MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY SÁCH VÀ THIẾT BỊ TRƯỜNG HỌC HẢI PHÒNG - Pdf 73

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI
PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY SÁCH
VÀ THIẾT BỊ TRƯỜNG HỌC HẢI PHÒNG.
I. Đánh giá chung về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.
I.1. Những kết quả đạt được.
I.1.1. Về tổ chức bộ máy kế toán và quản lý chi phí.
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức hợp lý có hiệu quả. Cán bộ kế toán
có chuyên môn kinh nghiệm, có lòng yêu nghề, tận tuỵ vì công việc. Việc phân
công phân nhiệm mỗi cán bộ kế toán chịu một mảng hoạt động của công ty, nêu
cao tinh thần trách nhiệm của người làm công tác kế toán với công việc vì khối
lượng công việc mỗi người đảm nhiệm rất lớn. Mặt khác cách phân công như vậy
thuận tiện cho việc đối chiếu, kiểm toán nội bộ. Hiện nay, Công ty có ứng dụng
máy, song chỉ sử dụng thay cho thao tác thủ công, giảm khối lượng công việc, chưa
sử dụng phần mềm kế toán.
Việc quản lý chi phí sản xuất trong Công ty rất chặt chẽ trên cơ sở định mức, dự
toán được lập(QĐ 08/2001/TH Công ty Sách và thiết bị trường học HP), nhất là
quản lý về vật tư. Xuất phát từ đặc điểm sản xuất của Công ty là theo kế hoạch
mang tính thời vụ hàng năm, theo đơn đặt hàng.Từ khi có đơn đặt hàng, đến khi
xuất vật tư đưa vào sử dụng phải thông qua giai đoạn như: Lập kế hoạch sản xuất,
lập lệnh sản xuất bao gồm cả lệnh xuất vật tư, lập phiếu xuất kho…Việc quản lý
như vậy là chặt chẽ, cụ thể, tránh được tình trạng lãng phí vật tư không kiểm soát
được.
Việc áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên và hình thức kế toán "Nhật ký chung" vừa mới mẻ vừa tạo sự thuận
lợi cho công ty khi ứng dụng phần mềm kế toán. Đây chính là nét linh động trong
công tác định hướng của Ban lãnh đạo.
I.1.2. Về thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công
ty.
Khoản mục chi phí sản xuất chung về khấu hao TSCĐ: Công ty khấu hao
TSCĐ rất cụ thể, từ khấu hao bình quân năm đến số phải trích khấu hao cho từng
quý tính theo tỷ lệ %, từng tháng. Cách tính khấu hao như vậy rất tiến bộ, mang

chỉ việc đối chiếu phát sinh và lập báo cáo khẩn trương, kịp thời.
Riêng đối với kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành, công ty quy
định cụ thể về lưu trữ các chứng từ: chứng từ gốc được cán bộ kế toán sản xuất
lưu, còn số liệu được lưu trên máy tính để dễ kiểm tra, đối chiếu và thu thập khi
cần thiết. Khi có yêu cầu về số liệu, phải đưa kịp thời về các khoản chi phí và giá
thành, xác định nhanh giá bán để phục vụ việc ra quyết định sản xuất kinh doanh.
I.2. Mặt tồn tại.
I.2.1. Về tổ chức bộ máy kế toán và quản lý chi phí.
Việc quản lý của Công ty là tương đối chặt chẽ, cụ thể, tránh được tình trạng
lãng phí vật tư không kiểm soát được. Tuy nhiên, cũng có hạn chế ở chỗ: nếu có sự
thay đổi từ phía bạn hàng về mẫu mã, hay loại nguyên vật liệu khác thì việc thay
đổi sản xuất gặp khó khăn, chậm trễ về thời gian vì phải lập kế hoạch sản xuất
mới, tính lại số lượng rồi mới xuất kho vật tư.
Xét về các định mức của Công ty( trong QĐ 08/2001-TH) tôi nhận thấy đối với
vật tư, chưa thể hiện chất lượng của từng loại vật tư trong định mức mà chỉ nêu
chung.
Ví dụ: kẽm( dùng cho chế bản trong phân xưởng in) có định mức: 1 bản điazo/
khuôn.
Máy 16 trang: 1 khuôn( 800 x 1030)/ tờ in
Máy 8 trang :1 khuôn( 550 x 650)/ tờ in.
Như vậy là chưa xét đến chất lượng bản kẽm theo từng nơi sản xuất, cung ứng
để lập định mức, dự toán hợp lý nhằm quản lý chặt chẽ chi phí.
I.2.2. Về phương pháp tập hợp chi phí và nội dung các khoản mục chi phí.
Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp trong công ty bao gồm: lương chính,
lương phụ, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân công trực tiếp sản xuất, các khoản
tính theo lương. Công ty thực hiện khoán sản phẩm đối với công nhân sản xuất,
như vậy lương chính sẽ tính trên cơ sở khối lượng sản phẩm hoàn thành và đơn giá
lương cho sản phẩm đó. Tuy nhiên, trong thời điểm hoạt động sản xuất nhiều ở các
tháng thời vụ, các phân xưởng muốn hoàn thành công việc đều phải làm thêm giờ.
Tiền làm thêm được tính: 1,5 ngày thường, bằng 2 ngày thường nếu làm vào ngày

