LỜI NÓI ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những hướng quan trọng của quá trình
cải cách doanh nghiệp nhà nước- bộ phận không thể thiếu trong thành phần kinh tế nhà
nước. Theo hướng đó, Đảng ta đã lựa chọn cổ phần hóa như một phương thức có hiệu quả
để đổi mới các doanh nghiệp nhà nước như các Nghị quyết 3 và Nghị quyết 9 của Ban
chấp hành Trung ương khóa IX đã nêu rõ.
Thực tế, kinh nghiệm của các nước trên thế giới đã cho thấy, cải cách chế độ cổ
phần được coi là một đột phá lý luận kinh tế. Cụ thể, Trung Quốc từ năm 1997 đến 2001,
xí nghiệp cổ phần tăng từ 7.200 lên tới gần 300.000, số lao động từ 6.437 triệu người lên
đến 27.466 triệu người, doanh thu từ 813.1 tỷ nhân dân tệ lên 5.673,3 tỷ NDT. Thực tế đó
có sức thuyết phục, đem lại nhận thức đúng đắn về vai trò của cổ phần hóa trong xây dựng
kinh tế đất nước.
Cổ phần hóa tại Việt Nam được thực hiện từ năm 1992. Vậy cho đến nay, chính
sách ấy được thực hiện như thế nào, mang lại hiệu quả ra sao? Với mong muốn giải quyết
các vấn đề ấy, tôi đã chọn chủ đề ‘Đánh giá thực trạng công tác cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước’
cho tiểu luận của mình.
II. MỤC TIÊU CỦA TIỂU LUẬN
I Tìm hiểu mục tiêu của cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước.
T Tìm hiểu thực trạng cổ phần hóa DNNN ở nước ta trong thời gian qua.
T Đưa ra giải pháp để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa.
III. KẾT CẤU TIỂU LUẬN
Để giải quyết các mục tiêu trên, tiểu luận lần lượt nghiên cứu 03 phần chính như sau:
Đ Phần 1 - Chính sách nhà nước trong vấn đề cổ phần hóa: tìm hiểu các vấn đề như
mục tiêu cổ phần hóa, danh mục phân loại Doanh nghiệp nhà nước trong cổ phần hóa,
phương pháp, lộ trình cổ phần hóa ….
p Phần 2 - Thực trạng tình hình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam trong thời gian qua:
trình bày những kết quả đạt được cũng như các vấn đề còn tồn tại trong quá trình cổ phần
hóa.
h Phần 3 - Giải pháp nhằm đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cụ thể, người lao động được ưu tiên mua cổ phiếu của doanh nghiệp được cổ phần
hoá với giá ưu đãi, được tiếp tục tham gia và hưởng quyền về bảo hiểm xã hội và được cấp
sổ bảo hiểm xã hội nếu là lao động mới. Người lao động được đào tạo lại nghề nếu thuộc
diện phải đào tạo lại nghề để tiếp tục làm việc ở công ty cổ phần. Người lao động nghèo
được hưởng các ưu đãi kể cả khi mua cổ phần như mua chịu, mua với giá ưu đãi, v.v.
Những người lao động dôi dư do cổ phần hoá được hưởng các chính sách hỗ trợ
đối với lao động dôi dư theo quy định của Nghị định số 41/2002/NĐ-CP, ngày 11 tháng 4
năm 2002, của Chính phủ.
I.2 Danh mục phân loại DNNN trong cổ phần hóa
- Theo Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg, ngày 26 tháng 4 năm 2002, của Thủ tướng Chính
phủ, ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước và Tổng công ty nhà
nước:
1. Những doanh nghiệp nhà nước thuộc diện Nhà nước sẽ nắm giữ 100% vốn:
1 Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực độc quyền nhà
nước; trong các ngành, lĩnh vực then chốt, sản phẩm quan trọng có vốn nhà nước từ 20 tỷ
đồng trở lên, có mức thu nộp ngân sách bình quân 3 năm liền kề từ 3 tỷ đồng trở lên, đi
đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao và góp phần quan trọng ổn
định kinh tế vĩ mô; doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào nông thôn, đồng bào dân tộc ở miền
núi, vùng sâu, vùng xa; doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có tính chất đặc thù.
n Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích quan trọng; doanh nghiệp thực hiện các
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp đóng tại các địa bàn chiến lược quan trọng
kết hợp kinh tế với quốc phòng.
