PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN NVL TẠI CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ THUẬT VIỆT NAM - Pdf 73

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN
NVL TẠI CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ THUẬT VIỆT
NAM(DETESCO VIỆT NAM)
I - Đánh giá một cách tổng quát công tác tổ chức hạch toán NVL tại
công ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam.
Đứng trước những khó khăn trong công cuộc cạnh tranh của nền kinh tế
thị trường đặt ra cho mỗi DN mục tiêu không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh, sử dụng vốn một cách hợp lí... luôn là mục tiêu hàng đầu cho ban
lãnh đạo và nhân viên công ty. Từ một DN bước đầu hoạt động sản xuất kinh
doanh trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường công ty ngay từ
những ngày đầu thành lập đến nay đã trải qua những bước phát triển liên tục thay
đổi cả về quy mô cũng như cung cách quản lí. Trên thị trường, công ty đã kịp
thời nắm bắt, mạnh dạn chuyển hướng kinh doanh, tự khẳng định mình, luôn
đứng vững trước “cơn lốc” thị trường, cơ chế. Sự tồn tại, phát triển của công ty
chính là sự luôn coi trọng đến việc duy trì, báo đảm việc làm và thu nhập ổn định
cũng như nâng cao mức sống cho cán bộ công nhân viên công ty. Công ty hoạt
động một cách độc lập, tự chủ không dựa vào hay ỷ lại mặc dù công ty cũng có
vai trò như một DN nhà nước với nhiều ưu đaĩ. không như bao DN khác đững
trước sự khó khăn của cơ chế chuyển đổi đều lâm vào tình trạng phải bù lỗ hay
giải thể.. Công ty đã tự mình vượt lên khó khăn táo bạo và tự xem xét đánh giá
năng lực của mình mà vươn lên trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường. Cho
đến nay công ty đã trang bị cho mình cơ ngơi đủ phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh, đặc biệt trong hoạt động sản xuất lắp ráp xe gắn máy công ty đã
trang bị cho mình một dây chuyền thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho hoạt
động sản xuất xe gắn máy các loại. Công ty không ngừng đổi mới đầu tư cả
chiều dọc, chiều sâu nhắm phát triển quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh.
trong năm 2000-2001 công ty đã mạnh dạn loại bỏ những ngành nghề kinh
doanh đem lại hiệu quả kinh tế thấp mà tập trung nguồn lực cải tiến, đầu tư vào
hoạt động lắp ráp xe gắn máy. Đến năm 2001 công ty cố gắng đưa sản lượng xe
xuất xưởng lên cao hơn, tiến hành đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất khung
xe gắn máy nhằm tăng tỷ lệ nội địa hoá xe gắn máy trong nước. Công ty bên

kế toán được phân công một cách tương đối rõ ràng đến từng khâu và cho từng
nhân viên kế toán. Sự phân công này làm cho bộ máy hoạt động một cách nhịp
nhàng, thống nhất với sự phối hợp chặt chẽ giữa các khâu để đảm bảo tính đồng
bộ và thống nhất trong hệ thống về phạm vi, phương pháp tính toán, ghi chép,
đối chiếu số liệu. Từ đó tạo điều kiện cho công tác kiểm tra đối chiếu thuận tiện
hơn, kịp thời có thể phát hiện ra được những sai sót từ nhỏ nhất để sữa chữa,
chỉnh lí cho phù hợp. Việc này đảm bảo cung cấp thông tin một cách trung thực
có độ chính xác cao cho ban lãnh đạo, các ngành chức năng liên quan, các tổ
chức đối tượn có nhu cầu thông tin về công ty để đánh giá được hiệu quả kinh
doanh trong kỳ. Các thông tin này đồng thời cũng giúp công ty đưa ra các kế
hoạch , mục tiêu xây dựng những kế hoạch kinh doanh phù hợp với quy mô,
trình độ quản lí cũng như đối với nhu cầu thị trường.
Trong công tác lập chứng từ và luân chuyển chứng từ công ty đã thực
hiện đầy đủ quy định về sử dụng mọi hoá đơn chứng từ theo đúng mẫu quy định
của bộ tài chính ban hành. tất cả mọi tác dộng qua lại của các hoạt động kinh tế
làm nảy sinh các nghiệp vụ kinh tế đều được phản ánh trên các hoá đơn, chứng
từ một cách phù hợp, chính xác về các chỉ tiêu của một chứng từ thông thường
về số lượng, nguyên tắc ghi chép. Chứng từ được thực hiện tập hợp, lưu trữ theo
đúng nguyên tắc trong quản lí chứng từ . Chúng ta biết rằng, chứng từ sinh ra bởi
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các hình thức kế toán. Chứng từ được coi
là cơ sở ban đầu cho mọi việc hạch toán do đó các chứng từ đều được đánh số
thứ tự, thời gian và được kiểm tra một cách thường xuyên về nội dung nghiệp vụ
kinh tế phát sinh. Các nội dung, nghiệp vụ kinh tế thể hiện trên các chứng từ
gồm cả việc kiểm tra chừng từ gốc kèm theo đó là kiểm tra về con số, chỉ tiêu,
các chữ ký của các đối tượng có kiên quan. Việc kiểm tra này xác nhận chứng từ
sẽ giúp cho công tác tổng hợp, phân loại thông tin kinh tế để vào sổ tổng hợp,
sổ chi tiết tuỳ theo hình thức sổ kế toán áp dụng. Việc hợp lí hoá các thủ tục lập
và xử lí chứng từ một cách thường xuyên cũng rất được coi trọng. Công việc
này bao gồm các công việc cóliên quan như giao các thủ tụét duyệt, ký chứng từ
chặt chẽ tới mức tối đa, đòng thời thực hiện khâu luân chuyển chứng từ theo

đại để có thể giảm bớt những khó khăn trong công tác kế toán của công ty tạo
điều kiện cho ra những thông tin chính xác, hiệu quả quản lí tốt hơn trong hoạch
định, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
• Công ty áp dụng hệ thống tài khoản theo đúng hệ thống tài khoản kế toán mẫu
của bộ tài chính ban hành. Đặc biệt hệ thống tài khoản kế toán mà công ty áp
dụng trong hạch toán NVL được chi tiết phù hợp cho hoạt động nhập, xuất, tồn
kho NVL thường xuyên của công ty.
• Trong hạch toán hàng hoá, NVL tồn kho công ty sử dụng phương pháp kê khai
thường xuyên. Có thể nói việc áp dụng phương pháp này ở công ty đảm bảo
cung cấp thông tin một cách thường xuyên, chính xác tình hình biến động hàng
hoá, NVL cũng như biến động chi phí sản xuất. Các NVL nhập về được quản lí
một cách rõ ràng, chi tiết theo danh mục từng bộ, từng lô linh kiện ... cho từng
nhà cung cấp NVL cho công ty trong nước và nước ngoài. NVL nhập kho và
xuất kho đều được theo dõi chặt chẽ và hạch toán đầy đủ tránh được tình trạng ứ
đọng thừa , thiếu,thất thoát NVL trong sản xuất cũng như trong các khâu nhập,
xuất, tồn kho NVL .
• Cuối cùng các phần hành công việc kế toán trong công ty được thực hiện một
cách thống nhất, ăn ý với nhau do côn gty có đội ngũ cán bộ và chuyên viên kế
toán có trình độ nghiệp vụ nắm vững, am hiểu kỹ thuật hạch toán các nghiệp vụ
nhập xuất tồn kho NVL nói riêng và các phần hành hạch toán các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh, công việc kế toán nói chung. Đội ngũ cán bộ, chuyên viên có
trình độ đồng đều và không ngừng được công ty tạo mọi điều kiện để có thể
nâng cao trình độ và cập nhật thường xuyên các chế định tài chính và thanh toán
theo đúng quy định. Bên cạnh sự vững chẵc về chuyên môn họ còn có trình độ
về ngoại ngữ và đặc biệt rất nhiệt tình với công việc đồng thời có trách nhiệm
cao trong công việc được giao.
1.2 Một số vấn đề cần nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện công tác hạch toán
NVL tại công ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam
• NVL của công ty chủ yếu được mua ngoài, đặc biệt chủ yếu là được nhập khẩu
từ nước ngoài do đó từ khi NVL được xác định là mua cho tới khi NVL nhập

