GVHD: Nguyễn Văn Ngân SVTH: Đỗ Hoàng Tiến
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG CHO VAY
SẢN XUẤT KINH DOANH.
5.1. NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ TỒN TẠI TRONG CHO VAY SẢN XUẤT
KINH DOANH.
Qua phân tích về tình hình cho vay sản xuất kinh doanh tại Ngân hàng Sài
Gòn Thương Tín Kiên Giang trong giai đoạn 2005 – 2007 ta có thể nhận thấy
được một số vấn đề sau:
5.1.1. Ưu điểm.
Cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tỉnh, doanh số cho vay sản xuất
kinh doanh của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Kiên Giang cũng đã tăng đều qua
các năm, ngân hàng đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế. Doanh số
cho vay sản xuất kinh doanh của ngân hàng tăng qua từng năm và năm sau luôn
tăng cao gần gấp đôi so với năm trước.
Song hành cùng với tốc độ tăng trưởng của doanh số cho vay là sự tăng
trưởng của tổng dư nợ cho vay sản xuất kinh doanh. Trong đó dư nợ đối với nông
nghiệp luôn cao hơn dư nợ đối với thương mại – dịch vụ, mặc dù vậy tốc độ tăng
trưởng tín dụng đối với lĩnh vực thương mại – dịch vụ luôn cao hơn so với lĩnh
vực nông nghiệp. Tuy tốc độ tăng trưởng tín dụng cao như vậy, nhưng ngân hàng
vẫn kiểm soát được chặt chẽ để đây không phải là mức tăng trưởng tín dụng nóng.
Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay sản xuất kinh doanh
thấp và luôn nằm trong mức cho phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tuy vậy ngân hàng vẫn luôn duy trì một khoản dự phòng để bù đắp rủi ro.
Ngân hàng có chính sách tín dụng hợp lý, luôn bảo đảm tính linh hoạt trong
hoàn cảnh thực tế, Ban lãnh đạo ngân hàng có năng lực, quản lý sáng suốt và luôn
đảm bảo mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng.
5.1.2. Những tồn tại.
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công tác tín dụng nêu trên, Ngân
hàng Sài Gòn Thương Tín Kiên Giang đã gặp phải một số vướng mắc sau:
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh đã gây áp lực lên công tác quản lý
nguồn vốn của ngân hàng. Tuy ngân hàng đã giảm được tỷ lệ nợ quá hạn qua từng
Với một số tồn tại từ kết quả phân tích và đánh giá ở trên. Do đó để tăng
cường tốt hơn nữa công tác tín dụng tại ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng
đối với hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh trong thời gian tới, em xin đưa ra
một số biện pháp dưới đây mong rằng những biện pháp này có thể góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Trang 2
GVHD: Nguyễn Văn Ngân SVTH: Đỗ Hoàng Tiến
5.2.1. Biện pháp huy động vốn.
Trong hoạt động của ngân hàng thì giữa hoạt động huy động vốn và hoạt
động tín dụng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Như ta đã thấy hoạt động
tín dụng của ngân hàng trong thời gian qua là có sự tăng trưởng cao, do đó ngân
hàng cần có một chính sách huy động vốn để có thể khai thác mọi tiềm năng về
vốn, để có được một nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế
cũng như là các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
Vốn huy động thường được huy động từ các tố chức kinh tế, các tổ chức tín
dụng, dân cư,…Trong đó vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư là quan
trọng nhất vì đây là nơi tập trung nguồn vốn nhàn rỗi nhiều nhất của xã hội, là
nguồn nguyên thủy để tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng.
Tuy ngày nay trình độ dân trí của người dân đã được nâng cao, người dân đã
biết là gửi tiền vào ngân hàng là được lợi, nhưng tâm lý của người dân là vẫn thích
để tiền ở nhà hơn, ngoài ra là do họ ngại thủ tục phải làm khi gửi tiền vào ngân
hàng. Vì vậy, ngân hàng cần tạo ra sự hấp dẫn cho khách hàng gửi tiền bằng cách
là:
- Đa dạng hóa các hình thức huy động: bên cạnh các hình thức truyền thống
thì ngân hàng cần đa dạng hóa các loại tiền gửi tiết kiệm chẳng hạn như đưa ra
những kỳ hạn gửi tiền linh hoạt đến tuần, tháng, quý,...nhằm thỏa mãn mọi nhu
cầu cho khách hàng.
- Phát hành kỳ phiếu có đảm bảo bằng ngoại tệ để khách hàng yên tâm không
sợ lạm phát.
- Áp dụng nhiều chương trình khuyến mãi như: lãi suất thưởng trên số tiền
thể xảy ra thì buộc ngân hàng phải đi tìm những khách hàng có thể chấp nhận mức
lãi suất mà ngân hàng đã đưa ra.
Ngược lại, khi ngân hàng cho thả nổi lãi suất trong khuôn khổ quy định của
ngân hàng Nhà nước, lãi suất được xác định theo thỏa thuận giữa ngân hàng và
khách hàng theo từng thương vụ sẽ tốt hơn. Bởi vì, khi ngân hàng thả nổi lãi suất
và chấp nhận tính lãi theo từng kết quả thương lượng, sẽ có nhiều khách hàng tìm
đến với ngân hàng. Ngân hàng không còn tìm một cách đơn phương nữa mà cả
khách hàng cũng tìm ngân hàng, do cả hai thấy có thể có nhiều lợi ích qua thương
lượng.
- Tăng cường công tác thẩm định, kiểm tra nhằm hạn chế rủi ro tín dụng.
Tuy đây là biện pháp không mới lạ gì đối với ngân hàng nhưng nó giữ vị trí
quan trọng quyết định đến chất lượng tín dụng và phòng ngừa rủi ro. Đối với công
tác cho vay của ngân hàng, trong tất cả các bước thì thẩm định là bước quan trọng
Trang 4
GVHD: Nguyễn Văn Ngân SVTH: Đỗ Hoàng Tiến
nhất, nếu công tác thẩm định không chính xác, đầy đủ thì rủi ro của ngân hàng
không thể tránh khỏi.
Khi rủi ro ngân hàng nảy sinh sẽ làm đồng vốn kinh doanh ngân hàng bỏ ra
sẽ không đem lại hiệu quả, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, vì vậy mà trước khi cho vay cán bộ tín dụng phải nắm bắt được các thông
tin, đánh giá khả năng tài chính của khách hàng. Để hạn chế rủi ro tín dụng cần
thực hiện một số công việc sau:
+ Kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ vay vốn, hợp đồng thế chấp, giấy ủy
quyền, phải có chữ ký thể hiện sự đồng tình và cùng chịu trách nhiệm về món tiền
vay của người đứng ra vay vốn.
+ Kiểm tra mục đích của việc vay vốn, tính khả thi của phương án sản xuất
kinh doanh, khả năng trả nợ cho ngân hàng.
+ Kiểm tra tính hợp pháp của tài sản thế chấp, quyền hạn của người vay đối
với tài sản thế chấp. Đặc biệt là phải chú ý đến thiện chí trong việc trả nợ của
người vay cũng như là tinh thần trách nhiệm của những người có liên quan đối với