lý luận chung về kế toán nghiệp vụ bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường - Pdf 73

lý luận chung về kế toán nghiệp vụ bán hàng ở
các doanh nghiệp thơng mại trong điều kiện
kinh tế thị trờng.
I. đặc điểm nghiệp vụ bán hàng và nhiệm vụ kế toán
1. đặ c điể m củ a kin h tế t hị tr ờn g và hoạ t đ ộn g của
d oa n h n g hi ệ p th ơ n g mạ i t ron g n ền ki n h t ế t hị t r ờn g .
Cùng với lịch sử phát triển của loài ng ời thì kinh tế xã hội cũng
có bớc tiến phù hợp. Hình thái kinh tế chuyển từ kinh tế tự nhiên lên
hình thái kinh tế cao hơn đó là kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá ra
đời đánh dấu sự phát triển của nền kinh tế xã hội, cho đến nay nó đã
phát triển và đạt tới trình độ cao đó là nền kinh tế thị trờng. Kinh tế
thị trờng là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó các quan hệ kinh
tế, phân phối sản phẩm, lợi ích đều do các quy luật của thị trờng điều
tiết, chi phối.
Thị trờng là nơi mua bán trao đổi một hoặc một số loại hàng hoá
nào đó, hay nói cách khác đây là nơi gặp giữa cung và cầu. Thị tr ờng
cũng là nơi tập trung nhiều nhất các mâu thuẫn của nền kinh tế hàng
hoá, là nơi khởi điểm và kết thúc của quá trình kinh doanh. Trong thị
trờng giá cả là phạm trù trung tâm là bàn tay vô hình điều tiết và kích
thích nền sản xuất xã hội. Thông qua giá cả thi tròng, thị trờng thực
hiện các chức năng điều tiết và kích thích của mình trong đó cung và
cầu là hai phạm trù kinh tế lớn bao trùm lên thị trờng, quan hệ cung
cầu trên thị trờng đã quyết định giá cả thị trờng.
Tóm lại, kinh tế thị trờng là nền kinh tế đợc vận hành theo cơ chế thị
trờng, mà cơ chế thị trờng là tổng thể các nhân tố quan hệ cơ bản vận
động dới sự chi phối của các quy luật thị tr ờng trong môi trờng cạnh
tranh nhằm mục đích sinh lợi.
Nền kinh tế thị trờng có các đặc trng cơ bản sau :
Thị trờng và cơ chế thị trờng là yếu tố khách quan, từng doanh
nghiệp không thể làm thay đổi thị trờng mà họ phải tiếp cận và tuân
theo thị trờng. Qua thị trờng các doanh nghiệp có thể tự đánh giá lại

tự do lựa chọn sản xuất kinh doanh nằm trong khuôn khổ pháp luật
quy định.
Qua đó ta thấy nền kinh tế thị trờng có khả năng tự động tập
hợp đợc các loại hành động, trí tuệ và tiềm lực của hàng loạt con ng ời
nhằm hớng đến lợi ích chung của xã hội đó là : Thúc đẩy tăng tr ởng
kinh tế, tăng năng xuất lao động và tăng hiệu quả kinh tế. Nhng nền
kinh tế thị trờng không phải là một hệ thống đợc tổ chức hài hoà mà
trong hệ thống đó cũng chứa đựng đầy những mâu thuẫn phức tạp. Vì
vậy để khắc phục và hạn chế đợc những tác động tiêu cực của cơ chế
thị trờng cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế
thị trờng.
Với điều kiện nền kinh tế thị trờng nh thế các doanh nghiệp th-
ơng mại cũng cần phải thay đổi cách nhìn về kinh doanh của mình.
Nếu nh trớc đây mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải
tuân theo một hệ thống kế hoạch từ trên truyền xuống : vốn thì đã đ ợc
nhà nớc cấp, kế hoạch mua bán, giá cả đã có sẵn chỉ việc tuân theo,
lãi doanh nghiệp hởng, lỗ đã có nhà nớc bù. Nhng ngày nay khi
chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp lúc này phải tự
chủ về tài chính, tự điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình, lãi thì
hởng, lỗ tự bù. Do vậy, mọi hoạt động kinh doanh đều đ ợc doanh
nghiệp tính toán kỹ càng để đa ra các quyết định đúng đắn tránh rủi
ro cho công ty mình.
Trong môi trờng mới,hoạt động kinh doanh thơng mại cũng
mang những đặc điểm của thơng mại thị trờng. Đó là :
Các doanh nghiệp thơng mại đều phải tuân thủ theo giá cả thị
trờng là hình thức biểu hiện của giá trị thị trờng.
Quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh là những
yếu tố quyết định tới giá cả thị trờng.
Trên thị trờng ngời bán và ngời mua có quan hệ lợi ích đối lập
nhau.Ngời bán muốn bán với giá cao, ngời mua muốn mua với giá