vật tư khi tiến hành nhập, xuất kho vật liệu nhằm giúp kế toán công tycó thể
nắm bắt kịp thời số liệu về NVL trong kho ở bất kỳ thơì điểm nào mà không cần
trực tiếp tiến hành kiểm tra thường xuyên. Việc làm này phần nào có thể làm
hạn chế bớt khối lượng công việc cho kế toán vật liệu công ty mỗi khi NVL về
nhập kho hay xuất kho. Bởi mỗi khi NVL nhập về thì phòng kế toán công ty đều
tiến hành mọi thủ tục từ khâu nhận hoá đơn cho đến việc xác nhận hoá đơn, lập
FNK, kiểm kê vật tư... lập các bảng kê chi tiết vật liệu... nếu lập sổ danh điểm
vật liệu, thẻ kho cho vật liệu sẽ phần nào giúp cho công tác kế toán thuận tiện
lại có thể dễ dàng đối chiếu, kiểm tra số liệu một cách chi tiết ở bất kỳ thời điểm
nào. Tại kho công ty, thủ kho nên tiến hành lập thẻ kho theo dõi số lượng NVL
tại kho một cách chi tiết về số lượng biến động NVL. Việc lập thẻ kho được tiến
hành tại kho nhằm cung cấp, đối chiếu số liệu một cách chính xác, kịp thời với
số liệu tại phòng kế toán công ty.
• Hiện tại công ty đang thực hiện áp dụng thống nhất giá thực tế NVL xuất kho
theo giá thực tế đích danh nghĩa là NVL nhập về theo giá nào thì sẽ được xuất
theo giá đó. Việc thực hiện tính giá xuất kho theo phương pháp này làm cho
khối lượng công việc ghi chép nhiêù, trùng lặp, lại phải thực hiện ghi sổ nhiều
lần. Vả lại phương pháp này còn bị hạn chế bởi giá thực tế nhập NVL trong kỳ
phải phụ thuộc vaò chứng từ nhập, nếu khi xuất dùng NVL cho sản xuất thì dễ
gây ra ảnh hưởng nhiều tới giá thực tế xuất kho NVL. NVL xuất dùng cho sản
xuất ở công ty có tính đồng nhất cao NVL đi theo bộ, linh kiện, chi tiết vì thế
công ty có thể thay đổi phương pháp tính giá thực tế xuất kho NVL theo
phhương pháp khác cho phù hợp song việc thay đôỉ này nên được tiến hành một
cách thống nhất trong một kỳ hạch toán. Khi muốn thay đổi phương pháp tính
giá nào cần có sự công khai và phổ biến tới từng nhân viên kế toán.
• Thêm vào đó , khi tiến hành xuất dùng NVL cho sản xuất chung bởi các chi phí
sản xuất chung đều được kế toán coong ty hạch toán chung vào tài khoản 627-
chi phí sản xuất chung mà không được chi tiết thành các tài khoản cấp 2 như:
1.TK 6271- chi phí nhân viên phân xưởng
2.TK 6272- chi phí NVL

đã chấp nhận thanh toán hay đã thanh toán rồi thì số NVL đó đã thuộc quyền sở
hữu của công ty vì vậy khi NVL chưa về có thể kẹp hoá đơn và tập riêng cho số
hàng đang đi trên đường và chờ NVL về nhập kho tiến hành hạch toán bình
thường trong tháng đó. Còn khi NVL đén cuối tháng vẫn chưa về thì vì lí do
thông tin và nhằm phản ánh chính xác tình hình hiện tại của công ty thì kế toán
công ty có thể mở tài khoản 151- hàng đang đi trên đường. Tài khoản này
thường dùng nhằm phản ánh tất cả các NVL, hàng hoá mua vào đã thuộc quyền
sở hữu của công ty, nhưng đến cuối tháng hàng vẫn chưa về nhập kho. Tài
khoản này có nội dung, kết cấu.
Bên Nợ: Phản ánh giá trị vật tư, hàng hoá đang đi trên đường
Bên Có : Phản ánh giá trị vật tư, hàng hoá đang đi trên đường đã về nhập
kho.
Số dư Nợ: Phản ánh giá trị vật tư, hàng hoá đang đi trên đường chưa về
nhập kho.
Với việc mở sổ tài khoản 151 theo dõi riêng cho các loại vật tư đã mua và
đang đi trên đường làm cho thông tin kế toán đưa ra chính xác chi tiết hơn. Nó
phản ánh được bức tranh hiện tại của công ty. Sử dụng tài khoản 151 để hạch
toán NVL đi trên đường như vậy kế toán công ty có thể tiến hành hạch toán
theo các bước sau:
- Đầu tháng khi công ty tiến hành mua NVL và hàng đang trên đường về,
hoá đơn về trước. Cuối tháng hàng về tiến hành hạch toán như bình thường
nhưng đến cuối tháng hàng vẫn chưa về:
Nợ TK 151: Giá mua hàng chưa thuế( NVL đang đi đường)
Nợ TK 133: thuế GTGT được khấu trừ
Có TK : 111,112,331,...: Giá thanh toán
Sang đầu tháng sau khi hàng về nhập kho công ty kế toán có thể ghi sổ
như sau:
Nợ TK 152( chi tiết): Giá trị hàng nhập kho theo gía thực tế
Có TK 151 : Giá trị hàng đi trên đường đã về nhập kho
Nếu số hàng đang đi đường tháng trước đã về và được sử dụng trực tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status