên nam nữ Pháp; nhân dân Pháp; Chính phủ Pháp nhầm lẫn nhân vật
“Tôi” (Nguyễn Ái Quốc) với “Vua An Nam” (Khải Định). Từ đó khắc họa
chân dung Khải Định từ ngoại hình đến tính cách lố lăng kệch cỡm hèn hạ, bản
chất bù nhìn, tay sai hại dân bán nước của Khải Định. Bằng sự hiểu nhầm,
Nguyễn Ái Quốc cùng một lúc vừa giễu cợt chê trách chuyến đi vi hành mờ ám
của vua Khải Định. Vừa thể hiện sự bất bình kỳ thị chủng tộc của người Pháp
cũng như tố cáo chính sách mật thám của Pháp, bản chất thâm độc của kẻ thù
thực dân Pháp đối với những nhà hoạt động cách mạng Việt nam, nhân dân Việt
Nam.
Kim Lân với tác phẩm “Vợ nhặt” đã xây dựng được một tình huống
truyện: Vừa éo le xót xa bi thảm, vừa nhân ái bao dung thấm đẫm tình người đã
tạo sức hấp dẫn cuốn hút độc giả. Đó là anh Tràng con bà cụ Tứ ở xóm ngụ cư
làm nghề kéo xe thuê vừa xấu, vừa dở hơi tự nhiên “nhặt” được “vợ” (có người

theo nhau, cha thì tưởng người làng, người tổng rượt bắt nên cố chạy thoát thân.
Con thấy cha chạy nhanh thì cố đuổi cho kịp cha, thật là một tình huống đậm
chất điện ảnh. Tình huống truyện là một trong những biện pháp nghệ thuật quan
trọng mà mỗi nhà văn bằng tài năng văn chương, vốn sống phong phú, sự quan
sát tinh tường đã tạo dựng tình huống truyện riêng biệt mang đậm phong cách
phản ánh chân thực về cuộc sống con người trong tác phẩm.
2.3.4. Tìm hiểu các chặng đường biến đổi của nhân vật
Nói đến truyện ngắn không thể không nói đến nhân vật. Có nhân vật được
xây dựng trực tiếp. Có nhân vật được xây dựng gián tiếp thông qua lời đánh giá
của nhân vật khác. Ngoài việc tìm hiểu ngoại hình, ngôn ngữ, tính cách chung
của nhân vật. Chúng ta cần phân chia các chặng đường khác nhau mà nhân vật
sống và hoạt động. Ví dụ khi phân tích “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) chúng ta
cần phân biệt rõ hai chặng đường của Mị trước và sau khi về làm dâu nhà Pá
Tra. Mị là một cô gái xinh đẹp, siêng năng chăm chỉ, có tài thổi sáo, hiếu thảo,
giàu lòng tự trọng. Mị đã trở thành con dâu gạt nợ, một người nô lệ trong bạo
quyền và thần quyền ở nhà thống lí Pá Tra: “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi ...
Suốt đêm con trai đến nhà người yêu mình, đứng thổi sáo xung quanh vách. Trai
đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị”,“Ai ở xa về có việc vào nhà thống lí Pá
Tra thường trông thấy một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa cạnh
tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy dù quay sợi gai, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay
đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi ...”.
Nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành) cũng có hai chặng
đường: Khi còn nhỏ và khi trưởng thành, những phẩm chất của Tnú khi còn nhỏ
sẽ là tiền đề cho sự phát triển về tính cách sau này của anh. Trong truyện “Chí
Phèo” (Nam Cao), nhân vật Chí Phèo có ba giai đoạn biến đổi tính cách. Từ
một đứa trẻ bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ, được anh thả ống lươn nhặt về đưa
cho bác phó cối, bà góa mù nuôi, lớn lên trở thành anh canh điền bất hạnh không
cha không mẹ, không nhà không cửa không một tấc đất, nhưng Chí Phèo là
người thật thà lương thiện, giàu lòng tự trọng có ước mơ. Sau bảy tám năm ở tù
về Chí Phèo đã trở thành con người khác hẳn, ngoại hình: du côn, du đãng, triền