Hiện nay có 2 phơng thức bán buôn nh sau:
+Bán buôn qua kho
+Bán buôn chuyển thẳng.
2.1.1.1 Bán buôn qua kho:
Là bán buôn hàng hoá mà hàng bán đợc xuất ra từ kho bảo quản
của doanh nghiệp. Trong phơng thức này có 2 hình thức.
a. Bán buôn qua kho bằng cách giao hàng trực tiếp:
Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho doanh nghiệp
để nhận hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hoá, giao trực tiếp cho đại
diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua kí nhận đủ hàng, bên mua đã
thanh toán tiền mặt hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá đ ợc xác định là tiêu
thụ.
b. Bán buôn qua kho bằng cách chuyển hàng:
Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã kí kết, doanh
nghiệp xuất kho hàng hoá, bằng phơng tiện vận tải của mình hoặc
thuê ngoài, chuyển đến giao cho bên mua ở một địa điểm thoả thuận
trớc giữa hai bên. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp, số hàng này đợc xác nhận là tiêu thụ khi nhận đợc tiền
do bên mua thanh toán hoặc nhận đợc giấy báo của bên mua đã nhận
đợc hàng và chấp nhận thanh toán.
2.1.1.2. Bán buôn chuyển thẳng :
Là các doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua không
về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua.
Phơng thức này có thể thực hiện theo các hình thức :
a. Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán :
Doanh nghiệp mua hàng của nhà cung cấp và chuyển đi bán
thẳng cho bên mua bằng phơng tiện vận tải tự có hoặc mua ngoài.
Hàng hoá gửi đi vẫn còn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi
nào bên mua nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán thì doanh nghiệp
mới ghi nhận doanh thu.

bán ra trong ca(ngày). Sau đó lập báo cáo bán hàng để xác định doanh
số bán, đối chiếu với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền.
Ngoài hai phơng thức trên, trong bán lẻ còn có các hình thức khác nh
bán lẻ tự phục vụ, bán hàng tự động,...
2.2. Các phơng thức thanh toán :
Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận đợc chấp nhận thanh
toán, bên bán có thể nhận tiền hàng theo nhiều phơng thức khác nhau
tuỳ vào sự tín nhiệm, thoả thuận giữa hai bên mà lựa chọn ph ơng thức
thanh toán cho phù hợp.
Hiện nay các doanh nghiệp thong mại áp dụng hai phơng thức
thanh toán:
Thanh toán trực tiếp
thanh toán không trực tiếp
2.2.1. Thanh toán trực tiếp :
Là thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, ngân phiếu giữa ng ời mua
và ngời bán. Khi nhận đợc hàng hoá vật t, lao vụ, dịch vụ thì bên mua
xuất tiền ở quỹ để trả trực tiếp cho ngời bán hay ngời cung cấp.
2.2.2. Thanh toán không trực tiếp :
Là hình thức thanh toán đợc thực hiện bằng cách trích chuyển
tiền ở tài khoản của công ty hoặc bù trừ giữa cá đơn vị thông qua
trung gian là ngân hàng. Ngân hàng là cơ quan thanh toán không
dùng tiền mặt có trách nhiệm kiểm tra, đảm bảo việc thanh toán giữa
các đơn vị để tránh những rủi ro trong quá trình thu hồi vốn đồng thời
khẳng định rõ vai trò của mình trong các mối quan hệ kinh tế.
Trong thanh toán không trực tiếp có các phơng thức thanh toán
sau:
2.2.2.1. Thanh toán chấp nhận :
Hình thức này áp dụng đối với các cơ quan doanh nghiệp tín
nhiệm với nhau, buôn bán giao dịch thòng xuyên. Theo phơng thức
này ngời bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền bán hàng ở ngời mua. Ngời

ngân hàng phục vụ bên bán trả tiền cho bên bán về số tiền hàng mà
bên bán đã cung cấp cho bên mua. Hình thức này thòng áp dụng với
các đơn vị khác địa phơng không có sự tín nhiệm lẫn nhau.
Việc thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa tích cực đối với nền
kinh tế quốc dân cũng nh đối với doanh nghiệp. Nó làm giảm dợc l-
ợng tiền trong lu thông, giảm chi phí có liên quan đến việc in ấn và
phát hành tiền, giảm chi phí liên quan đến việc bảo quản, vận chuyển
tiền, cho phép kiểm soát đợc dễ dàng tính hợp pháp của các quan hệ
thanh toán trong nền kinh tế. Nó đảm bảo vốn bằng tiền mặt của các
đơn vị kinh tế và làm cho quá trình thanh toán trở nên đơn giản và
thuận lợi hơn rất nhiều so với việc thanh toán dùng tiền mặt.
2.3. Phạm vi thời điểm xác định hàng bán :
Trong doanh nghiệp thơng mại, bán hàng là khâu cuối cùng của
hoạt động kinh doanh và có tính quyết định đến cả quá trình kinh
doanh. Do đó, việc xác định đúng hàng bán có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc nghiên cứu nhu cầu thị trờng, khả năng thanh toán của ng-
ời tiêu dùng. Nó giúp cho các nhà doanh nghiệp xác định đúng ph ơng
hớng hoạt động, xác định đợc lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách
nhà nớc... Để xác định hàng hoá là hàng bán thì căn cứ vào các điều
kiện sau đây:
Phải thông qua mua-bán và thanh toán tiến tiền hàng theo một
phơng thức thanh toán nhất định.
Doanh nghiệp thơng mại mất quyền sở hữu về hàng hoá và đợc
quyền đòi tiền hoặc thu đợc tiền của ngời mua.
Hàng hoá bán ra thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp do
doanh nghiệp mua vào hoặc sản xuất, chế biến.
Ngoài ra còn có một số trờng hợp ngoại lệ khác cũng đợc coi là
hàng bán nh:
Hàng hoá xuất để đổi lấy một hàng hoá khác, còn gọi là hàng
đối lu (hàng đổi hàng).

yếu, quan trọng còn các hàng hoá khác giá cả đ ợc xác định theo cung
cầu thị trờng. Gía hàng bán đợc xem là một công cụ cạnh tranh của
doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp phải tự xác định đợc mức giá bán
phù hợp dựa vào nhu cầu thị trờng, chu kỳ sản phẩm, uy tín về nhãn
mác của sản phẩm,... Trên thực tế tình hình kinh doanh luôn biến
động, thị trờng luôn thay đổi đòi hỏi các nhà quản lý phải có tầm
nhìn bao quát, khả năng nghiên cứu nắm bắt kịp thời thông tin từ thị
trờng, từ ngời tiêu dùng để đa ra mức giá bán thích hợp cho từng mặt
hàng vào từng thời điểm, địa điểm cụ thể.
3. Y ê u cầ u q uả n l ý n g hi ệ p vụ bán hàn g :
Nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá liên quan đến từng khách hàng,
từng phơng thức thanh toán và từng mặt hàng nhất định. Do đó, công
tác quản lý nghiệp vụ bán hàng đòi hỏi phải quản lý các chỉ tiêu nh :
Quản lý doanh thu, tình hình thay đổi trách nhiệm vật chất ở khâu
bán, tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ
về các khoản phải thu của ngời mua, quản lý giá vốn của hàng hoá đã
tiêu thụ, ... quản lý nghiệp vụ bán hàng cần bám sát các yêu cầu sau :
Quản lý sự vận động của từng mặt hàng trong quá trình xuất,
nhập, tồn kho trên các chỉ tiêu số lợng, chất lợng và giá trị.
Nắm bát theo dõi chặt chẽ từng phơng thức bán hàng, từng thể
thức thanh toán, từng khách hàng và từng loại hàng hoá tiêu thụ.
Đôn đốc thanh toán, thu hồi đầy đủ tiền hàng.
Tính toán xác định từng loại hoạt động của doanh nghiệp.
Gía bán = Gía mua thực tế ì (1+ Tỉ lệ thặng số thơng mại )
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nớc theo chế độ quy
định.
4. N hi ệ m vụ c ủ a kế t oá n b á n h à n g :
Hạch toán kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý
kinh doanh, nó là công cụ quan trọng phục vụ cho công tác điều hành
và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý vốn của các doanh

công nợ và các chi phí có liên quan,... để từ đó tính toán chính xác
kết quả của hoạt động tiêu thụ hàng hoá, góp phần tiết kiệm chi phí
bán hàng, tăng vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận, tạo điều kiện cho
hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.
Ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các doanh
nghiệp thơng mại đặc biệt phát triển mạnh.Do đó các hoạt động mua
bán trao đổi đợc mở rộng.Hoạt động tiêu thụ hàng hoá đã có nhiều
thay đổi cụ thể là có nhiều hình thức tiêu thụ hơn, có nhiều ph ơng
thức thanh toán hơn,... tóm lại là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
nhiều hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn. Lúc này hệ thống kế toán
bán hàng cũ sẽ không kiểm soát đợc hết các yếu tố của nghiệp vụ bán
hàng. Do đó cần phải hoàn thiện kế toán bán hàng để đáp ứng yêu cầu
quản lý trong điều kiện mới. Việc hoàn thiện kế toán bán hàng là rất
cần thiết và xuất phát từ nhu cầu thực tế khách quan.
2. N ộ i dun g h oàn t hi ện kế t oán n ghi ệp v ụ bá n hàn g
tron g c á c d oanh n gh i ệ p t h ơn g m ạ i :
2.1. Hoàn thiện hạch toán ban đầu :
Hạch toán ban đầu là quá trình theo dõi, ghi chép, hệ thống hoá
các nghiệp vụ kinh tế, các hiện tợng và quá trình kinh tế trên chứng
từ làm cơ sở cho hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết. Hoàn thiện
hạch toán ban đầu đựơc thực hiện trên các nội dung sau :
+ Sử dụng mẫu chứng từ
+ Số lợng chứng từ lập
+ Tổ chức luân chuyển chứng từ.
Kế toán nghiệp vụ bán buôn bán lẻ sử dụng các mẫu chứng từ sau :
+ Hoá đơn GTGT ( Sử dụng đối với doanh nghiệp tính thuế
GTGTtheo phơng pháp khấu trừ ). Hoá đơn GTGT đợc lập làm 3 liên,
một liên giao cho khách hàng, hai liên giữ lại. Trên hoá đơn GTGT
ghi rõ giá bán cha thuế, thuế GTGT, tổng gia thanh toán. Nếu trên
hoá đơn chỉ ghi tổng giá thanh toán thì thuế GTGT đ ợc tính trên tổng

+TK 5111- Doanh thu về hàng hoá đã đợc xác định là tiêu
thụ
+TK 5112 - Doanh thu về bán thành phẩm.
+TK 5113 - Doanh thu về dịch vụ, lao vụ.
+TK 5114 - Doanh thu trợ giá (chỉ sử dụng ở các doanh
nghiệp bán hàng theo chỉ đạo của Nhà nớc ).
TK 511 có kết cấu nh sau :
- Phản ánh thuế TTĐB hoặc thuế
XNK phải nộp.
- phản ánh doanh thu hàng bán bị
trả lại, giảm giá hàng bán.
- Kết chuyển doanh thu bán hàng
thuần để xác định kết quả.
Nợ TK 511 Có
TK 511không có số d cuối kỳ
- Phản ánh doanh thu thực tế về bán
hàng
Khi hạch toán trên tài khoản 511 cần chú ý :
Doanh thu phản ánh trên TK 511 là doanh thu đã thực hiện ( Khi
doanh nghiệp đã giao hàng và ngời mua đã thanh toán hoặc ký nhận
nợ ).
Trờng hợp đơn vị bán hàng theo phơng thức trả góp thì doanh
thu phản ánh trên TK511 là doanh thu tính theo giá bán thu tiền một
lần(Gía bán thông thờng ).
Trờng hợp đơn vị bán hàng nhận đại lý thì doanh thu phản ánh
trên TK511 là phần hoa hồng đơn vị đợc hởng.
Các trờng hợp sau không đợc phản ánh vào doanh thu :
Các khoản thu về nhợng bán hoặc thanh lý TSCĐ.
Các khoản thu về bán cổ phiếu, trái phiếu, thu đợc phân chia về
liên doanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status