2. Những doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá, Nhà nước sẽ nắm giữ cổ phần chi
phối:
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực
quan trọng có vốn nhà nước từ 10 tỷ đồng đến dưới 20 tỷ đồng, mức thu nộp ngân sách
nhà nước bình quân 3 năm liền kề từ 1 tỷ đồng trở lên và một số loại doanh nghiệp hoạt
động công ích.
3. Những doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá, Nhà nước sẽ không nắm giữ cổ
Là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên khả năng sinh lời của doanh nghiệp
trong tương lai, không phụ thuộc vào giá trị tài sản của doanh nghiệp.
Phương pháp này được áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động
trong các ngành dịch vụ thương mại, dịch vụ tư vấn, thiết kế xây dựng, dịch vụ tài chính,
kiểm toán, tin học và chuyển giao công nghệ: có tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở
hữu bình quân 5 năm liền kề của doanh nghiệp trước cổ phần hoá cao hơn lãi suất trái
phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểm gần nhất trước thời điểm xác định giá trị
doanh nghiệp.
I.4 Lộ trình cổ phần hóa DNNN- Các chính sách mới
Thay vì chỉ cổ phần hoá (CPH) những DN nhỏ, yếu kém và đơn vị phụ thuộc của
các Cty, Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 126/2004/TT-BTC của
Bộ Tài chính ban hành ngày 24.12 đã bổ sung thêm đối tượng CPH là Cty nhà nước có quy
mô lớn không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn. Như vậy, các TCty, Cty, ngân
hàng thương mại và các tổ chức tài chính nhà nước đều nằm trong diện CPH.
Nghị định mới cũng xoá bỏ việc xác định giá trị DN theo cách tổ chức hội đồng để
nâng cao tính chuyên nghiệp và minh bạch trong hoạt động định giá, đẩy nhanh tiến độ
CPH. Việc xác định giá trị DN sẽ do các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện.
Tuy nhiên, với DN quy mô nhỏ, tổng giá trị tài sản dưới 30 tỉ đồng, nếu không thuê
định giá thì cơ quan quyết định CPH có thể giao cho DN tự xác định giá trị DN.
Việc bán cổ phần sẽ thực hiện thông qua đấu giá. Nếu tổng mệnh giá cổ phần dưới
1 tỉ đồng, Ban chỉ đạo CPH sẽ tổ chức bán. Từ trên 1 tỉ đồng đến 10 tỉ đồng phải qua đấu
giá tại các tổ chức tài chính trung gian và trên 10 tỉ đồng phải thực hiện đấu giá tại Trung
tâm Giao dịch chứng khoán.
Bên cạnh cơ chế bán cổ phần ưu đãi cho người lao động trong DN, Nghị định 187
đã chú trọng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược tham
gia góp vốn mua cổ phần. Chính sách mới không khống chế quyền mua của các nhà đầu tư.
Riêng nhà đầu tư nước ngoài hiện nay theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước, thì tỉ lệ nắm giữ tối đa là 30%.
Các nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần với giá ưu đãi giảm 20% so với giá
đấu thành công bình quân, người lao động trong DN được mua theo giá ưu đãi giảm 40%
căn cứ vào tiêu chí phân loại công ty Nhà nước chuyển các doanh nghiệp thành viên thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
2 thành viên trở lên.
II. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA:
II.1 Kết quả đạt được:
Trên mười năm qua, những đổi mới về cơ chế, chính sách cổ phần hóa DNNN đã
và đang được triển khai và phát huy tác dụng, tiến độ cổ phần hóa DNNN từng bước được
đẩy mạnh.
