MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ VẬN
TẢI Ở CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ VẬN TẢI HÀ TÂY.
I . SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ VẬN TẢI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ VẬN TẢI HÀ
TÂY.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh dịch
vụ vận tải đang dần dần khẳng định vị trí của mình. Là một hoạt động không
những chỉ đem lại hiệu quả về mặt kinh tế mà còn có cả hiệu quả về mặt xã
hội. Việc tổ chức hoạt động kinh doanh phải đảm bảo thu hồi vốn đầu tư ban
đầu vào phương tiện vận tải nhanh chóng đồng thời doanh thu phải đủ bù đắp
cho chi phí và có lãi. Do đó, các nhà lãnh đạo phải quản lý tốt chi phí, tìm ra
các biện pháp để hạ giá thành vận tải, thu hút khách hàng.
Hạch toán kế toán với bản chất là một hệ thống thông tin và kiểm tra sự biến
động của tài sản trong doanh nghiệp. Nó trở thành một bộ phận quan trọng
trong hệ thống quản lý kinh tế của từng doanh nghiệp. Để quản lý và sử dụng
có hiệu quả các loại tài sản, lãnh đạo doanh nghiệp cần biết được những thông
tin về hoạt động kinh doanh một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác. Điều này
chỉ có thể thực hiện được thông qua công tác kế toán của doanh nghiệp. Tuy
nhiên hiện nay hệ thống kế toán nước ta vẫn chưa theo kịp với sự phát triển của
nền kinh tế. Yêu cầu của cơ chế quản lý mới và yêu cầu của nền kinh tế thị
trường đòi hỏi phải cải cách triệt để, đổi mới toàn diện hệ thống kế toán nước
ta cho phù hợp với nền kinh tế thị trường, với đặc điểm yêu cầu và trình độ
quản lý kinh tế tài chính của đất nước.
Để đảm bảo tính đồng bộ thống nhất và phát huy vai trò cung cấp thông tin
cho việc điều hành quản lý kinh doanh thì cần thiết phải cải tiến, đổi mới và
hoàn thiện hạch toán kế toán ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Trong đó đổi mới và
hoàn thiện công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm là một trong
những vấn đề quan trọng.
Trong toàn bộ công tác kế toán tại công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây, khối
lượng kế toán chi phí và tính giá thành vận tải chiếm tỉ trọng lớn, quá trình tập
vận tải. Theo mức nộp lệ phí giao thông là 300 đồng/lít xăng thì số tiền lệ phí
giao thông mà công ty đã tính vào chi phí nhiên liệu là 12.051.600 đồng, vậy
chi phí nhiên kiệu thực tế chỉ là 179.446.200 đồng chỉ chiếm tỉ trọng là 26,6%.
Do đó để đảm bảo tính thực tế và chính xác trong công tác tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm thì chi phí nhiên liệu trong vận tải chỉ được tính theo
giá mua thực tế của xăng dầu, còn lệ phí giao thông cần phải bóc tách để đưa
vào khoản chi phí khác của chi phí sản xuất chung ( vấn đề này sẽ được trình
bày ở phần sau).
Hiện nay công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây sử dụng tài khoản 621 – Chi
phí nhiên liệu trực tiếp để phản ánh các chi phí về nhiên liệu, dầu nhờn, chi phí
săm lốp, chi phí sửa chữa thường xuyên chi tiết trên hai tiểu khoản
+ TK 621.1 – chi phí nhiên liệu.
+ TK 621.2 – chi phí dầu nhờn, săm lốp, sửa chữa
thường xuyên.
Nhưng theo chế độ kế toán quy định, tài khoản 621 chỉ dùng để hạch toán
chi phí nhiên liệu được sử dụng trực tiếp cho phương tiện vận tải. Những chi
phí săm lốp, sửa chữa thường xuyên thuộc chi phí sản xuất chung phải được
hạch toán vào TK627 – chi phí sản xuất chung.(vấn đề này sẽ được trình bày ở
phần sau).
Do đó để hợp lý theo em thì TK 621 không cần mở chi tiết các tài khoản cấp
II, khi phát sinh các chi phí nhiên liệu kế toán tiến hành hạch toán luôn vào
TK 621 – chi phí nhiên liệu trực tiếp.
2. Về công tác kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công là khoản chi phí lao động sống rất cần thiết nhằm đảm
bảo cho hoạt động kinh doanh dịch vụ diễn ra bình thường.
Hiện nay tại công ty khoản chi phí nhân công trực tiếp được phản ánh trên
TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp. Nhưng ngoài khoản tiền lương và bảo
hiểm của lái, phụ xe còn có cả khoản chi phí cho lái xe ka dự phòng, khoản bảo
hiểm của nhân viên bộ phận xưởng sửa chữa. Như vậy là không đúng vì tài
khoản 622 chỉ phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh
phạm vi chi phí sản xuất chung theo yêu cầu cụ thể của từng ngành kinh doanh,
của từng doanh nghiệp.