CƠ SỞ LÝ THUYẾT HỆ THỐNG KẾ TOÁN - Pdf 73

CƠ SỞ LÝ THUYẾT HỆ THỐNG KẾ TOÁN
1.1. Một số vấn đề cơ bản về kế toán và hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam.
1.1.1. Bản chất của kế toán.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán. Tuy nhiên các định nghĩa này đều
xoay quanh 2 khía cạnh : Khía cạnh khoa học và khía cạnh nghề nghiệp.
Xét trên khía cạnh khoa học thì kế toán đựơc xác định đó là khoa học về
thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế, tài chính gắn liền với một tổ chức nhất
định ( gọi chung là chủ thể ) thông qua một hệ thống các phương pháp riêng biệt.
Xét trên khía cạnh nghề nghiệp thì kế toán được xác định là công việc tính
toán và ghi chéo bằng con số mọi hiện tượng kinh tế - tài chính phát sinh tại một tổ
chức nhất định nhằm phản ánh và giám đốc tình hình hoạt động của doanh nghiệp
thông qua 3 thước đo : tiền, hiện vật và thời gian lao động trong đó tiền tệ là thước
đo chủ yếu.
Kế toán có 2 chức năng là chức năng phản ánh ( thông tin ) và chức năng
giám đốc ( kiểm tra ) . Hai chức năng này có mối liên hệ hữu cơ : chức năng phản
ánh là cơ sở để thực hiện chức năng giám đốc và ngược lại thông qua chức năng
giám đốc sẽ hoàn thiện chức năng phản ánh theo mục tiêu quản lý nhất định.
1.1.2. Vai trò của kế toán.
Kế toán là công cụ quản lý có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với bản
thân doanh nghiệp mà còn đối với các cơ quan chức năng của Nhà nước cũng như
các đối tượng có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của doanh
nghiệp.
Đối với Nhà nước : thông tin của kế toán là căn cứ để tổng hợp, để tính thuế,
để kiểm tra và chỉ đạo theo yêu cầu quản lý chung.
Đối với doanh nghiệp : thông tin của kế toán là cơ sở để lập kế hoạch, kiểm
tra đánh giá phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, kiểm tra chấp hành luật pháp
và là cơ sở để ra quyết định.
Đối với các đối tượng khác : thông tin của kế toán là căn cứ để quyết định đầu
tư, mua bán thanh toán cũng như xử lý những vấn đề liên quan đến quyền hạn,
trách nhiệm giữa doanh nghiệp và các bên có liên quan.
Trong hệ thống kế toán thì kế toán trưởng là người có vai trò rất quan trọng,

và bên ngoài doanh nghiệp, mang tính chất bắt buộc và phải đúng phương pháp,
nội dung theo mẫu cũng như phải nộp đúng thời hạn quy định ) và báo cáo quản trị
( là những báo cáo lập ra chỉ dành cho những người trong nội bộ công ty đó ).
1.2. Một số nghiệp vụ kế toán hiện nay.
1.2.1. Kế toán vốn bằng tiền và các khoản ứng trước.
Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản lưu động bao gồm : Tiền mặt tại
quỹ, tiền gửi ở các ngân hàng, công ty tài chính và tiền đang chuyển. Với tính
lưu hoạt cao nhất - vốn bằng tiền được dùng để đáp ứng nhu cầu thanh toán của
doanh nghiệp, thực hiện việc mua sắm hoặc chi phí.
Kế toán vốn bằng tiền cần tuân theo các quy tắc :
• Kế toán tổng hợp vốn bằng tiền sử dụng đơn vị tiền tệ thông nhất là VNĐ
• Các doanh nghiệp có sử dụng ngoại tệ trong hoạt động SXKD phải quy đổi ngoại
tệ ra đồng Việt Nam thep tỷ giá thực tế do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố
tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi sổ kế toán. Đồng thời phải hạch toán chi
tiết ngoại tệ theo từng loại nguyên tệ trên TK 007 “ Ngoại tệ các loại ” ( TK ngoài
bảng cân đối kế toán ). Nếu có chênh lệch thực tế giữa tỷ giá thực tế và tỷ giá đã
ghi sổ thì phản ánh khoản chênh lệch này vào TK 413 “ Chênh lệch tỷ giá ”.
• Vàng bạc đá quý phản ánh ở tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho các doanh
nghiệp không có chức năng kinh doanh vàng bạc đá quý.
Kế toán vốn bằng tiền bao gồm Kế toán tiền tại quỹ, kế toán tiền gửi
ngân hàng và kế toán tiền đang chuyển. Để minh họa cho các nghiệp vụ này,
tôi sẽ đưa ra một số dẫn chứng nghiệp vụ về kế toán tiền tại quỹ :
Kế toán tổng hợpsử dụng TK 111 “ Tiền mặt ” để phản ánh số hiện có và
tình hình thu chi tiền mặt tại quỹ.
TK 111 có 3 TK cấp 2
TK 1111 : Tiền Việt nam
TK 1112 : Ngoại tệ
TK 1113 : Vàng bạc, đá quý, kim khí quý.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 111 “ Tiền mặt ”
- Bên Nợ :

Có TK 111 ( 1111 ) - Tiền mặt ( VNĐ )….

1.2.2. Kế toán tài sản cố định trong doanh nghiệp.
Tài sản cố định là những tài sản có thể có hình thái vật chất cụ thể và cũng có
thể chỉ tồn tại dưới hình thái giá trị được sử dụng để thực hiện một hoặc một số
chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh, có giá trị lớn và sử dụng
được trong thời gian dài.
Kế toán tài sản cố định trong doang nghiệp có những nhiệm vụ sau :
• Ghi chép, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời số hiện có và tình hình tăng giảm
TSCĐ của toàn doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận trên các mặt số lượng, chất
lượng, cơ cấu, giá trị, đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc bảo quản, bảo dưỡng và sử
dụng TSCĐ ở các bộ phận khác nhau nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ.
• Tính toán kịp thời, chính xác số khấu hao TSCĐ đồng thời phân bổ đúng đắn chi
phí khấu hao vào các đối tượng sử dụng TSCĐ.
• Phản ánh và kiểm tra các khoản chi phí sửa chữa TSCĐ.
• Theo dõi, ghi chép, kiểm tra chặt chẽ quá trình thanh lý, nhượng bán TSCĐ nhằm
bảo đảm việc quản lý và sử dụng vốn đúng mục đích, hiệu quả.
• Lập các báo cáo về TSCĐ, tham gia phân tích tình hình trang bị, sử dụng và bảo
quản các loại tài sản cố định.
1.2.3. Kế toán các loại vật liệu và công cụ, dụng cụ trong doanh nghiệp.
Vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh,
tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm được sản xuất. Vật liệu là đối tượng lao
động nên có các đặc điểm : tham gia vào một chu kỳ sản xuất, thay đổi hình dáng
ban đầu sau quá trình sử dụng và chuyển toàn bộ giá trị vào giá trị của sản phẩm
được sản xuất ra.
Nhiệm vụ của kế toán vật liệu, công cụ , dụng cụ trong doanh nghiệp :
• Phản ánh chính xác kịp thời và kiểm tra chặt chẽ tình hình cung cấp vật liệu trên
các mặt : số lượng, chất lượng, chủng loại, giá trị và thời gian cung cấp.
• Tính toán và phân bổ chính xác kịp thời trị giá vật liệu xuất dùng cho các đối tượng

quỹ tiền lương và những quỹ khác. Đấu tranh chống những hành vi vô trách nhiệm,
vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách , chế độ về lao động, tiền lương…
1.2.5. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
Chi phi sản xuất bao gồm rất nhiều khoản khác nhau như chi phí về nguyên
vật liệu, chi phí về nhân công, về khấu hao tài sản cố định…Nói một cách tổng
quát, chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản hao phí vật chất mà doanh nghiệp đã bỏ
ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm. Chi phí sản xuất có các đặc điểm : vận
động, thay đổi không ngừng, mang tính đa dạng và phức tạp gắn liền với tính đa
dạng và phức tạp của nghành nghề sản xuất, quy trình sản xuất.
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp cũng
có những nhiệm vụ chung như những phân hệ kế toán khác.
Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm như sau :
• Phân loại chi phí sản xuất
• Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính sản phẩm.
• Xác định phương pháp hạch toán chi phí sản xuất phát sinh vào đối tượng hạch
toán chi phí sản xuất hoặc đối tượng tính.
• Xây dựng các loại sổ kế toán chi phí sản xuất.
• Xác định kỳ hạn tính giá thành và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang.
• Vận dụng phương pháp tính giá thành.
1.2.6. Kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ.
Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn chế biến cuối cùng
trong quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó của doanh nghiệp (ngoài ra còn
bao gồm cả những sản phẩm thuê ngoài gia công đã hoàn thành ) đã qua kiểm tra
kỹ thuật và được xác nhận là phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy trình, đã được
nhập kho hay giao trực tiếp cho khách hàng.
Kế toán thành phẩm cần thực hiên những nhiệm vụ chủ yếu sau đây :
• Phản ánh và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm về các mặt số
lượng, chất lượng và chủng loại mặt hàng sản phẩm, qua đó cung cấp thông tin kịp
thời cho việc chỉ đạo kiểm tra quá trình sản xuất ở từng khâu, từng bộ phận sản
xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status