NHẬN XÉT VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRèNH KIỂM TOÁN
KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH DO CễNG TY TNHH AAT THỰC HIỆN
2.1. Nhận xột về thực trạng quy trỡnh kiểm toỏn khoản mục phải thu khỏch hàng
trong kiểm toỏn Bỏo cỏo tài chớnh do Cụng ty TNHH AAT thực hiện
2.1.1. Những ưu điểm trong thực tế
Các công ty kiểm toán trong nước và ngoài nước ra đời ngày càng nhiều với sự đa
dạng về dịch vụ cung cấp đang đặt ra một áp lực cạnh tranh lớn với AAT. Để có thể đứng
vững và khẳng định vị thế của mỡnh trờn thị trường, AAT phải chứng tỏ được ưu thế riêng
của mỡnh. Công ty đó, đang cung cấp cho khách hàng những dịch vụ chuyên nghiệp với
mức phí hợp lý. Một trong những điều làm nên thành công này là nhờ đội ngũ lónh đạo và
nhân viên trong Công ty không ngừng nỗ lực làm việc nâng cao chất lượng trong suốt thời
gian qua. Qua gần 3 năm hoạt động, Công ty đó thiết lập được hệ thống khỏch hàng rộng
khắp và tổ chức mạng lưới các dịch vụ toàn diện. Quá trỡnh hoạt động kinh doanh của
AAT đó đạt được những kết quả rất đáng khích lệ với hoạt động chính là kiểm toán BCTC.
Với quy trỡnh kiểm toỏn khoản mục phải thu khỏch hàng, Cụng ty đó đạt được một số ưu
điểm nổi bật sau:
* Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Trong giai đoạn này, AAT đó thực hiện kiểm tra tổng quan tỡnh hỡnh hoạt động sản
xuất kinh doanh của khách hàng, thu thập thụng tin về nghĩa vụ phỏp lý và đưa ra định
hướng kiểm toán chung. Kết hợp với việc tham khảo hồ sơ kiểm toán của KTV tiền nhiệm
đó giỳp ớch nhiều cho việc nắm bắt tỡnh hỡnh hoạt động của khách hàng.
Ở hai Công ty ABC và XYZ, bước đánh giá trọng yếu và rủi ro đều được thực hiện
cẩn thận, tính toán các chỉ số một cách đầy đủ, chuẩn xác để có thể giảm thiểu tối đa
những bất lợi, là căn cứ để KTV so sánh đưa ra kết luận những chênh lệch là gian lận hay
sai sót, có trọng yếu hay không.
Khi kiểm toán khách hàng mới, KTV đó tiến hành phỏng vấn và thực hiện đánh giá
hệ thống KSNB của khách thể kiểm toán nói chung cũng như riêng cho công tác hạch toán
phải thu khách hàng tại đây qua thu thập câu trả lời cho bảng câu hỏi. Với khách hàng mới,
những thông tin về sự thay đổi các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB được cập nhật thường
xuyên để có cỏi nhỡn khỏch quan, làm cơ sở cho việc quyết định thực hiện thử nghiệm
Một nhóm kiểm toán thường có sự tham gia từ 3 – 5 người tùy theo yêu cầu trong
hợp đồng kiểm toán. Nhóm trưởng sẽ phân công từng người thực hiện những khoản mục
cụ thể. Nhằm mục đích có được hiệu quả làm việc cao nhất, KTV thường được giao làm
những khoản mục có mối liên hệ mật thiết với nhau. KTV thực hiện kiểm toán khoản mục
phải thu khách hàng sẽ kết hợp kiểm toán tiền, phải thu nội bộ, dự phũng phải thu khú đũi
và nhất là khoản mục doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, người làm phần
hành này có thể tham chiếu đến những phần hành khác có liên quan do người khác thực
hiện. Chính vỡ vậy, nhúm kiểm toỏn cú thể làm việc nhanh chúng, trỏnh trựng lặp.
Tại Công ty AAT, việc ghi chép GLV được quy định một cách rừ ràng, khoa học
theo tham chiếu đó quy định sẵn. Trỡnh tự sắp xếp File từ tổng quát đến chi tiết. Các tài
liệu về Báo cáo kiểm toán năm trước, Biên bản họp, Hợp đồng kiểm toán được đặt đầu
tiên. Tiếp theo là Giấp phép thành lập, Đăng ký kinh doanh, Điều lệ Công ty, Biên bản hợp
HĐCĐ, HĐQT…Trong mỗi khoản mục, trang thuyết minh chênh lệch được đặt đầu tiên,
tiếp theo là trang kết luận kiểm toán rồi đến các GLV đó thực hiện và cuối cựng là tài liệu
thu thập được. GLV được sắp xếp tờ đối chiếu để xác minh số liệu tổng hợp đặt trên cùng
với ký hiệu tham chiếu là 131/s. Cỏc GLV và tài liệu mà KTV thu thập sau sẽ được ký hiệu
từ 131/1 đến 131/n. Việc sắp xếp giấy tờ làm việc một cách khoa học và đánh tham chiếu
giúp người soát xét, sử dụng dễ dàng hiểu và theo dừi cỏc vấn đề mà KTV đưa ra trong hồ
sơ.
* Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
Khi hoàn thành các thủ tục áp dụng, KTV cần đánh giá lại kết quả đó hoàn tất và
đưa ra ý kiến về hạch toỏn khoản mục phải thu khỏch hàng. Tại AAT việc đưa ra ý kiến
đóng góp cho khách hàng được đưa ra hết sức phù hợp nhằm giúp khách hàng nâng cao
hiệu quả hoạt động hơn.
2.1.2. Những tồn tại và nguyờn nhõn
2.1.2.1. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toỏn
2.1.2.1.1. Về thu thập thông tin cơ sở
Công việc thu thập thông tin về khách hàng của AAT được thực hiện đầy đủ nhưng
cũn sơ sài và chưa thực sự chú trọng đúng mức. Đối với những khách hàng lâu năm, KTV
chủ yếu dựa vào hồ sơ kiểm toán chung đó lưu trữ trước đó. Nhỡn chung thủ tục kiểm tra
qua phỏng vấn Ban Giỏm đốc đơn vị khách hàng; các hồ sơ, tài liệu thu thập lưu trong hồ
sơ kiểm toán chủ yếu bao gồm: Điều lệ Công ty, Quy chế làm việc, Quyết định bổ nhiệm,
Biên bản họp HĐQT. Các thông tin này được xếp vào một file mà không có sự phân tích,
tổng hợp gây khó khăn và mất thời gian cho các lần kiểm toán tiếp theo, nhất là khi có sự
thay đổi nhóm kiểm toỏn.
2.1.2.2. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
2.1.2.2.1. Thực hiện thủ tục kiểm soỏt
Thủ tục kiểm soát được thực hiện khi hệ thống KSNB được đánh giá ban đầu là
hoạt động có hiệu lực, nhằm thu thập bằng chứng về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành
hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB. Thế nhưng các cách thức cụ thể được áp
dụng lại chưa thực sự đồng bộ. Chẳng hạn, phỏng vấn thường bao gồm những câu hỏi
mang tính chủ quan của người phỏng vấn và hướng câu trả lời vào những điều người
phỏng vấn muốn nghe. Do vậy, nếu không quan sát, đối chiếu, phân tích kỹ lưỡng có thể
dẫn tới bằng chứng thu thập được không đáp ứng yêu cầu đầy đủ và tin cậy.
2.1.2.2.2. Thực hiện cỏc thủ tục phõn tớch
Tại AAT hiện nay, thủ tục phân tích chưa được áp dụng sâu và rộng, nếu cú sử dụng
thủ tục phõn tớch thỡ chỉ là kết hợp với thủ tục kiểm tra chi tiết. Trong điều kiện hiện nay,
thị trường kinh tế tài chính nước ta vẫn chưa được hoàn thiện, số liệu thống kế kinh tế
chưa thật sự chính xác và công bố rộng rói, vỡ vậy KTV không có số liệu để đối chiếu so
sánh với các doanh nghiệp khác trong ngành hay các biến động bất thường. AAT chỉ mới
dừng lại ở việc so sánh kết quả năm nay với năm trước kết hợp với phân tích một số tỷ suất
tài chính.
2.1.2.2.3. Phương pháp chọn mẫu
Trong quỏ trỡnh kiểm toỏn khoản mục phải thu khỏch hàng ở hầu hết cỏc doanh
nghiệp, cú rất nhiều nghiệp vụ phỏt sinh với nhiều đối tượng, do đó KTV không thể kiểm
tra chi tiết toàn bộ mà lựa chọn phương pháp chọn mẫu thích hợp để tiết kiệm thời gian,
công sức mà vẫn đảm bảo độ tin cậy.
Các KTV thực hiện phần hành này ở AAT chọn mẫu các nghiệp vụ để tiến hành
kiểm tra chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự xét đoán, chủ yếu hướng tới: các nghiệp vụ có
nội dung bất thường, phát sinh vào thời điểm cuối niên độ kế toán, các nghiệp vụ phát sinh
mới chỉ ra đời vào đầu những năm 90, chưa có nhiều bề dày lịch sử hoạt động, kinh
nghiệm cũn hạn chế. Mặt khỏc, những quy định về hệ thống pháp lý như chế độ, chuẩn
mực đang trong quá trỡnh xõy dựng và hoàn thiện dần dần, việc ỏp dụng những quy định
này cũn nhiều khú khăn, vướng mắc.
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là vừa và nhỏ, hoạt động bán lẻ nhiều, chủ yếu
là bán chịu nên quy trỡnh kiểm toỏn khoản mục phải thu khách hàng mất nhiều thời gian,
liên quan đến nhiều đối tượng dẫn đến tính phức tạp của những thủ tục cần sử dụng. í thức
gửi và nhận của thư xác nhận của bên thứ 3 chưa cao khiến bằng chứng thu được của thủ
tục này không được như mong muốn.
* Nguyờn nhõn chủ quan
Nhiều KTV trong chưa nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc tuân theo
chương trỡnh kiểm toỏn đó được xây dựng, làm việc tùy tiện, không tuân chủ các nguyên
tắc, chuẩn mực. Bản thân chương trỡnh kiểm toỏn chưa hoàn toàn phù hợp. Thủ tục phân
tích chưa đánh giá cao việc phân tích tài chính tổng quát mà chủ yếu thiết kế các thủ tục
phân tích cụ thể trong từng đối tượng kiểm toán cụ thể. Thêm vào đó, trỡnh độ kiểm toán
viên để đọc và hiểu hết về thủ tục phân tích cũn nhiều bất cập (chủ yếu KTV đi vào kiểm