Trang 30
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THƯƠNG
HIỆU TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN
THƯƠNG TÍN ( SACOMBANK)
2.1. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 21/12/1991, Sacombank được thành lập và đi vào hoạt động trên
cơ sở chuyển thể Ngân Hàng Phát Triển Kinh Tế Gò Vấp và sáp nhập với 3
Hợp tác xã tín dụng Tân Bình – Thành Công - Lữ Gia. Nền kinh tế đất nước
trong thời kỳ này đang đối mặt với tốc độ lạm phát phi mã, hoạt động tiền tệ –
tín dụng của các NHTM gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các hợp tác xã tín
dụng. Với mức vốn ban đầu chưa đến 3 tỷ đồng, Sacombank đã bước những
bước đi đầu tiên đầy cam go, thử thách : mạng lưới hoạt động chủ yếu nằm ở
các quận ven nội thành, chất lượng nguồn năng lực thấp, hoạt động nghiệp vụ
khá đơn điệu về huy động vốn và cho vay, nợ quá hạn khó đòi chuyển giao
sang cao gấp 2 lần vốn tự có.
Ngày 02/03/1993, Sacombank là ngân hàng TMCP có hội sở chính tại
TPHCM đầu tiên và mở chi nhánh tại Hà Nội. Đồng thời, Sacombank là ngân
hàng TMCP đầu tiên thực hiện nghiệp vụ phát hành kỳ phiếu có mục đích để
huy động vốn và dịch vụ chuyển tiền nhanh từ Hà Nội đi TPHCM và ngược
lại. Điều này đã bước đầu gây dựng cho Sacombank một hình ảnh đặc trưng
và một tính cách riêng đầy ấn tượng tại thủ đô, đồng thời mở đường cho việc
hình thành dần thói quen không dùng tiền mặt trong thanh toán giữa hai đô thị
lớn nhất nước lúc bấy giờ.
Tháng 10/1995, cho vay phân tán theo đề án kết hợp với cho vay tập
trung có trọng điểm là quan điểm chỉ đạo chiến lược về định hướng phát triển
tín dụng của Sacombank sau thời kỳ cải tổ. Đề án thực hiện thành công tại chi
Trang 31
nhánh Gò Vấp là cơ sở cho Sacombank nhân rộng phạm vi thực hiện trên toàn
hệ thống và trở thành tiền đề cho định hướng phát triển tín dụng ngày nay.
lệ. Thông qua sự kiện này, Sacombank đã sớm nhận được sự hỗ trợ về kinh
nghiệm, quản lý, công nghệ, rủi ro, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực từ
các cổ đông chiến lược.
Năm 2002, thành lập Tổ Tín Dụng Lai Uyên - Tỉnh Sông Bé trực thuộc
Chi nhánh Gò Vấp ( do Sông Bé chưa có chi nhánh Sacombank) là một phát
kiến quan trọng của người đứng đầu cơ quan Quản trị Sacombank. Thành
công của việc trải nghiệm phát kiến này là một thực tiễn sinh động, được lãnh
đạo Tỉnh Sông Bé đồng tình ủng hộ và hết lòng động viên cổ vũ, là tiền đề
quan trọng có tính mở đường để Chỉ thị 05 của Thống đốc NHNN được ban
hành sau đó cho phép các NHTM được thành lập các Tổ Tín dụng, điểm giao
dịch ngoài địa bàn ( ở những tỉnh các NHTM chưa có chi nhánh) trong những
năm sau này. Sacombank tuy trong điều kiện vốn điều lệ hãy còn khá mỏng
nhưng vẫn có mặt ở nhiều tỉnh – thành phố trọng điểm kinh tế trong cả nước
được bắt đầu từ sáng kiến độc đáo bày.
Tháng 07/2003, Quỹ học bổng “Sacombank - Ươm mầm cho những
ước mơ” được hình thành bởi sáng kiến của người đứng đầu cơ quan Quản trị
Sacombank, đã được Đại hội đồng cổ đông thống nhất cho trích lập một cách
lâu dài 1% lợi nhuận thuần hằng năm sau khi trích lập các quỹ theo quy định.
Sáng kiến này đã mở đường cho một quá trình gắn kết lâu dài trách nhiệm của
Sacombank đối với cộng đồng xã hội.
Tháng 06/2004, Sacombank ký kết hợp đồng triển khai hệ thống
Corebanking T-24 với công ty TEMENOS (Thụy Sỹ), khởi đầu cho quá trình
hiện đại hóa công nghệ ngân hàng của Sacombank trong tiến trình phát triển
và hội nhập. Thông qua đó, Sacombank ngày càng nâng cao chất lượng hoạt
động, chất lượng quản lý và phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân
Trang 33
hàng quốc tế.
Năm 2004, Chương trình chạy việt dã “Sacombank chạy vì sức khỏe
cộng đồng” được tổ chức định kỳ tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước
nhân kỷ niệm ngày thành lập chi nhánh Sacombank với hàng trăm giải thưởng
công khai minh bạch trong quản trị Ngân hàng theo các chuẩn mực và thông
lệ quốc tế tốt nhất.
Ngày 10/08/2007, Sacombank đã chính thức khai trương chi nhánh Hoa
Việt - mô hình ngân hàng dành riêng cho người Hoa lần đầu tiên xuất hiện tại
Việt Nam. Chi nhánh Sacombank Hoa Việt được đặt tại địa chỉ 382A - B
Trần Hưng Đạo, Phường 11, Quận 5, TPHCM. Chi nhánh Hoa Việt sẽ mang
lại những tiện ích ngân hàng cùng những ưu đãi tốt nhất, chuyên nghiệp nhất
cho các khách hàng người Hoa đang làm ăn, kinh doanh, sinh sống, du lịch,
nghỉ dưỡng... trên địa bàn TPHCM nói riêng và toàn quốc nói chung.
Năm 2007, lần đầu tiên Sacombank trở thành ngân hàng duy nhất tại
Việt Nam nhận 2 giải thưởng quốc tế uy tín “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam
2007” do Euromoney trao tặng, “Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam 2007”
do Asian Banking And Finance thuộc tập đoàn Charton Media trao tặng. Đây
là sự ghi nhận của cộng đồng tài chính khu vực và thế giới đối với
Sacombank qua khả năng phát triển bền vững, kết quả hoạt động kinh doanh,
quản lý rủi ro, công nghệ thông tin, chất lượng điều hành và những đóng góp
của Sacombank đối với thị trường tài chính ngân hàng nước nhà.
Ngày 16/05/2008, Sacombank đã công bố thành lập Tập đoàn Tài chính
Sacombank - tập đoàn tài chính tư nhân đầu tiên ở Việt Nam, với vốn điều lệ
hơn 5.200 tỷ đồng, tổng tài sản 79.915 tỷ đồng và đội ngũ nhân sự hơn 6.500
người (tính đến hết quý 1/2008). Tập đoàn tài chính Sacombank gồm có
Sacombank; 05 công ty thành viên trực thuộc là Công ty Chứng khoán- SBS,
Công ty Cho thuê tài chính- SBL, Công ty Kiều hối- SBR, Công ty Quản lý
Trang 35
nợ và khai thác tài sản- SBA, Công ty vàng bạc đá quý - SBJ; Và 06 công ty
thành viên hợp tác chiến lược bao gồm: (1) Công ty Đầu tư Sài Gòn Thương
Tín- STI; (2) Công ty Xuất nhập khẩu Tân Định- Tadimex; (3) Công ty Đầu
tư xây dựng Toàn Thịnh Phát; (4) Công ty Địa ốc Sài Gòn Thương Tín-
Sacomreal; (5) Công ty liên doanh Quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán Việt
Nam- VFM và (6) Trường Đại học Yersin Đà Lạt.
80,000
90,000
100,000
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 ( Kế hoạch)
Tỷ đồng
0%
20%
40%
60%
80%
100%
120%
140%
160%
180%
TỔNG TÀI SẢN TĂNG TRƯỞNG
Nguồn : Kỷ yếu “ Sacombank, 15 năm hình thành và phát triển”
Tổng tài sản đến cuối năm 2007 đạt 63.484 tỷ đồng, gấp gần 15 lần so
với năm 2002. Dự kiến đến hết năm 2008, tổng tài sản của Sacombank đạt
khoảng 93.182 tỷ đồng. Cơ cấu tổng tài sản được cấu trúc hài hòa nhằm đảm
bảo tính sinh lời cao nhưng vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản. Trong tổng
tài sản, tài sản có sinh lời chiếm tỷ trọng 78%.
2.1.3.2. Huy động vốn
Biểu đồ 2 : Tình hình tăng trưởng Huy động vốn của Sacombank ( 2002 – 2008)
HUY ĐỘNG
3,856
6,432
9,201
12,272
21,500
180%
HUY ĐỘNG TĂNG TRƯỞNG
Nguồn : Kỷ yếu “ Sacombank, 15 năm hình thành và phát triển”
Trang 37
Đến cuối năm 2007, tổng nguồn huy động của Sacombank trên 54.777
tỷ đồng, tăng hơn 14 lần so với năm 2002, trong đó huy động VND có tỷ
trọng là 72%, huy động vàng là 12%, và huy động ngoại tệ là 16%.
Xuất phát từ các Hợp tác xã tín dụng, hoạt động huy động vốn chủ yếu
của Ngân hàng lúc ban đầu là huy động tiền gởi tiết kiệm từ dân cư. Đến nay,
sản phẩm tiền gởi của Ngân hàng đã phong phú, đa dạng hơn với hàng loạt
sản phẩm, hàng chục kỳ hạn, phục vụ cho mọi đối tượng khách hàng, từ tổ
chức đến dân cư. Phong cách phục vụ được cải tiến theo hướng đem tiện ích
cao nhất đến cho khách hàng. Ngoài việc phục vụ chu đáo, tận tình tại quầy
giao dịch, một số giao dịch có thể tiến hành tại nhà, tại các điểm giao dịch hay
được thực hiện qua mạng internet theo yêu cầu của khách hàng. Bên cạnh
việc đa dạng hóa sản phẩm, việc tăng cường mở rộng quan hệ với các tổ chức,
định chế nước ngoài nhằm tiếp cận nguồn vốn mới được tiến hành thường
xuyên. Đây là nguồn vốn trung dài hạn, được sử dụng để phục vụ phát triển
nền kinh tế theo chiều sâu, đầu tư máy móc thiết bị có thời hạn thu hồi vốn
dài. Đến nay, nguồn vốn ủy thác nhận được từ nguồn này chiếm tỷ trọng xấp
xỉ 1% trong tổng nguồn vốn. Khai thác nguồn vốn này sẽ được Sacombank
quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới.
2.1.3.3. Hoạt động cho vay
Biểu đồ 3 : Tình hình tăng trưởng Cho vay của Sacombank ( 2002 – 2008)
CHO VAY
3,301
4,729
5,987
8,425
14,539
160%
CHO VAY TĂNG TRƯỞNG
Nguồn : Kỷ yếu “ Sacombank, 15 năm hình thành và phát triển”
Trang 38
Tổng dư nợ cho vay của Sacombank thời điểm cuối năm 2007 đạt trên
34.317 tỷ đồng, gấp hơn 10 lần so với năm 2002, chiếm tỷ trọng 54,1% trong
tổng tài sản. Trong tổng dư nợ, cho vay bằng VND chiếm tỷ trọng 74%, cho
vay bằng ngoại tệ có tỷ trọng là 20% và vàng là 6%. Chất lượng tín dụng
kiểm soát chặt chẽ. Tỷ lệ nợ quá hạn ( nợ nhóm 2 đến nhóm 5) trên tổng dư
nợ cho vay ở mức thấp, chỉ chiếm tỷ lệ 1,20%, trong đó, tỷ lệ nợ xấu ( nợ
nhóm 3 đến nhóm 5) trên tổng dư nợ cho vay là 0,55%. Các con số này bản
thân nó đã cho thấy sự nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng tài sản của
Sacombank, nếu so sánh với tỷ lệ nợ quá hạn là 17,6% tại thời điểm đầu năm
2000.
Dự phòng rủi ro tín dụng tại thời điểm tháng 09/2006 gần 75 tỷ đồng,
trong đó dự phòng cụ thể xấp xỉ 22 tỷ đồng. Đây là khoản tiền được trích lập
để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện
nghĩa vụ theo cam kết, làm tăng sự an toàn và lành mạnh trong hoạt động.
Công cụ sử dụng để kiểm soát chất lượng tín dụng cũng được tăng
cường và hiện đại hóa. Hệ thống xếp hạng tín dụng, sau thời gian vận hành
thử nghiệm, đã chính thức áp dụng cho tất cả các khách hàng có quan hệ tín
dụng với Sacombank. Hệ thống này là công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc
chuẩn hóa việc phân loại xếp hạng khách hàng, quản lý chất lượng tín dụng,
dự báo rủi ro...
2.1.3.4. Hoạt động cung cấp dịch vụ
Từ chỗ chỉ đơn thuần là huy động – cho vay, đến nay, Sacombank đã
đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của mình. Hiện tại, Sacombank có thể cung
cấp tới khách hàng tất cả các dịch vụ ngân hàng đang có tại Việt Nam. Việc
cung cấp đa dạng dịch vụ không chỉ giúp tăng thu nhập, mà còn là hướng phát
triển chiến lược của Sacombank trong dài hạn, từng bước tăng tỷ trọng thu
hệ thống mạng lưới rộng khắp cùng các mối quan hệ ngân hàng liên kết, ngân
Trang 40
hàng đại lý. Trong 9 tháng đầu năm 2006, tổng doanh số chuyển tiền của
Ngân hàng xấp xỉ 80 ngàn tỷ đồng. Các sản phẩm dịch vụ khác như bảo lãnh,
phát hành và chấp nhận thẻ, các hoạt động thu chi hộ, quản lý ngân quỹ, dịch
vụ ngân hàng điện tử ( phone–banking, e –Sacombank, mobile–Sacombank,
SMS, SMA... cũng đã được triển khai và thu được những kết quả nhất định
đồng thời góp phần đa dạng hóa sản phẩm và quảng bá thương hiệu Ngân
hàng.
2.1.3.8. Kết quả kinh doanh
Biểu đồ 4 : Kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank ( 2002 – 2008)
LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ
79
125
198
306
543
1,452
2,000
38%
167%
77%
55%
101%
58%
58%
0
500
1,000
1,500
NĂM 2008
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) 15,40 11,82 11,07 10,50 – 11,50
Huy động vốn/ Tổng tài sản 84,82 86,12 86,26 86,63
Cho vay/ Huy động vốn 68,72 67,46 62,64 57,36
Cho vay/ Tổng tài sản 58,28 58,10 54,05 49,69
Nợ xấu ( NPL) 0,55 0,72 0,24 Tối đa 2%
Thu nhập ngoài lãi/ Tổng thu
nhập hoạt động
27,08 37,58 51,14 N/A
Lãi ròng/ Tổng tài sản (ROA) 1,85 2,08 2,90 2,00 – 2,50
Lãi ròng/ Vốn chủ sở hữu (ROE) 20,58 17,41 25,64 33 - 34
Nguồn : Bản tin Sacombank Quý II/2008
Các giới hạn đảm bảo an toàn trong hoạt động như tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu, tỷ lệ về khả năng chi trả, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử
dụng để cho vay trung hạn và dài hạn, giới hạn góp vốn, mua cổ phần... luôn
được Ngân hàng tự giác tuân thủ, vì đây chính là một trong những yếu tố
quan trọng đảm bảo cho sự phát triển an toàn, bền vững.
Để tăng cường năng lực tài chính, đảm bảo an toàn trong hoạt động,
trong những năm qua, Sacombank liên tục tăng vốn điều lệ với tốc độ cao. Vì
vậy, duy trì các chỉ số ROA & ROE ở mức cao là một nỗ lực lớn trong quản
trị điều hành của Sacombank.
2.2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU
SACOMBANK HIỆN NAY :
2.2.1. Tên thương hiệu :
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ( Sacombank) là một thương
hiệu ngân hàng có tên tuổi từ lâu, sau khi tái lập ngân hàng vẫn giữ tên gọi cũ
và nó sẽ tạo nên sự tin tưởng không chỉ ở khách hàng truyền thống mà cả
Trang 42
khách hàng tiềm năng. Ban đầu tên gọi của ngân hàng này có nhầm lẫn với
Ngân hàng TMCP Sài Gòn ( SCB). Tuy nhiên, trong những năm gần đây
47%
86%
43%
69%
67%
113%
36%
0
1,000
2,000
3,000
4,000
5,000
6,000
7,000
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 ( Kế hoạch)
Tỷ đồng
0%
20%
40%
60%
80%
100%
120%
VỐN ĐIỀU LỆ TĂNG TRƯỞNG
Nguồn : Kỷ yếu “ Sacombank, 15 năm hình thành và phát triển”
Với vốn điều lệ 4.449 tỷ đồng tại thời điểm hiện nay, Sacombank trở
thành ngân hàng cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất trong hệ thống Ngân hàng
TMCP Việt Nam, gấp 1.534 lần so với thời điểm thành lập, gấp 4 lần so với
vốn pháp định. Vốn điều lệ là yếu tố then chốt để tăng cường năng lực tài