Theo Bộ KHĐT, từ năm 1992 đến hết năm 2005, cả nước đã cổ phần hoá được
2.996 DNNN, trong đó riêng năm 2005 CPH được 724 DN. Khảo sát hơn 850 DN đã CPH
của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển DN cho thấy, trong năm 2005 số vốn điều lệ tăng
bình quân tới 44%, doanh thu tăng 24%, lợi nhuận tăng 140%, thu nhập của người lao
động tăng 12%.
Theo số liệu khảo sát 559 doanh nghiệp cổ phần hóa của Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế Trung ương cho tháy 87.53% số doanh nghiệp có kết quả hoạt động tài chính tốt
hơn hoặc tốt hơn rất nhiều so với trước cổ phần hóa. So sánh năm đầu cổ phần hóa với
năm cuối của mô hình doanh nghiệp nhà nước cho thấy lợi nhuận sau thuế tăng tới 48.8%
ngay sau khi cổ phần hóa. Ngay trong năm sau cổ phần hóa, năng suất lao động của các
doanh nghiệp đã tăng lên 26%, tiền lương bình quân tăng trên 20% và đầu tư tài sản cố
định tăng 23.1% so với khi còn là DNNN. Tốc độ tăng trưởng nói trên của 559 doanh
nghiệp tiếp tục được duy trì trong suốt quá trình hoạt động dưới mô hình công ty cổ phần.
Doanh thu tăng 13.4%/năm, lợi nhuận trước thuế đạt mức tăng trưởng 9.4%, lợi nhuận sau
thuế tăng 54.3%; năng suất lao động tăng 18.3%/năm; đầu tư tài sản cố định tăng 11.5%;
lương bình quân tăng 11.4%.
Nhìn chung, các DNNN đã giảm mạnh về số lượng, và cải thiện đáng kể về quy mô
vốn. Cơ cấu DNNN đã bắt đầu chuyển đổi theo hướng chỉ nắm giữ những ngành, lĩnh vực
then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ
chủ yếu. Đa số doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa đều có tình hình tài chính tốt hơn so với
trước khi chuyển đổi. Năng suất lao động, tiền lương, đầu tư tài sản cố định đều tăng đáng
một thành viên 124 doanh nghiệp và các hình thức khác là 182 doanh nghiệp... Và tính
riêng trong năm 2005 đã sắp xếp được 588 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hoá 444 doanh
nghiệp. Đây là kết quả của sự nỗ lực từ việc cải cách chính sách, cơ chế của Nhà nước, sự
sáng tạo vươn lên của các doanh nghiệp trong môi trường kinh tế cởi mở và hội nhập hiện
nay.
Thông qua việc sắp xếp, chuyển đổi sở hữu, các doanh nghiệp nhỏ, thua lỗ đã giảm
mạnh; đồng thời phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn cũng như mở rộng diện cổ phần
hoá, đồng thời đã hình thành các tổng công ty, doanh nghiệp đặc thù trong ngành bảo
hiểm, ngân hàng, dầu khí, bưu chính viễn thông... Các cơ quan chức năng cũng đang xây
dựng đề án thí điểm hình thành các tập đoàn như điện lực, công nghiệp tàu thuỷ, công
nghiệp xi măng, dệt may...
Công cuộc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã và đang thực sự trở bước
chuyển mình quan trọng để sắp xếp lại, tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu
quả doanh nghiệp Nhà nước và bước đầu đã gắn với thực hiện bán cổ phần, niêm yết, đăng
ký giao dịch tại các trung tâm giao dịch chứng khoán Việt Nam.
Cũng theo Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, từ năm 2001 đến hết
năm 2005, cả nước đã sắp xếp lại được 3.349 doanh nghiệp nhà nước trong tổng số 5.655
doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 2.188 doanh nghiệp, giải thể 252 doanh nghiệp, sáp
nhập và hợp nhất 416 doanh nghiệp, giải thể phá sản 184 doanh nghiệp, chuyển thành công
ty trách niệm hữu hạn một thành viên 124 doanh nghiệp và các hình thức khác là 182
doanh nghiệp.
