CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TOÁN BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH.
I- BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH - ĐỐI
TƯỢNG CỦA KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Trong Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, Báo cáo kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh là một bộ phận hợp thành có vị trí đặc biệt quan trọng. Nếu như
các chỉ tiêu trên Bảng Cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính của doanh
nghiệp tại các thời điểm đầu và kết thức của kế toán, thì Báo cáo kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình
thực hiện các nghĩa vụ của các doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước v.v…
của một kỳ kế toán, hơn nữa giữa các chỉ tiêu phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu phản ánh trên Bảng Cân đối kế toán có
mối quan hệ rất chặt chẽ. Vì vậy kiểm toán Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh là một trong những nội dung rất quan trọng, bắt buộc của việc kiểm
toán Báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Để có được những hiểu biết cần thiết về
kiểm toán Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần đi
vào các nội dung.
1. Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Khái niệm: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là Báo cáo tài
chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh và tình hình thực hiện các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với ngân
sách Nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội có liên quan.
Nội dung, kết cấu: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được chia
làm ba phần:
Phần 1: Lãi – Lỗ. Phần này phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh và các
hoạt động khác của doanh nghiệp cùng với chi phí và xác định kết quả hoạt động
trong chu kỳ.
Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước.
Phần này phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước về
thuế và các khoản phải nộp khác, theo dõi chi tiết trên từng chỉ tiêu theo số còn
Đối với doanh nghiệp sản xuất:
Giá vốn = Giá thành sản xuất + Chênh lệch thành phẩm tồn kho.
Giá thành sản xuất = Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp + Chi phí nhân
công trực tiếp + Chi phí sản xuất chung + Chênh lệch sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí có liên quan đến quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ như: chi phí quảng cáo, chi phí chào hàng, giới thiệu sản
phẩm, chi phí nhân viên bán hàng… Các chi phí này phát sinh ngoài quá trình sản
xuất và chế tạo sản phẩm.
Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí liên quan đến việc quản lý
và phục vụ toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ nhất
định như: chi phí văn phòng, chi phí quản lý hành chính.
Về nguyên tắc các chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được
kết chuyển cho toàn bộ sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong năm để xác định KQKD.
Trừ một số cơ quan được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì một phần chi phí
này được kết chuyển sang tài khoản TK 1422 để trừ vào kết quả khi có doanh thu
thực hiện của kỳ sau.
Thu nhập và chi phí hoạt động tài chính được sử dụng để phản ánh các
khoản thu nhập, chi phí liên quan đến hoạt động về vốn, đầu tư tài chính: góp vốn
tham gia liên doanh, đầu tư, mua bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn, cho thuê tài
sản, các hoạt động đầu tư khác, thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay vốn, thu lãi về mua
bán ngoại tệ.
Thu thập và chi phí bất thường là khoản được phát sinh từ các hiện tượng
và giao dịch hoàn toàn tách biệt đối với các hoạt động thông thường của doanh
nghiệp do đó không được coi là sẽ xảy ra thường xuyên hoặc mang tính chất định
kỳ như thanh lý trong kỳ kế toán, bao gồm:
Thuế và các khoản phải nộp phản ánh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và
Nhà nước về nghĩa vụ và tình hình thực hiện nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp
với Nhà nước trong kỳ kế toán, bao gồm:
- Thuế doanh thu, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt là khoản nghĩa vụ
mà doanh nghiệp phải nộp Nhà nước kể từ khi hàng hóa, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
không bị bỏ sót trong quá trình xử lý.
+ Tính đúng đắn của việc tính giá với ý nghĩa giá của tài sản cũng như giá
thành sản phẩm đều được tính theo phương pháp kế toán là giá thực tế đơn vị phải
chi ra để mua hoặc để thực hiện các hoạt động.
+ Tính chính xác về cơ học trong các phép tính số học, cộng dồn cũng như
khi chuyển sổ, sang trang trong công nghệ tính toán.
+ Tính đúng đắn trong việc phân loại và trình bày với ý nghĩa tuân thủ các
quy định cụ thể trong phân loại tài sản và vốn cũng như hệ thống kinh doanh qua
hệ thống kế toán tổng hợp và chi tiết dùng phản ánh các quan hệ đối ứng để có
thông tin để hình thành bảng khai tài chính.
+ Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ của đơn vị kiểm
toán trên bảng khai tài chính với ý nghĩa: Tài sản phản ánh trên bảng phải thuộc
quyền sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của đơn vị. Tổng vốn và công nợ phản ánh
đúng nghĩa vụ của đơn vị mình.
2. Xác nhận (giải trình) của các nhà quản lí (Ban Giám đốc). Cơ sở để thực
hiện kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.
Trách nhiệm về sự tin cậy và hợp lý của các bảng khai tài chính được phân định rõ
ràng giữa KTV và Ban Giám đốc khách hàng.
Trong mối quan hệ đó, Ban Giám đốc cần phải lập ra bảng xác nhận hoặc
các giải trình hay “Báo cáo trắc nghiệm của nhà quản lý”.
Mặc dù tên gọi khác nhau nhưng các xác nhận hay các giải trình trên đều là
cơ sở pháp lý cam kết trách nhiệm trong việc trình bày trung thực và hợp lý các
thông tin tài chính cần kiểm toán.
Về nội dung, các cam kết này rất đa dạng, tuy nhiên phân 3 loại chính:
+ Những cam kết chung.
+ Những cam kết từng mặt, từng yếu tố cấu thành sự trung thực và hợp lý.
+ Những cam kết về mối quan hệ ban Giám đốc (khách hàng) với KTV
trong việc trình bày đúng đắn bangr khai tài chính.
+ Những cam kết chung gồm: Cam kết hoặc giải trình về tính độc lập, khách
các khoản tính vào thu nhập và phân phối cũng phản ánh giá trị thực tế.
Phân loại và trình bày: là cam kết về sự phù hợp giữa việc phân loại và trình bày
các phần hợp thành bảng khai tài chính với những quy định đang có hiệu lực về
trình bày về các bộ phận này.
Ví dụ: Các nhà quản lí xác nhận nợ đúng hạn bảng cân đối kế toán chỉ gồm
những khoản nợ trong vòng 1 năm, các khoản nợ dài hạn sẽ phải thanh toán trong
năm tới đã được đáo hạn. Các nhà quản lí xác nhận số tiền trên các khoản mục
trong báo cáo kết quả kinh doanh đã được phân loại và thuyết trình rõ ràng.
+ Cam kết về mối quan hệ giữa nhà quản lý với KTV: Các loại cam kết này
được xây dựng khác nhau tuỳ thuộc vào thực tiễn kiểm toán ở từng đơn vị cụ thể.
Ví dụ: Các loại cam kết này bao gồm có các vấn đề về tính độc lập, khách
quan của Ban giám đốc, ban kiểm toán nội bộ và KTV bên ngoài về cách thức làm
việc và phối hợp Ban giám đốc với kiểm toán nội bộ và KTV bên ngoài.
* Loại hình
Xác nhận hoặc giải trình của nhà quản lí có thể được đưa ra dưới dạng văn
bản hoặc lời giải trình về văn bản dược đánh giá là bằng chứng kiểm toán có giá trị
hơn bằng chứng bằng lời nói, các giải trình được thể hiện cụ thể qua một trong các
hình thức sau:
+ Văn bản giải trình của Ban giám đốc.
+ Thư của KTV chọn trong đó liệt kê tất cả những hiểu biết của mình về các
giải trình về Ban giám đốc và được Ban giám đốc công nhận là đúng.
+ Biên bản họp của Hội đồng quản trị hoặc Ban giám đốc.
* Cách thức sử dụng: Các xác nhận hoặc giải trình của Ban giám đốc được
KTV thu thập và lưu vào hồ sơ kiểm toán để thành bằng chứng kiểm toán. Tuy vậy
trong nhiều trường hợp các bằng chứng này không thể thay thế các bằng chứng
kiểm toán khác như: hóa đơn, quyết toán, biên bản kiểm kê…
Các nhà quản lí từ chối cung cấp các giải trình theo yêu cầu của KTV có thể
làm hạn chế khả năng kiểm toán thì KTV chỉ đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần
hoặc từ chối kiểm toán.
3. Mục tiêu kiểm toán chung và mục tiêu kiểm toán đặc thù.
nghĩa vụ với ý nghĩa xác minh lại quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng lâu dài được
pháp luật quy định của tài sản và nghĩa vụ pháp lí với các khoản nợ và vốn.
+ Định giá: Hướng xác minh và cách thức kết quả biểu hiện tài sản, vốn chi
phí, thu nhập thành tiền.
Theo đó, mục tiêu này nghiêng về thẩm định tài sản và theo nguyên tắc kế
toán. Mục tiêu này được sử dụng bổ sung cho cam kết của nhà quản lí về định giá
và phân phối.
+ Mục tiêu phân loại: Hướng việc xác minh vào các bộ phận, các nghiệp vụ
được đưa vào tài khoản cùng việc sắp xếp tài khoản đó trong việc xác minh theo
báo cáo kế toán của chúng, được kiềm chế bởi các văn bản pháp lí đã có hiệu lực.
Trong các văn bản này hệ thống kế toán coi là cơ sở ban đầu để thẩm tra lại,
phân loại tài sản, nguồn vốn của khách hàng.
+ Mục tiêu về tính chính xác cơ học: Hướng việc xác minh vào sự đúng đắn
tuyệt đối qua các con số cộng sổ và chuyển sổ. Các chi tiết trong số dư tài khoản
cần nhất trí với các con số trên sổ phụ tương ứng, số cộng dồn của tài khoản trùng
hợp với số tổng cộng trên các sổ phụ có liên quan và các con số chuyển sổ sang
trang phải đồng nhất.
Mục tiêu trình bày: là hướng việc xác minh vào cách ghi chépvà cách thuyết
trình các số dư trên các bảng khai tài chính. Khi thực hiện, các mục tiêu này KTV
phải thử nghiệm để khẳng định một cách chắc chắn tất cả các tài khoản thuộc Bảng
cân đối kế toán cùng các thông tin có liên quan.
* Mục tiêu kiểm toán đặc thù (mục tiêu kiểm toán riêng)
Khái niệm: Mục tiêu kiểm toán chung được cụ thể hóa vào từng khoản mục
hoặc phần hành cụ thể gọi là mục tiêu kiểm toán đặc thù.
Đặc điểm: Các mục tiêu kiểm toán được xác định trên cơ sở các mục tiêu
chung và trên cơ sở đặc điểm các khoản mục hoặc các phần hành cùng cách phản
ánh và theo dõi chúng trong hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ. Do đó mỗi mục
tiêu kiểm toán chung có ít nhất một mục tiêu kiểm toán đặc thù.
Ví dụ: Đối với tài sản kiểm kê thì mục tiêu về quyền và nghĩa vụ được cụ
thể hóa thành hai mục tiêu kiểm toán đặc thù là: Các tài sản cầm cố hay thế chấp