CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI
CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGUYÊN VẬT LIỆU ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT
1.1 Khái niệm
Theo Mác: “Tất cả mọi vật trong thiên nhiên ở quanh ta mà lao động có ích có thể tác
động vào để tạo ra của cải vật chất cho xã hội đều là đối tượng lao động. Đối tượng lao
động trở thành nguyên vật liệu khi có lao động của con người tác động vào”. Chính vì vậy
không phải bất kỳ đối tượng nào cũng là nguyên vật liệu (NVL).Ví dụ như: sắt nằm trong
quặng, than nằm trong lòng đất, dầu nằm dưới biển,... không phải là NVL mà chỉ sau khi
con người tiêu hao lao động để tìm ra nó, cung cấp cho ngành công nghiệp thì sắt, than,
dầu,... mới được gọi là NVL.
Trong các doanh nghiệp sản xuất (DNSX), NVL là đối tượng lao động, là một trong ba
yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm.
1.2 Đặc điểm nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu có 3 đặc điểm cơ bản sau:
Nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh không giữ nguyên hình
thái vật chất ban đầu;
Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu trình sản xuất kinh doanh;
Giá trị của nguyên vật liệu được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới
tạo ra hoặc vào chi phí kinh doanh trong kỳ.
1.3 Vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất
Bất kỳ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại đều có đặc trưng chung là sự tác
động của con người vào các yếu tố lực lượng tự nhiên nằm thoả mãn những nhu cầu nào
đó. Vì vậy sản xuất luôn là sự tác động qua lại của ba yếu tố cơ bản: lao động của con
người, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Con người có sức lao động sử dụng tư
liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất (hay còn gọi là
sản phẩm).
Như vậy nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động cấu thành nên thực thể sản
phẩm. Khác với tài sản cố định là khi tham gia quá trình sản xuất nguyên vật liệu không
đủ các phương tiện cân đo, thực hiện đúng chế độ bảo quản và xác định mức dự trữ tối
thiểu, tối đa cho từng loại NVL để giảm bớt hư hỏng, hao hụt, mất mát, đảm bảo an toàn,
giữ được chất lượng của NVL và đảm bảo cho quá trình SXKD được diễn ra bình thường
không bị gián đoạn, ngừng việc do việc cung ứng, mua không kịp thời hoặc gây tình trạng
ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều.
Ở khâu sử dụng, đòi hỏi phải thực hiện việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các
định mức têu hao, dự toán chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm. Nhằm hạ giá
thành sản phẩm tăng lợi nhuận cho DN, do vậy trong khâu này cần tổ chức việc ghi chép,
phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng NVL trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Tóm lại, quản lý chặt chẽ NVL từ khâu thu mua tới khâu bảo quản dự trữ và sử dụng là
một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý tài sản ở DN.
3 NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
Để đáp ứng được yêu cầu quản lý, kế toán nguyên vật liệu trong DN cần phải thực hiện
tốt các nhiệm vụ sau:
- Thực hiện việc phân loại, đánh giá NVL phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế
toán đã qui định và yêu cầu quản trị DN;
- Tổ chức chứng từ, tài khoản kế toán, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng
tồn kho áp dụng trong DN để ghi chép, phân loại tổng hợp số liệu đầy đủ, kịp thời số
hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của NVL trong quá trình hoạt động SXKD
nhằm cung cấp thông tin kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh, xác định trị
giá vốn hàng bán và giá thành sản phẩm;
- Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về mua NVL, kế hoạch sử dụng
NVL cho quá trình SXKD.
II. PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU
1. PHÂN LOẠI NGUYÊN VẬT LIỆU
Trong mỗi DN, do tính chất đặc thù trong hoạt động SXKD nên cần phải sử dụng nhiều
loại, nhiều thứ NVL khác nhau. Mỗi loại NVL lại có vai trò, công dụng, tính chất lý, hóa
học khác nhau. Do đó việc phân loại NVL có cơ sở khoa học là điều kiện quan trọng để có
thể quản lý NVL phục vụ cho yêu cầu quản trị DN.
+ Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm;
+ Nguyên vật liệu dùng cho công tác quản lý ở các phân xưởng, dùng cho bộ phận bán
hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp.
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác:
+ Nhượng bán;
+ Đem góp vốn liên doanh;
+ Đem quyên tặng,...
2 ĐÁNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU
2.1 Khái niệm:
Đánh giá nguyên vật liệu là việc xác định giá trị của nguyên vật liệu ở những thời điểm
nhất định và theo những nguyên tắc quy định.
2.2 Những nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu
- Nguyên tắc giá gốc: Nguyên vật liệu phải được đánh giá theo giá gốc. Giá gốc hay còn
được gọi là trị giá vốn thực tế của NVL; là toàn bộ các chi phí mà DN đã bỏ ra để có
được NVL đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại.
- Nguyên tắc thận trọng: Nguyên vật liệu được đánh giá theo gá gốc, nhưng trường
hợp giá trị thuần có thể thực hiện thấp hơn giá gốc thì tính theo giá trị thuần có thể
được thực hiện.
Giá trị thuần có thể thực hiện được: là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ
SXKD trừ (-) đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho
việc tiêu thụ chúng.
Thực hiện nguyên tắc thận trọng bằng cách trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Kế toán ghi sổ theo giá gốc và phản ánh khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Do đó,
trên báo cáo tài chính trình bày thông qua hai chỉ tiêu:
+ Trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu;
+ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
- Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh giá vật tư phải
đảm bảo tính nhất quán. Tức là kế toán đã chọn phương pháp nào thì phải áp dụng
phương pháp đó nhất quán trong suốt niên độ kế toán. Doanh nghiệp có thể thay đổi
phương pháp đã chọn, nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho phép trình bầy
trị thu hồi tối thiểu.