Theo đánh giá, việc bước đầu cổ phần hóa một số doanh nghiệp quy mô lớn như
Công ty Khoan và Dịch vụ Dầu khí, các nhà máy điện Sông Hinh-Vĩnh Sơn, Thác Bà, Phả
Lại, đã thu hút vốn từ xã hội nhiều hơn, nhất là từ các nhà đầu tư chiến lược, tạo điều kiện
đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức tổ chức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Bên cạnh đó, việc cổ phần hóa cũng đã làm cho thị trường chứng khoán ngày càng
sôi động. Năm 2005, đã có thêm 8 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán với
tổng số vốn 508 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiệp niêm yết lên 34, trong đó 29 đơn vị là
các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa.
Năm 2005, doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục giữ vững vai trò nòng cót trong nền
Đặc biệt một số doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa, vốn điều lệ đã tăng từ 7 đến 10
lần, thậm chí có trưởng hợp tăng tới 30 lần. Cụ thể như vốn điều lệ Công ty cổ phần Bảo
vệ thực vật An Giang tăng 7 lần, của Công ty cổ phần Cơ điện lạnh tăng 13 lần, Công ty cổ
phần Đại lý liên hiệp vận chuyển tăng tới 30 lần… Đây là những động lực cụ thể nhất cho
quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới. Ngoài ra, thông qua việc
thực hiện cổ phần hóa, đa dạng hóa sẽ thay đổi tận gốc phương thức quản lý trong các
doanh nghiệp nhà nước trước đây để áp dụng phương thức quản lý mới, tự chủ hơn, linh
hoạt và trách nhiệm hơn.
Tính đến cuối năm 2005, cả nước đã thực hiện cổ phần hóa được 3.107 doanh
nghiệp và đơn vị phụ thuộc của công ty nhà nước. Trong đó có 1.245 công ty được chuyển
đổi từ bộ, ngành Trung ương, 1.826 công ty được chuyển đổi từ các công ty thuộc UBND
cấp tỉnh.
Những kết quả trên đã khẳng định tính đúng đắn của Nghị quyết TW3 khóa 9. đặc
biệt sau khi có nghị quyết TW9 khoá 9, đã tạo được sự thống nhất cao trong tư tưởng nhận
thức của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, nhân dân và được dư luận quốc tế đồng tình;
cho thấy đa dạng hoá sở hữu trong kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần đang là
động lực thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển và có khả năng cạnh tranh hội nhập.
Thông qua việc bán đấu giá lần đầu 720.000 cổ phần của Công ty Sữa Việt Nam
(Vinamilk), Nhà nước thu thêm được 39,6 tỷ đồng, bình quân tăng 55% so với mệnh giá;
Công ty Bảo hiểm TP.HCM bán đấu giá 434.000 cổ phần lần đầu thu thêm được 30 tỷ
đồng, tăng 223% so với mệnh giá. Đó là những ví dụ sinh động về kết quả cổ phần hoá
(CPH) các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) gần đây.
Trong năm 2005, Tp.HCM đã hoàn thành cổ phần hoá 55 doanh nghiệp, vượt 5
doanh nghiệp so với chỉ tiêu của Chính phủ. Thành phố cũng sắp xếp và chuyển đổi 19
doanh nghiệp sang công ty TNHH 1 thành viên, và thông qua đề án chuyển 17 Tổng Công
ty và công ty lớn sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-công ty con. Như vậy, qua 5
năm thực hiện chương trình sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước, Tp.HCM đã sắp
xếp và chuyển đổi 285 doanh nghiệp, trong đó có 172 doanh nghiệp được cổ phần hóa, đi
đầu cả nước trong công tác đổi mới doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều
đạt hiệu quả rõ rệt trong sản xuất kinh doanh và thực hiện được các mục tiêu đề ra, tạo ra