LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP HIỆN NAY - Pdf 73

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
1.1. Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây lắp tác động
đến kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
1.1.1.Đặc điểm của sản xuất xây lắp.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng
tạo ra tài sản cố định, cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành kinh tế quốc
dân, tăng cường tiềm lực kinh tế cho đất nước. Hiện nay, nước ta đang trên
con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để tạo đà cho công cuộc
đó, việc phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt xây dựng cơ bản là vấn đề cần thiết
hơn bao giờ hết, nó giữ vai trò chủ chốt đối với sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân.
Mang tính chất của ngành sản xuất công nghiệp, song ngành XDCB có
những đặc thù riêng về kinh tế kỹ thuật thể hiện rõ ở sản phẩm cũng như quá
trình thi công sản xuất sản phẩm. Điều này chi phối trực tiếp đến việc tổ
chức công tác kế toán nói chung và tổ chức kế toán tập hợp CPSX và tính
giá thành sản phẩm nói riêng, đó là :
Thứ nhất : Sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc có quy mô
lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, quá trình thi công chia làm nhiều
giai đoạn. Do đó việc tổ chức quản lý và hạch toán chi phí sản xuất sản
phẩm XDCB phải thông qua dự toán và lấy dự toán làm thước đo hạch toán
chi phí và thanh toán công trình.
Thứ hai : Thi công từng công trình đều theo đơn đặt hàng do vậy nó phụ
thuộc vào yêu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình. Vì
vậy, khi thi công đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng
thiết kế kỹ thuật và phải đảm bảo được chất lượng công trình
Thứ ba: Quá trình từ khi thi côngcho đến khi công trình hoàn thành bàn
giao đưa vào sử dụng thường là dài, có thể là vài tháng, có thể là vài năm,
quá trình sản xuất có thể không liên tục, hơn nữa sản phẩm lại chịu ảnh lớn
của điều kiện tự nhiên, vì vậy quá trình tập hợp chi phí kéo dài, phát sinh

phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp; Từ đó vận dụng phương
pháp tập hợp chi phí và tính giá thành phù hợp; phản ánh kịp thời, chính xác
toàn bộ CPSX thực tế phát sinh.
-Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tư, chi phí nhân
công, dự toán chi phí sử dụng máy thi công và các chi phí khác. Phát hiện và
đề xuất những biện pháp hạn chế xhi phí phát sinh ngoài dự toán.
-Tính toán, đánh giá chính xác khối lượng thi công dở dang; tính đúng,
tính đủ giá thành sản phẩm xây lắp; kiểm tra tình hình thực hiện hạ giá
thành; đề ra khả năng và biện pháp hạ giá thành, bàn giao thanh quyết toán
kịp thời khối lượng xây lắp hoàn thành.
- Cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác cho lãnh đạo doanh
nghiệp và các đối tượng liên quan.
1.2. Những nội dung cơ bản về kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành
sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.1. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.1.1. Bản chất của CPSX trong doanh nghiệp xây lắp.
Quá trình sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là quá trình chuyển biến
của vật liệu xây dựng thành các công trình, vật kiến trúc dưới sự tác động
của máy móc thiết bị và sức lao động của công nhân. Tất cả những hao phí
được thể hiện dưới hình thái giá trị mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá
trình thi công tạo ra sản phẩm xây dựng chính là CPSX.
Như vậy, cũng như các doanh nghiệp khác, CPSX trong doanh nghiệp
xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hoá
mà doanh nghiệp đã chi ra trong một thời kỳ nhất định.
1.2.1.2.Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
CPSX trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại khác nhau với
tính chất, nội dung kinh tế và công dụng khác nhau.Việc quản lý sản xuất,
CPSX không chỉ dựa vào số liệu cụ thể của từng công trình, HMCT theo
những thời gian nhất định để có thể nắm được toàn bộ nơi phát sinh chi phí,
đối tượng chịu chi phí.... Do đó, việc phân loại CPSX hợp lý là hết sức cần