...
2.4 Các phương pháp xác định trị giá vốn của nguyên vật liệu xuất kho
Nguyên vật liệu được nhập kho từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau
nên có nhiều giá khác nhau. Do đó, khi xuất kho NVL tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động,
yêu cầu, trình độ quản lý và điều kiện trang bị phương tiện kỹ thuật tính toán ở từng DN
mà lựa chọn một trong các phương pháp sau để xác định trị giá vốn thực tế của nguyên vật
liệu xuất kho:
Các phương pháp theo chuẩn mực kế toán:
* Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này khi xuất kho NVL
thì căn cứ vào số lượng xuất kho thuộc lô hàng nào và đơn giá thực tế của lô hàng đó để
tính trị giá vốn thực tế của NVL xuất kho. Phương pháp này, được áp dụng cho những DN
có chủng loại NVL ít và có thể nhận diện được từng lô hàng.
* Phương pháp bình quân gia quyền: trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho
được tính căn cứ vào số lượng nguyên vật liệu xuất kho và đơn giá bình quân gia quyền,
theo công thức:
Trị giá vốn thực
tế NVL xuất kho
=
Số lượng NVL
xuất kho
x
Đơn giá bình
quân gia quyền
Trong đó:
Đơn giá bình
quân gia quyền
=
Trị giá thực tế NVL tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế NVL nhập trong kỳ
Số lượng NVL tồn đầu kỳ + Số lượng NVL nhập trong kỳ
tiết đồng thời ở cả hai mặt: giá trị và hiện vật, không chỉ thế mà còn phải quản lý theo từng
kho và chi tiết đến từng nhóm, từng loại, từng thứ nguyên vật liệu một và phải được tiến
hành quản lý đồng thời ở cả kho và phòng kế toán trên cùng cơ sở là các chứng từ: phiếu
nhập kho, phiếu xuất kho. Các DN phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi
tiết và lựa chọn, vận dụng phương pháp kế toán chi tiết NVL phù hợp với tình hình, đặc
điểm của DN mình nhằm tăng cường công tác quản lý tài sản nói chung, và công tác quản
lý NVL nói riêng.
2. CHỨNG TỪ VÀ SỔ KẾ TOÁN SỬ DỤNG
Nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp gồm nhiều loại khác nhau. Để cho việc quản lý
được chặt chẽ, cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ về tình hình nhập, xuất,
tồn nguyên vật liệu cả chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu thành tiền kế toán tiến hành hạch toán
chi tiết nguyên vật liệu đến từng thứ, từng nhóm, từng loại ở từng nơi bảo quản sử dụng
nguyên vật liệu.
Theo chế độ chứng từ kế toán ban hành theo QĐ 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995
và theo QĐ 885/1998/QĐ/BTC ngày 16/7/1998 của Bộ trưởng BTC, các loại chứng từ, sổ
sách kế toán phục vụ cho việc hạch toán chi tiết NVL bao gồm:
- Phiếu nhập kho (Mẫu 01 – VT);
- Phiếu xuất kho (Mẫu 02 – VT);
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (Mẫu 03 – VT);
- Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (Mẫu 04 – VT);
- Biên bản kiểm nghiệm (Mẫu 05 – VT);
- Thẻ kho (Mẫu 06 – VT);
- Phiếu nhập kho Báo vật tư còn lại cuối kỳ (Mẫu 07 – VT);
- Biên bản kiểm kê vật tư,sản phẩm hàng hóa (Mẫu 08 – VT);
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết nguyên vật liệu
- Sổ số dư
- Sổ đối chiếu luân chuyển
- Bảng kê nhập xuất tồn vật tư
- Bảng luỹ kế nhập vật tư
- Bảng luỹ kế xuất vật tư
Phiếu xuất kho
Sổ kế toán
chi tiết vật tư
Bảng kê nhập xuất tồn kho vật tư
Hình 1: Sơ đồ hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp ghi thẻ song song
Ghi chú : Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
3.2. Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
* Nội dung:
Theo phương pháp này, tại kho thủ kho vẫn sử dụng thẻ kho để ghi chép. Phòng kế toán
sau khi nhận được chứng từ về nhập, xuất nguyên vật liệu, kế toán kiểm tra tính hợp lý,
hợp pháp của chứng từ và hoàn chỉnh chứng từ. Sau đó, tiến hành tập hợp và phân loại
chứng từ theo chứng từ nhập và chứng từ xuất.
Trong từng loại nhập, xuất kế toán chi tiết đến từng thứ nguyên vật liệu. Ngoài ra, kế
toán còn có thể lập bảng kê nhập hoặc bảng kê xuất nguyên vật liệu để thuận tiện cho việc
ghi sổ đối chiếu luân chuyển.
Cuối tháng, kế toán tiến hành tổng hợp số liệu từ các chứng từ hoặc bảng kê để ghi vào
sổ đối chiếu luân chuyển, và tính ra số tồn cuối tháng.Việc đối chiếu số liệu giống như
phương pháp ghi thẻ song song nhưng chỉ tiến hành vào cuối tháng.
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ đối chiếu luân chuyển
Sổ kế toán tổng hợp
Bảng kê nhập
Bảng kê xuất
Hình 2: Sơ đồ hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Ghi chú : Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu