Chương 6: DẠNG NẰM UỐN NẾP CỦA CÁC LỚP
6.1. Nếp uốn và các yếu tố của chúng
6.1.1. Khái niệm
Những đoạn uốn cong dạng sóng trong các tầng phân lớp được hình thành khi đất đá bò
biến dạng dẻo gọi là nếp uốn. Hiện tượng uốn nếp xảy ra trong nhiều loại đá.
Chúng ta nhận biết nếp uốn thông qua cấu tạo mặt như: mặt phân lớp, mặt phiến, mặt thớ
chẻ,..
Nếp uốn hình thành và quan sát
được ở nhiều tỷ lệ khác nhau.
Ở tỷ lệ trung bình (cm đến hàng chục
mét) có thể quan sát bằng mắt
thường.
Ở tỷ lệ nhỏ, trong hạt khoáng vật chỉ
nhận biết nhờ kính hiển vi.
Ở tỷ lệ lớn phát hiện qua công tác đo
vẽ bản đồ.
6.1.2. Các nếp uốn cơ bản và các yếu tố của chúng
- Nếp lồi: Phần trung tâm phân bố các
đá cổ hơn phần rìa xung quanh.
- Nếp lõm: Phần trung tâm phân bố các
đá trẻ hơn phần rìa xung quanh.
Các yếu tố của nếp uốn
- Vòm hay nhân nếp uốn: Là phần nếp uốn các lớp bò uốn cong.
Khi nghiên cứu đặc điểm hình dạng gọi là vòm
-
Mặt đỉnh nếp uốn
: là mặt phẳng nối liền các vò trí cao nhất của lớp tạo nên nếp uốn.
Mặt đỉnh (CD) và mặt trục (AB) của nếp uốn
-
Đường đỉnh nếp uốn
: Là giao tuyến của đường đỉnh với mài hay đáy của một lớp bất kì
trong nếp uốn.
-
Kích thước của nếp uốn
:
-
Chiều dài
: Khoảng cách theo đường trục của hai
đỉnh uốn cong cùng chiều của bản lề
-
Chiều rộng
: Khoảng cách giữa hai mặt trục giữa
hai nếp lồi hay nếp lõm bằng nhau.
-
Chiều cao
: Khoảng cách theo chiều thẳng đứng
giữa vòm nếp lồi và vòm nếp lõm kề nhau trong cùng
một lớp.
6.2. Phân loại nếp uốn theo hình thái
6.2.1. Phân loại nếp uốn theo vò trí mặt trục
Gồm: Đối xứng, không đối xứng,
nghiêng, đảo lộn, nằm, chúc đầu.