Chuyên đề thực tập Trang 1 PGS.TS. Ngô Trí Tuệ
MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ
HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC.
3.1 Đánh giá về công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại công ty.
Với trên 15 năm hoạt động, Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán
và Kiểm toán AASC đã khẳng định được vị thế của mình với một quy mô lớn
và bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chính
tại Việt Nam. Qua những gì Công ty đạt được, AASC đã chứng tỏ vai trò và
sự lớn mạnh của mình, đem lại những dịch vụ tốt nhất với chất lượng và hiệu
quả công việc cao.
Luôn nỗ lực hoàn thiện, nâng cao các dịch vụ của mình để đem lại sự
hài lòng, tin tưởng cho KH là phương châm hoạt động của Công ty. Trong đó,
Công ty đặc biệt chú ý tới việc hoàn thiện quy trình kiểm toán, cũng như công
tác lập kế hoạch kiểm toán. Qua các năm hoạt động vừa qua, Công ty đã đạt
được một số kết quả trong công tác lập kế hoạch kiểm toán như sau:
3.1.1 Đánh giá về quy định lập kế hoạch kiểm toán
Theo quy định tại Công ty AASC, mọi cuộc kiểm toán đều phải thực
hiện công tác lập kế hoạch kiểm toán một cách đầy đủ. Bởi vì, kế hoạch kiểm
toán quyết định rất lớn tới kết quả của cuộc kiểm toán, phí kiểm toán. Và việc
lập kế hoạch kiểm toán cũng đã được quy định trong Chuẩn mực Kiểm toán
hiện hành.
Tại AASC, công tác lập hoạch kiểm toán luôn được khẳng định vai trò
quan trọng của nó trong việc chi phối chất lượng và hiệu quả chung của cuộc
kiểm toán. Chất lượng của công tác lập kế hoạch kiểm toán sẽ chi phối tới
công tác thực hiện kế hoạch kiểm toán, từ đó ảnh hưởng tớ kết quả kiểm toán.
Từ những lý do đó, kế hoạch kiểm toán phải luôn phù hợp và giữ vững
vai trò của nó trong suốt cuộc kiểm toán. Nhằm tạo ra được một kế hoạch
1
SVTH: Bùi Mạnh Hùng Lớp: Kiểm toán 46A
1
Chuyên đề thực tập Trang 2 PGS.TS. Ngô Trí Tuệ
2
Chuyên đề thực tập Trang 3 PGS.TS. Ngô Trí Tuệ
thủ tục phức tạp đòi hỏi trình độ cũng như xét đoán nghề nghiệp của KTV.
Đây cũng chính là căn cứ được công ty lưu vào hồ sơ làm căn cứ cho cuộc
kiểm toán sau này. Còn đối với KH thường niên như công ty B, quá trình
kiểm toán cũng được giảm thiểu đi nhiều cả về thời gian và chi phí nhờ những
tài liệu, thông tin được thu thập từ lần kiểm toán trước. Qua đó, KTV đã có
cái nhìn toàn diện về hoạt động kinh doanh cũng như bộ máy điều hành của
công ty, những rủi ro và mức độ trọng yếu đối với các khoản mục, độ tin
tưởng vào hệ thống KSNB của Công ty.Tuy nhiên, KTV vẫn cần tiến hành
đầy đủ các bước trong công tác lập kế hoạch đồng thời cập nhật những thay
đổi mới nhất của đơn vị để thấy được ảnh hưởng của những biến động ấy đến
tình hình tài chính của đơn vị. Chương trình kiểm toán được thiết lập cho
Công ty B có thể tiến hành theo mẫu năm trước. Riêng với Công ty A,
chương trình kiểm toán đã được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với ngành nghề
kinh doanh của Công ty. Công việc này đòi hỏi thời gian và chi phí kiểm toán
lớn để giai đoạn thực hiện kiểm toán được diễn ra trôi chảy hơn.
3.1.2 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán chiến lược và lập kế hoạch
kiểm toán tổng thể
3.1.2.1 Tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tổng thể, KTV thu thập thông
tin về KH như cơ cấu tổ chức, ngành nghề kinh doanh, các thông tin về nghĩa
vụ pháp lý của KH. Điều này giúp KTV đánh giá được các rủi ro đồng thời
định hướng cho quá trình kiểm toán tập trung vào các vấn đề có rủi ro cao,
nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán. Bên cạnh đó AASC tiến hành đánh giá
hệ thống KSNB của KH, hệ thống kế toán, quy trình hạch toán đang áp dụng,
cơ cấu tổ chức và hoạt động kiểm soát của đơn vị. Đối với các KH thường
niên, AASC lưu các thông tin này trong hồ sơ chung và luôn cập nhật những
thay đổi qua các năm. Công việc này giúp tiết kiệm chi phí và thời gian tìm
3
đồng giữa Ban Giám đốc công ty KH với KTV.
4
SVTH: Bùi Mạnh Hùng Lớp: Kiểm toán 46A
4
Chuyên đề thực tập Trang 5 PGS.TS. Ngô Trí Tuệ
3.1.2.3 Các thủ tục phân tích
Việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng nhằm tìm ra
những xu hướng biến động và những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông
tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị dự kiến. Thông
thường, các thủ tục phân tích gồm hai loại cơ bản:
- Phân tích ngang (phân tích xu hướng)
- Phân tích dọc (phân tích tỷ suất).
Kết quả của thủ tục phân tích này sẽ đem lại những hiểu biết về nội
dung các BCTC và những biến đổi quan trọng về kế toán và hoạt động kinh
doanh của KH vừa mới diễn ra kể từ lần kiểm toán trước. Hơn nữa, nó tăng
cường sự hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của KH và giúp KTV
xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động liên tục của công ty KH.
Ngoài ra, thủ tục phân tích còn đánh giá được sự hiện diện của các sai
số có thể có trên BCTC của DN.
Như vậy, qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán, KTV có thể xác định được nội dung cơ bản của cuộc kiểm
toán BCTC. Mức độ và phạm vi cũng như thời gian áp dụng các thủ tục phân
tích thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và tính phức tạp trong hoạt động kinh
doanh của KH.
Hiện nay, tại AASC các KTV thường chỉ tiến hành phân tích xu hướng
biến động của các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán, không thực hiện thủ
tục phân tích các tỷ suất tài chính như: Tỷ suất lợi nhuận, Tỷ suất tự tài trợ,
Tỷ suất nợ… Điều này ảnh hưởng không được tốt trong việc thực hiện các
mục tiêu nói trên. Bởi vì, phân tích xu hướng biến động chỉ cho thấy những
biến động bất thường, nguyên nhân của biến động của từng khoản mục, chỉ