Các qui luật địa lý chung của Trái đất - Pdf 73

Các qui luật địa lý chung của Trái đất
Vỏ Trái đất nói chung hay vỏ cảnh quan nói riêng hoặc từng bộ
phận của nó là một hệ thống động lực. Các hệ thống này không
ngừng vận động và phát triển theo những qui luật chung nhất tạo
nên sự thống nhất giữa các hợp phần cấu tạo và sự phân hóa thành
các bộ phận lãnh thổ nhỏ hơn. Các qui luật địa lý chung của Trái
đất trình bày trong chương này gồm:
1) Tính hoàn chỉnh của Vỏ cảnh quan
2) Sự tuần hoàn của vật chất và năng lượng của Vỏ cảnh quan
3) Tính nhịp điệu của Vỏ cảnh quan
4) Qui luật địa đới và phi địa đới.
3.1 Tính hoàn chỉnh của vỏ cảnh quan
3.1.1 Khái niệm
Vỏ cảnh quan Trái đất là một thể thống nhất và hoàn chỉnh về mặt
cấu trúc thành phần, đồng thời không đồng nhất về mặt lãnh thổ, có
sự phân dị thành các địa tổng thể với qui mô khác nhau. Tuy vậy
bất kỳ địa tổng thể ở qui mô nào cũng là một hệ thống có các đặc
điểm sau:
• Gồm nhiều thành phần cấu tạo và giữa chúng có mối quan hệ
vật chất và năng lượng.
• Có mối liên hệ với bên ngoài và do đó mỗi địa tổng thể là một
bộ phận của một hệ thống lớn hơn.
• Sự thống nhất nội hệ thống chỉ có tính chất tương đối, do đó
mỗi địa tổng thể lại có thể phân hóa thành những địa tổng thể
nhỏ hơn, tạo nên đặc tính cấu trúc bậc của hệ thống.
2
3.1.2 Sự thống nhất của hệ thống vật liệu
Mỗi thành phần của vỏ cảnh quan (nền đá, địa hình, thổ nhưỡng,
nước, thế giới hữu cơ, v.v…) tồn tại và phát triển theo những qui
luật riêng của nó. Tuy nhiên từng thành phần không tồn tại và phát
triển một cách cô lập, mà chúng chịu ảnh hưởng của các thành

chúng bị thay đổi, trong khi đó những con đường cạn trờ thành
vật chướng ngại không thể vượt qua đối với các sinh vật dưới
nước.
• Ảnh hưởng gián tiếp, đó là sự hạ thấp của mực nước đại
dương sẽ dẫn đến sự hạ thấp mực xâm thực cơ sở của các sông
đổ ra đại dương, gây ra sự tăng cường của xâm thực sâu, các
sông suối khoét sâu, chia cắt bề mặt địa hình nổi mạnh mẽ
hơn.
• Ngược lại, vào thời kỳ gian băng, nước băng tan của băng hà
trở lại đại dương làm cho mực nước đại dương tăng lên, các
biển ven lục địa xuất hiện, các đại lục và các đảo tách rời, mực
cơ sở xâm thực của các sông nâng cao dẫn đến quá trình tích
tụ trầm tích, sự di cư của các hệ thực vật và động vật bị hạn
chế, sự di cư của các sinh vật dưới nước tự do hơn, các ám
tiêu san hô bắt đầu tăng tiến.
Như vậy Vỏ cảnh quan về toàn thể là một hệ thống đồng thời vừa
hoàn chỉnh vừa không cân bằng.
3.1.3 Ý nghĩa thực tiễn của qui luật thống nhất và hoàn
chỉnh
Mọi hoạt động kinh tế của xã hội loài người thực tế là sự can thiệp
vào bước tiến triển xác định của quá trình tự nhiên trong Vỏ cảnh
quan. Việc thay thế thực vật hoang dại bằng thực vật gieo trồng,
việc xây dựng các đập trên sông, việc dẫn nước tới các miền hạn
hán, việc làm khô các đầm lầy vv…nhất định sẽ ảnh hưởng tới toàn
4
bộ tổng thể tự nhiên của cảnh quan và trải qua một thời gian có thể
dẫn đến những kết quả bất ngờ, trong đó có cả các kết quả trái với
ý muốn của con người.
Ví dụ: sau khi đập thủy điện Trị An trên sông Đồng Nai được xây
dựng, đáy sông dưới đập bị xâm thực sâu 0,5-1,0m do thiếu hụt

