PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN DÀI HẠN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI - Pdf 74

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN DÀI HẠN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở HÀ NỘI TRONG THỜI
GIAN TỚI
III.1. Quan điểm, phương hướng chung trong huy động và sử dụng vốn dài hạn cho đầu tư phát triển kinh
tế ở Hà Nội thời gian tới.
Như trên đã trình bày, Hà Nội luôn là địa phương đứng thứ hai cả nước
sau TP.Hồ Chí Minh về đóng góp cho NSNN. Hà Nội là một trong số ít địa
phương trong cả nước có số điều tiết ngân sách về Trung ương với tỷ lệ cao. Tỷ
lệ phân chia các nguồn thu cho ngân sách Hà Nội hàng năm thấp nhất cả nước -
30% - 35% tổng số thu NSNN trên địa bàn. Hà Nội cũng là địa phương thường
xuyên dẫn đầu cả nước về huy động công trái, TPCP, tín phiếu KBNN và huy
động qua các công cụ khác của KBNN và ngân hàng.
Để phát huy vai trò là trung tâm đầu não về chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm văn hóa, khoa
học-công nghệ của cả nước, đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế và giao dịch quốc tế, là động lực của vùng
trọng điểm kinh tế phía Bắc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; để đạt được mục tiêu cụ thể
tăng trưởng GDP trung bình hàng năm khoảng 10-11% trong giai đoạn 2001-2010, và đến 2010 nâng mức GDP
bình quân trên một người dân Thủ đô lên 2200-2300UD, gấp 2,4 lần so với mức 990 USD năm 2000, thì nhu
cầu đầu tư phát triển của Hà Nội rất lớn, đặc biệt là nhu cầu đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội - một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong đầu tư từ
nguồn ngân sách. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội giai đoạn 2001-
2010 chỉ rõ nhu cầu tổng vốn đầu tư xã hội của gia đoạn này lên tới 329.000 tỷ
đồng, bình quân 32.900 tỷ đồng/năm, gấp 2,56 lần so với bình quân hàng năm
giai đoạn 1996-2000, riêng giai đoạn 2001-2005 là 103.500 tỷ đồng, bình quân
20.700 tỷ đồng/năm, còn giai đoạn 2006-2010 lên tới 225.500 tỷ đồng, tăng gần
2,2 lần so với 5 năm trước, bình quân 45.100 tỷ đồng/năm.
Cùng với sự tăng cường xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu cần
giải quyết các nhiệm vụ kinh tế – xã hội theo tinh thần đổi mới của Đảng và nhà
nước, cũng như chủ trương chiến lược và kế hoạch phát triển mà Đảng bộ và
HĐND – UBND thành phố đã đặt ra, thì nhu cầu về vốn dài hạn ngày càng lớn
và yêu cầu sử dụng hiệu quả các nguồn vốn này cũng ngày càng cao. Với mục
tiêu này, quá trình huy động và sử dụng vốn dài hạn cho đầu tư phát triển cần