- CPNVLTT : Là những chi phí các loại vật liệu chính, vật liệu phụ, vật
liệu sử dụng luân chuyển cần thiết để tạo nên sản phẩm xây lắp .
- CPNCTT : Là chi phí tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương,
lương phụ có tính chất ổn định của công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sử dụng máy thi công : Là chi phí sử dụng máy để hoàn thành
sản phẩm xây lắp , gồm : Chi phí khấu hao MTC, chi phí sửa chữa thường
xuyên của máy thi công, động lực, tiền lương của công nhân điều khiển máy
và chi phí khác của MTC .
- CPSXC : Là những chi phí trực tiếp khác, chi phí cho bộ máy quản lý
tổ đội, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ .
Cách phân loại này cho phép xác định được những chi phí tính trong giá
thành sản phẩm xây lắp, đồng thời cho biết mức độ ảnh hưởng của từng loại
chi phí đến giá thành sản phẩm xây lắp .
+ Các cách phân loại khác :
- Phân loại CPSX theo phương pháp tập hợp CPSX và mối quan hệ với
đối tượng chịu chi phí. Theo cách phân loại này, CPSX gồm :
* Chi phí trực tiếp
* Chi phí gián tiếp
- Phân loại CPSX theo mối quan hệ CPSX với khối lượng sản xuất :
* Chi phí cố định ( Định phí )
* Chi phí biến đổi ( Biến phí )
1.2.2. Giá thành sản phẩm, các loại giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp .
1.2.2.1. Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp .
Để tiến hành xây dựng một công trình hay hoàn thành một khối lượng
công việc nhất định, doanh nghiệp phải đầu tư vào quá trình sản xuất thi
công một lượng chi phí nhất định. Những chi phí này cấu thành nên giá
thành công trình hoặc HMCT hoàn thành.
Như vậy, giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ CPSX thực tế : Chi phí
vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng MTC, chi phí trực tiếp khác ...

thực tế. Giá thành dự toán công tác xây lắp là căn cứ để kế hoạch hoá giá
thành công tác xây lắp và vạch ra các biện pháp tổ chức kinh tế kỹ thuật
nhằm đảm bảo nhiệm vụ hạ giá thành công tác xây lắp được giao .
Hiện nay, để thi công xây lắp một công trình các đơn vị xây dựng thường
tham gia đấu thầu. Để thắng thầu đơn vị xây dựng phải xây dựng được giá
đấu thầu hợp lý và đảm bảo chất lượng thi công công trình. Và như vậy
trong giá thành dự toán của CT, HMCT có các loại giá thành sau :
- Giá thành đấu thầu công tác xây lắp : Là một loại giá thành dự toán công
tác xây lắp do chủ đầu tư đưa ra để các tổ chức xây lắp căn cứ vào đó mà
tính toán giá thành dự thầu công tác xây lắp của mình. Nếu như thấy giá
thành của mình bằng hoặc thấp hơn giá thành do chủ thầu đưa ra thì sẽ tham
gia đấu thầu thi công xây lắp công trình.
- Giá thành hợp đồng công tác xây lắp : Là một loại giá thành dự toán
công tác xây lắp ghi trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và tổ chức
xây lắp sau khi đã thoả thuận giao nhận thầu. Đây cũng chính là giá thành dự
thầu công tác xây lắp của tổ chức xây lắp trúng thầu.
+ Giá thành kế hoạch công tác xây lắp ( Zkh )
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp là giá thành được xây dựng trên cơ sở
những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức đơn giá, biện
pháp thi công. Giá thành kế hoạch được xác định theo công thức :
Zkh của CT , HMCT = Zdt của CT , HMCT - Mức hạ giá thành kế
hoạch

Như vậy, giá thành kế hoạch công tác xây lắp khác với giá thành công
tác dự toán công tác xây lắp là được lập ra không dựa vào định mức dự toán
mà dựa vào những định mức chi phí nội bộ của tổ chức xây lắp. Về nguyên
tắc định mức chi phí nội bộ này phải tiên tiến hơn định mức dự toán. Vì vậy,
giá thành dự toán chỉ được nhỏ hơn hoặc bằng giá thành hợp đồng nên giá
thành kế hoạch là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành công tác xây lắp trong giai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status