sau mà trong khi nghiên cứu, tìm hiểu về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành tôi đã nhận thấy.
Công ty không thu hồi phế liệu sản xuất, cũng không tận dụng phế liệu để sản
xuất sản phẩm phụ. Như vậy sẽ lãng phí và không làm giảm giá thành.
Chính sách thưởng, phạt của công ty không khuyến khích tiết kiệm vật tư: nếu
sản xuất bị hang, công ty sẽ phạt bằng giá trị vật tư, coi như xưởng mua lại vật tư.
Còn nếu sau khi sản xuất hoàn thành, tại phân xưởng có vật tư tiết kiệm được, công
ty mua lại bằng 70% giá trị, cho nên vật tư thừa bị xưởng sản xuất bán ra ngoài.
Như vậy là chưa tiết kiệm được vật tư để hạ giá thành sản phẩm.
Ngoài ra, khi có ảnh hưởng của nhân tố khách quan như chất lượng nguyên vật
liệu không tốt từ người cung cấp, thời tiết, khí hậu gây giấy ẩm viết nhoè hoặc gây
khô hanh… sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm in vì vậy cần sản xuất bù, công ty đã
không xác định lượng vật tư cụ thể để bù do khách quan đó.
Tiền lương nhân viên phân xưởng bằng 25% lương công nhân sản xuất trực tiếp
như vậy chứng tỏ bộ phận hành chính quản lý phân xưởng rất cồng kềnh. Cụ thể
một phân xưởng có tới 8 người quản lý, phụ tá và thống kê trong khi đã có các tổ
trưởng sản xuất là những công nhân sản xuất giỏi.
Phụ cấp làm thêm giờ tính cả cho công nhân hưởng khoán sản phẩm trái với
quy định. Số chi phí trả phụ cấp làm thêm lớn, vượt quá mức kế hoạch. Theo quy
định thông tư số 18 ngày 02 tháng 06 năm 1993 Bộ LĐTBXH: một công nhân chỉ
được phép làm thêm 200 giờ/năm, nhưng thực tế số giờ làm thêm luôn là 400-500
giờ/năm.
Trên đây là một số ý kiến nhận xét đóng góp của tôi về công tác kế toán tập hợp
chi phí và tính giá thành ở công ty và những tồn tại về quản trị chi phí sản xuất có
ảnh hưởng không tốt tới kế hoạch hạ giá thành được nhận thấy thông qua hoạt
động kế toán, mà công ty cần khắc phục. Do thời gian thực tập ở công ty ngắn và
với kiến thức còn hạn chế, tôi chưa thể có được sự đánh giá toàn diện về công tác
kế toán của công ty.
Với tư cách là một sinh viên thực tập, được sự giúp đỡ của cô giáo và các cô
chú trong công ty, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công

Tương tự đối với các tài khoản 6272,6273,6274,6278.
Đối với TK 152, TK 153 công ty đã tiến hành theo dõi đối với từng loại nguyên
vật liệu cụ thể. Nhưng trong điều kiện áp dụng máy vi tính và sắp tới là sử dụng
phần mệm kế toán, công ty nên tiến hành chi tiết và mã hoá từng loại vật tư. Việc
này có thể thực hiện như sau:
TK 152 : Nguyên liệu, vật liệu.
TK 1521 : Nguyên liệu, vật liệu chính.
TK 15211 : Giấy
TK 15211A : Giấy Việt trì định lượng 100g/ m
2
TK 15211B : Giấy Việt trì định lượng 180g/ m
2
TK 15211C : Giấy Bãi bằng định lượng 87g/ m
2
TK 15212 : Mực
TK 15212 : Mực TQ đen
TK 15213 : Kẽm
…………………..
TK 1522 : Nguyên liệu, vật liệu phụ
Tương tự danh điểm với công cụ dụng cụ (TK 153) như trên.
Việc mở tài khoản chi tiết như trên và việc lập danh điểm (mã hoá) đảm bảo
việc cung cấp thông tin chi tiết, cụ thể về chi phí phát sinh. Công việc này hoàn
toàn có thể thực hiện được và ngay từ các chứng từ ban đầu cần tổ chức định
khoản theo các tài khoản chi tiết.
II.3. Việc tập hợp và phân bổ khấu hao TSCĐ
Hiện nay, cách tập hợp chi phí và phân bổ khấu hao TSCĐ ở công ty theo thời
vụ như vậy là tiến bộ, có mối quan hệ giữa khấu hao TSCĐ phải trích với khối
lượng công việc hoạt động sản xuất. Tuy nhiên khấu hao đó còn mang nặng tính
chủ quan thể hiện qua việc phân bổ tỷ lệ % cho các quý, các tháng và cho từng
phân xưởng. Theo tôi có thể lựa chọn sản lượng sản xuất kế hoạch làm tiêu thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status