- Nguồn vốn dài hạn của ngân sách nhà nước (thông qua chính sách tài trợ), vốn ODA và NGO ở Hà
nội sẽ có xu hướng giảm vì định hướng chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư của Việt Nam sẽ là giảm dần tỷ trọng đầu
tư phát triển từ vốn Ngân sách nhà nước, tăng tỷ trọng vốn đầu tư từ ngoài Ngân sách và như ông Michael Klein
(Phó chủ tịch World Bank) nói”Việt nam đang phát triển rất nhanh và đến lúc nào đó Việt nam sẽ không thể nhận
nhiều viện trợ nữa”.
- Dù có khó khăn về nguồn vốn nhưng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và vì mục tiêu kinh doanh
các NHTM vẫn phải có giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh cho vay vốn trung và dài hạn vì đây là hoạt động kinh
doanh phổ biến và đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng.
Tuy nhiên, trong tương lai, việc khai thác các nguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng sẽ ngày càng
khó khăn hơn vì những lý do sau:
- Kinh tế và thị trường tài chính phát triển người có vốn có nhiều cơ hội để đầu tư trực tiếp hơn là gửi
Ngân hàng lấy lãi. Vốn của doanh nghiệp gửi ở NHTM chủ yếu sẽ dưới hình thức tiền gửi không có kỳ hạn để sử
dụng các dịch vụ ngân hàng. Tiền tiết kiệm của cá nhân, hộ gia đình có thể đầu tư vào chứng khoán, góp vốn,
mua cổ phần, đầu tư vào bất động sản... Mặt khác, khi xã hội phát triển nhu cầu tiêu dùng của xã hội sẽ ngày
càng tăng, tỷ lệ tiền giành cho tiết kiệm ở Hà nội không nhiều như hiện nay.
- Công cụ tài chính chủ yếu của các NHTM để thu hút vốn dài hạn của các NHTM là các chứng chỉ tiền
gửi dài hạn và trái phiếu, tuy nhiên kết quả phát hành trái phiếu sẽ phụ thuộc nhiều vào sự ổn định kinh tế vĩ mô
2
2
3
(nhất là các nhân tố tỷ lệ lạm phát, tỷ giá…). Chừng nào nền kinh tế Việt nam chưa ổn đinh, phát triển bền vững
thì các NHTM sẽ khó khăn khi định ra lãi suất huy động và công chúng cũng không yên tâm khi gửi tiền kỳ hạn
dài tại Ngân hàng.
- Sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên thị trường tài chính giữa các Ngân hàng với các định chế tài
chính khác như Công ty tài chính, các Quỹ tài chính. Giữa các Ngân hàng nội địa với Ngân hàng nước ngoài và
các định chế tài chính nước ngoài sẽ ngày càng xuất hiện nhiều hơn khi Việt Nam hội nhập kinh tế và tài chính
quốc tế.Trong cuộc cạnh tranh này đã thấy trước sự yếu kém, hạn chế của hệ thống NHTM Việt Nam.
Thứ hai, kết hợp hài hòa các nguồn vốn trong quá trình huy động, sử dụng
vốn đầu tư dài hạn cho phát triển kinh tế Thủ đô.
Sự kết hợp các nguồn vốn là điều kiện để giảm thiểu rủi ro kinh doanh

mở rộng sự kết hợp hài hòa các nguồn vốn này.
Thứ ba, kết hợp tăng cường huy động vốn với nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế trên cơ sở ngày càng tuân thủ các
nguyên tắc thị trường, bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và an toàn
trong hoạt động huy động và sử dụng vốn.
Việc huy động vốn phải gắn liền với việc sử dụng vốn có hiệu quả, bảo
đảm hoàn trả vốn huy động. Thống nhất cơ chế, quyền lợi, trách nhiệm vay và
trả nợ vốn vay.
Ngày càng đặt ra các hoạt động huy động và sử dụng vốn dài hạn trên cơ
sở các nguyên tắc kinh tế thị trường, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, lành
mạnh và an toàn vốn vay, đầu tư. Giảm thiểu tình trạng huy động và sử dụng
vốn theo cơ chế hành chính, bao cấp. Đảm bảo tăng nguồn vốn dài hạn để đầu tư
dài hạn, nhất là cho các dự án khó có khả năng thu hồi và hoàn trả trực tiếp vốn
đầu tư.
Bảo đảm sự bình đẳng trong tiếp cận nguồn vốn đầu tư dài hạn giữa các
thành phần kinh tế, giữa bên vay và cho vay.
Thứ tư, tập trung vốn dài hạn đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm
thuộc lĩnh vực ưu tiến phát triển phù hợp vị thế điều kiện đặc thù và yêu cầu phát
triển KT - XH Thủ đô.
Đại hội đảng bộ thành phố lần thứ 13 và các kế hoạch phát triển kinh tế
dài hạn và trung hạn của thành phố đã xác định phương hướng đầu tư dài hạn
phát triển kinh tế Thủ đô tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, các khu công nghiệp và các cơ
sở vật chất cần thiết, đổi mới máy móc thiết bị phục vụ phát triển kinh tế, nâng
cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Tập trung vốn đầu tư phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, sử dụng công
nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến theo định hướng phát triển trong Quy hoạch
công nghiệp thành phố đến năm 2010, ưu tiên các sản phẩm: phần mềm tin học,
cơ khí chính xác, chế tạo khuôn mẫu, linh kiện điện tử, đồ gia dụng, phương tiện
vận tải, dệt may cao cấp...