Mị đã gợi ra sự đối lập với cảnh giàu sang, có quyền lực, của nhà Thống lí Pá tra
đã tạo ra sự hấp dẫn đối với độc giả gợi, ra số phận éo le bất hạnh của nhân vật.
“Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa, ở cái buồng chỗ Mị
nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng một bàn tay, lúc nào trông
ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Mị bị bóc lột về
thể xác, trói buộc về tinh thần sống lâu trong cái khổ Mị đã quen rồi. Cô chấp
nhận số phận sống một cuộc sống không còn ý niệm về thời gian, không mong
đợi, không hy vọng, sống tê liệt mọi cảm giác sống mà như chết. Hoặc chi tiết
miêu tả bức tranh phong cảnh mùa xuân miền Tây Bắc hiện ra với cảnh sắc thi
vị: “Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và
rét dữ dội. Nhưng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi
trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sở”. Hoặc chi tiết Mị cắt dây trói giải thoát
cho A Phủ, chi tiết miêu tả dòng nước mắt của A Phủ khi bị trói đứng...[7]
“Vợ nhặt” (Kim Lân) chúng ta có thể chọn chi tiết bữa ăn ngày đói của
gia đình Tràng thật thê thảm “Chè đây, bà lão múc ra một bát, chè khoán đây
ngon đáo để cơ .... Cám đấy mày ạ, hì, ngon đáo để cơ, cứ thử ăn mà xem. Xóm
ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy. Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ
vội vào miệng. Mặt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứa
trong cổ”. Chi tiết hình ảnh đoàn người rời bỏ quê hương đi cầu thực để mong

12


kiếm miếng ăn, nét mặt họ xanh xám, mệt nằm ngổn ngang khắp lều chợ, không
ánh sáng không tiếng cười gợi một cuộc sống ngắc ngoải để rồi dự báo một thế
giới cô hồn, tất cả chìm trong bóng tối. “Cái đói đã tràn đến xóm này từ lúc
nào. Những gia đình ở Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu
nhau xanh xám như bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như
ngả rạ, không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba
bốn cái thây ma nằm cong queo bên đường...”

và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê và
ngoài kia đồng ruộng mênh mang và yên lặng”.
Tác giả (Nguyễn Tuân) trong “Chữ người tử tù” đã khắc họa thật ấn
tượng chi tiết nhân vật Huấn Cao cho chữ trong nhà ngục rất đặc biệt và lạ lùng.

13


Một thú chơi tao nhã đài các tôn nghiêm linh thiêng, lại diễn ra trong nhà ngục
đen tối độc ác bẩn thỉu. Mà người đang viết chữ chỉ sáng hôm sau sẽ bị giải vào
kinh để lĩnh án tử hình.“Đêm tối hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ có tiếng mõ
vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra buồng tối chật hẹp,
ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Trong một
không khí toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu rọi lên
ba cái đầu người đang chăm chú trên một lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói
bốc toả cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa. Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng
xiềng đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người
tù viết xong một chữ viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm
đánh dấu vào ô chữ đặt trên phiến lụa óng”. Như vậy việc lựa chọn những chi
tiết đặc sắc ở mỗi tác phẩm là yêu cầu cần thiết mà giáo viên khi hướng dẫn học
sinh đọc - hiểu văn bản cần khắc sâu ghi nhớ để học sinh vận dụng trong khi viết
bài làm văn về tác phẩm văn học.[6]
2.3.6. Tìm hiểu về cách trần thuật, giọng điệu của tác giả
Ở truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao) cách kể chuyện của tác giả rất tự
nhiên, linh hoạt tạo ra giọng điệu độc đáo: kết hợp giữa đối thoại và độc thoại
(Đoạn đối thoại giữa Chí Phèo, Thị Nở; giữa Chí Phèo với Bá Kiến); kết hợp
giữa lời gián tiếp và lời nữa trực tiếp cho nên ngôn ngữ người kể chuyện và
ngôn ngữ nhân vật nhiều khi lồng ghép với nhau (tả buổi sáng đẹp trời và sự
thức tỉnh của Chí Phèo). Ngôn ngữ trong “Chí Phèo” (Nam Cao) tự nhiên,
sống động, nó gần với khẩu ngữ và mang đầy hơi thở của đời sống. Đằng sau cái