nướng, sưởi ấm, v.v…chỉ là những năng lượng mà trái đất giữ lại
từ hai nguồn năng lượng chính nêu trên”
Năng lượng từ Mặt trời là nguồn năng lượng chính của mọi quá
trình diễn ra trong Vỏ cảnh quan. Nguồn năng lượng này là động
lực thúc đẩy sự trao đổi nhiệt trong khí quyển và trong thủy quyển,
tạo nên sự cân bằng nhiệt trên trái đất và trả năng lượng dư thừa
vào trong vũ trụ.
Ngoài sự trao đổi năng lượng, còn đồng thời có sự trao đổi vật chất
của các nguyên tố hóa học với nhau, nhất là ôxi, hidrô, cacbon, nitơ
v.v…ở nhiều qui mô khác nhau, tạo nên vô số vòng tuần hoàn năng
lượng và vật chất hết sức đa dạng mà ta đã được biết như vòng tuần
hoàn của nước, vòng tuần hoàn của đá, vòng tuần hoàn sinh vật,
vòng tuần hoàn của không khí, vòng tuần hoàn của các hải lưu,
vòng tuần hoàn của khí cacbonic, của đạm hay của oxi v.v…
3.2.2 Vòng tuần hoàn của đá
Bằng nghiên cứu các vết lộ đá ở nhiều vùng khác nhau, các nha
khoa học địa chất đã đi đến kết luận là các đá trong vỏ Trái đất tuân
theo một hình mẫu được lặp đi lặp lại qua suốt các thời kỳ địa chất.
Chuỗi các sự kiện này được Hutton gọi là chu kỳ địa chất hay vòng
tuần hoàn của đá. Mặc dù vòng tuần hoàn này không có điểm bắt
đầu và kết thúc xác định, nhưng có thể khái quát như sau:
6
Hình 3.1 Sự tuần hoàn của đá gồm: trầm tích-tạo đá trầm tích-biến đổi thành đá magma
hay biến chất-tạo núi-bào mòn, vận chuyển và tích tụ trầm tích
• Trầm tích bở rời ban đầu được lắng đọng thành những lớp
nằm ngang liên tục theo nguyên lý Steno.
• Các lớp đá trầm tích bở rời dưới đáy bị chôn vùi và nén chặt
tạo thành đá trầm tích-đó là quá trình thành đá.
• Các đá trầm tích bị lún chìm sâu hơn, chịu nhiệt độ và áp suất
cao hơn. Trong điều kiện đó, đá bị biến dạng, các lớp có thể bị

dòng sông thành dòng chảy mặt.
• Phần lớn lượng nước bị giữ lại bởi thảm thực vật và dòng chảy
mặt sẽ quay trở lại bầu khí quyển qua con đường bốc hơi.
8
• Lượng nước thấm trong đất có thể thấm sâu hơn xuống các địa
tầng bên dưới để cấp nước cho kho nước ngầm, sau đó xuất lộ
thành các dòng suối hoặc chảy dần vào sông ngòi thành dòng
chảy mặt và cuối cùng đổ ra biển hoặc bốc hơi vào khí quyển.
Hình 3.2 Vòng tuần hoàn của nước với cân bằng nước trung bình năm toàn Trái đất cho
dưới dạng đơn vị tương đối so với 100 lượng mưa rơi trên lục địa
3.2.4 Vòng tuần hoàn sinh-hóa-địa
Vòng tuần hoàn sinh-hóa-địa đóng vai trò lớn trong Vỏ cảnh quan.
Trong bước tiến triển của sự tuần hoàn này các chất vô cơ trong hệ
sinh thái theo con đường từ ngoại cảnh chuyển vào cơ thể sinh vật,
rồi từ cơ thể sinh vật chuyển trở lại ngoại cảnh.
Vòng tuần hoàn sinh-hóa-địa là một trong những cơ chế cơ bản để
duy trì sự cân bằng trong sinh quyển. Các vòng tuần hoàn có vị trí
quan trọng và được đề cập nhiều đó là vòng tuần hoàn của các
9
nguyên tố chính như: carbon, nitơ và photpho. Có hai kiểu tuần
hoàn sinh-hóa-địa:
Vòng tuần hoàn của các nguyên tố như cacbon, nitơ ở dạng khí
trong khí quyển và trong cơ thể sinh vật sẽ trở lại ngoại cảnh tương
đối nhanh.
Vòng tuần hoàn của phôtpho, lưu huỳnh chủ chịu chi phối mạnh
bởi tác động của những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên (xói mòn,
bồi tụ) và những tác động của con người.
3.2.5 Vòng tuần hoàn trong khí quyển
Sự khác nhau về nhiệt độ giữa xích đạo và cực trong tầng đối lưu
(qui luật địa đới) và ảnh hưởng của lực Coriolit là nguyên nhân

hoàn lưu địa phương như gió Bờri, gió phơn, gió núi-thung lũng
v.v…
Hình 3.3 Vòng tuần hoàn của khí quyển trong quả cầu quay
3.2.6 Vòng tuần hoàn trong các đại dương
Các loại gió và các vòng tuần hoàn trong khí quyển đã hình thành
các dòng tuần hoàn trong các đại dương. Ví dụ vòng tuần hoàn
nước mặt chủ yếu của Đại tây Dương được hình thành như sau:
• Các dòng xích đạo bắc và nam di chuyển theo hướng hướng
tây do tác động của gió tín phong thổi từ đông bắc ở bắc bán
cầu và từ đông nam ở nam bán cầu. Do hiệu ứng Coriolit,
dòng xích đạo bắc lệch về bên phải và dòng xích đạo nam lệch
về bên trái.
• Khi các dòng này đến gần Nam Mỹ, một dòng lệch về phía
bắc và một dòng lệch về phía nam. Sự lệch này gây ra bởi hình
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status