một đầu mối duy nhất để điều phối. Sớm khắc phục tình trạng tách biệt, phân tán giữa
sử dụng vốn đầu tư XDCB với vốn sự nghiệp đầu tư, giữa vốn đầu tư với vốn tín dụng,
giữa nguồn vốn đầu tư trực tiếp của ngân sách với vốn hỗ trợ lãi suất vốn vay như hiện
nay. Cơ quan đứng ra quản lý, điều hoà sự phối kết hợp các nguồn vốn trong đầu tư phát
triển phải là Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố.
-Lập ra "đường dây nóng" thuộc lãnh đạo Ủy ban nhân dân Thành phố để tiếp
nhận mọi thông tin liên quan đến những vướng mắc của doanh nghiệp và nhà đầu tư
5
5
6
trong việc thực hiện thủ tục đầu tư để xử lý nhanh nhất là một giải pháp cần thiết trong
cải thiện thủ tục đầu tư. "Đường dây nóng" có nhân viên trực liên tục trong ngày để
nhận thông tin phản ánh, yêu cầu của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Việc xử lý các thông
tin thông qua "đường dây nóng" có thể bằng nhiều cách phù hợp:
+ Gửi trực tiếp đến cơ quan liên quan yêu cầu xử lý và trả lời.
+ Thông qua công văn, ý kiến của ủy ban nhân dân Thành phố.
+ Giải thích trực tiếp nếu có thể.
-Hoàn thiện thủ tục đầu tư phù hợp đặc thù của Thủ đô Hà Nội. Mục tiêu cải thiện
môi trường đầu tư của Thành phố là phải tạo ra lợi thế so sánh cao hơn so với các địa
phương để thu hút và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả. Muốn vậy, việc hoàn thiện thủ
tục đầu tư vừa phát huy được lợi thế và vừa hạn chế được phức tạp riêng của Thành phố
khi tuân thủ thủ tục đầu tư của Nhà nước là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Thứ hai, tích cực sử dụng nguồn vốn XDCB TT để thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu
đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng, mục tiêu đã chọn. Theo
định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2005, thì cơ cấu kinh tế của Thủ
đô Hà Nội vẫn là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp và từ giai đoạn 2006-2010 thì
chuyển mạnh trọng tâm sang cơ cấu: dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp. Do vậy, vốn
đầu tư phát triển từ NSNN Thành phố các cấp trong thời gian tới cần trực tiếp hoặc tạo
điều kiện thúc đẩy đầu tư xã hội vào những lĩnh vực và đối tượng sau:
- Trong công nghiệp: chuyển dần sang ưu tiên cho các ngành công nghệ cao,