điệu trong “Hai đứa trẻ”(Thạch Lam) lại đầy chất trữ tình bộc lộ cái “tôi”
nhân hậu và giàu tình thương của tác giả. Như vậy, việc chọn lựa cách kể
chuyện như thế nào là tuy thuộc vào tài năng, năng lực quan sát con người và
cuộc sống cũng như sự hiểu biết, vốn sống của nhà khi sáng tác tác phẩm. Nên
khi đọc- hiểu tác phẩm giáo viên và học sinh phải phát hiện sự khác biệt trong
cách kể chuyện và giọng điệu của các nhà văn.
2.4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Việc áp dụng những kinh nghiệm trên vào thực tế giảng dạy học tác phẩm
văn chương trong Nhà trường. Tôi nhận thấy học sinh đã có hứng thú, tích cực
chủ động hơn, giờ học sôi nổi hơn khi bước vào giờ học. Đặc biệt khi dạy - học
tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn, giúp em bước đầu làm quen với tìm hiểu một
cách có hệ thống về: Thể loại, cách xây dựng nội dung cốt truyện, cách xây
dựng nhân vật, tạo tình huống hấp dẫn và những chi tiết đặc sắc. Qua đó thể hiện
cách đánh giá, quan điểm nghệ thuật của từng nhà văn khi phán ánh cuộc sống
và con người ở các thời đại khác nhau trong tác phẩm văn học. Từ đó các em có
điều kiện nắm chắc tác phẩm, vận dụng kiến thức đã học vào việc học, để viết
bài làm văn trên lớp về tác phẩm văn học. Mặt khác nâng cao vốn từ ngữ, giúp
các vững vàng tự tin hơn trong khi giao tiếp hàng ngày. Từ đó các em tích lũy
được vốn sống phong phú và ngày một hoàn thiện nhân cách. Đó là mục đích
mà mỗi người thầy, người cô dạy học ngữ văn hướng tới.
- Nâng cao hiệu quả học tập và giúp các em thi học sinh tỉnh đạt kết quả
cao
- Nâng cao hiệu quả học tập và giúp các em thi đậu tốt nghiệp
- Nâng cao năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh.
- Giúp các em hình thành phương pháp tự học, tự sáng tạo.
* Khi chưa áp dụng những biện pháp vào thực tế giảng dạy ở các lớp
kết quả cho thấy:
Lớp 12A Học sinh cảm
Học sinh nắm

36 bài
%
8 bài
22%

13 bài

43 %

11 bài

37 %

Học sinh nắm
vững nội dung
tác phẩm

Học sinh không
nắm vững nội
dung tác phẩm

Sốlượng Tỉ lệ
%
14 bài
39 %

Sốlượng Tỉ lệ
%
14 bài
39 %

Sốlượng Tỉ lệ
%
03 bài
10 %

Học sinh nắm
vững nội dung
tác phẩm

Học sinh không
nắm vững nội
dung tác phẩm

Sốlượng Tỉ lệ
%
17 bài
47 %

Sốlượng Tỉ lệ
%
05 bài
14 %

Lớp 12B Học sinh cảm
Số
thụ sâu sắc tác
Bài kiểm
phẩm
tra
Sốlượng Tỉ lệ

nghiệm của tôi chưa thật được hoàn hảo nhưng với sự tiến bộ của học sinh tôi đã
mạnh dạn trình bày, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì
vậy tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để tôi có thể giảng dạy tốt
hơn.
3.2. Kiến nghị
Để hỗ trợ cho công tác giảng dạy có hiệu quả, các cấp lãnh đạo nhà
trường, các tổ chức đoàn thể, giáo viên chủ nhiệm… cần thấy được tính đặc thù
của môn văn, quan tâm, tạo điều kiện tối đa cho giáo viên và học sinh, xem đây
là một nhiệm vụ quan trọng . Chẳng hạn: bớt tiết nghĩa vụ, bớt công tác kiêm
nghiệm, bồi dưỡng thỏa đáng cho giáo viên, động viên khen thưởng kịp thời đối
với các giáo viên và học sinh đạt thành tích cao ...
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác

Lê Thị Liên

17


Tài liệu tham khảo
1. Luật Giáo dục 2005.
2. Lại Nguyên Ân, 150 Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà
Nội, Năm 2003.
3. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. Nxb
Giáo dục, 1994.

xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A, B,
loại
Tỉnh...)
hoặc C)
Sở GD&ĐT
C
2010-2011

nâng cao hiệu quả dạy và học
từ ngữ trong giảng văn ở
Trung Tâm GDTXX-DN
2.

Thành Phố Thanh Hóa”
“ Một số biện pháp góp phần

Sở GD&ĐT

C

nâng cao hiệu quả dạy bồi
dưỡng học sinh giỏi môn văn
ở Trung Tâm GDTX-DN
Thành Phố Thanh Hóa”

----------------------------------------------------

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status