Tuy nhiên thực tế cho thấy nếu hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất có qui
mô quá lớn chỉ phù hợp thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thì
nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng đòi hỏi rất lớn. Do vậy phải kéo dài thời gian
xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ làm giảm hiệu quả vốn đầu tư. Việc tiếp tục hình thành
một số khu công nghiệp nhỏ (diện tích 10 - 15ha) vừa đủ khả năng tập trung vốn đầu
tư để hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện sớm thu hút các nhà đầu tư lấp đầy đự
án.
- Đầu tư vốn " mồi " để xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp và nông thôn, vốn đầu tư
của Nhà nước chỉ đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng đến điểm đầu mối còn
công trình từ điểm đầu mối đến người sử dụng có thể huy động các nguồn vốn khác.
Hình thức đầu tư này phù hợp với xây dựng các công trình như: trạm điện, đường
giao thông liên huyện và liên xã, trạm cấp nước, kênh mương tiêu úng chính.
- Ngân sách địa phương bảo lãnh cho các chủ dự án đầu tư vay vốn ngân hàng thương
mại, huy động vốn của dân cư để đầu tư vào dự án.
- Đầu tư vốn vào các Quỹ đầu tư của Thành phố trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển
vốn. Đây cũng là hình thức đầu tư vốn " mồi " gián tiếp, hình thành vốn điều lệ để
các Quỹ đầu tư huy động các nguồn vốn khác và đầu tư vào các dự án đầu tư.
- Đầu tư bằng quỹ đất, quỹ nhà vào các dự án đầu tư thông qua đấu thầu.
- Đầu tư vào nguồn nhân lực cho các dự án đầu tư thông qua các dự án hợp tác đào
tạo nhân lực.
- Đầu tư vào các dự án quản lý và giải phóng mặt bằng xây dựng đô thị. Lâu nay chi
phí đầu tư giải phóng mặt bằng được cơ cấu trong tổng dự toán đầu tư của dự án đầu
tư. Việc này không những phản ánh không chính xác tương quan suất đầu tư của
7
7
8
từng dự án đầu tư khác nhau mà vấn đề còn ở chỗ:
+ Do phải có vốn mới tổ chức đền bù được nên dẫn đến công tác giải phóng
mặt bằng chậm.
+ Do việc xác định chi phí đền bù để lập dự toán đầu tư thường không chính

8
8
9
của cơ quan qui hoạch chưa được quan tâm đúng mức.
- Lập quy hoạch các khu đất phục vụ dãn dân , di dân, xây dựng các khu tái
định cư và định cư tạm thời phục vụ GPMB, đồng thời bố trí một lượng vốn đầu tư đáng
kể để thực hiện các dự án đầu tư phục vụ tái định cư do giải phóng mặt bằng.
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, đa số người dân mặt tiền bị giải tỏa sau khi tái
định cư phải chuyển đổi nghề nghiệp kinh doanh. Thực tế này đòi Thành phố không chỉ
quan tâm đến số tiền đền bù là nhà, đất mà cần tính đến có sự hỗ trợ nhất định cho các
hộ dân khi tái định cư phải chuyển đổi nghề nghiệp.
- Công khai hóa cơ chế chính sách đền bù và nâng cao công tác tuyên truyền,
vận động, việc không công khai hóa cơ chế chính sách đền bù vô hình trung tạo cơ hội
nẩy sinh các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực. Mặt khác, điều đó dẫn đến sự hiểu biết,
vận dụng thực hiện khác nhau giữa các địa phương gây nghi ngờ cho nhân dân. Vì vậy,
trên cơ sở cơ chế chính sách, qui định về giải phóng mặt bằng phải tổ chức tuyên truyền,
công khai rộng rãi, vận động nhân dân tự nguyện chấp hành việc giải tỏa.
- Áp dụng biện pháp cưỡng chế, trong công tác giải phóng mặt bằng, việc giải
tỏa nhà ở của dân cư không thể nói 100% là "thông đồng bén giọt". Vì vậy, biện pháp
cuối cùng khi đã sử dụng mọi biện pháp cần thiết mà người dân không tự nguyện thực
hiện, là sử dụng biện pháp cưỡng chế. Song việc cưỡng chế phải thực hiện đúng nơi,
đúng chỗ, đúng thời điểm và theo pháp luật.
Thứ năm, tăng cường các biện pháp bảo đảm quy trình đầu tư, Theo cơ chế quản
lý đầu tư xây dựng hiện hành, thì trình tự đầu tư gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư;
Thực hiện đầu tư; Kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác, sử dụng.
Việc thực hiện đúng qui trình đầu tư không những có ý nghĩa nâng cao hiệu quả
đầu tư nói chung, mà có khi quyết định "vận mệnh" của dự án đầu tư. Tuy vậy, thực tế
để làm được việc đó vẫn còn không ít vướng mắc. Vấn đề đòi hỏi là ở chỗ, chủ đầu tư
phải vừa tháo gỡ được vướng mắc, vừa phải đảm bảo qui trình đầu tư không gây ảnh
hưởng đến hiệu quả dự án đầu tư.

Thành phố là việc nên làm bảo đảm nguyên tắc không gây phiền hà thủ tục cho nhà đầu
tư. Đơn cử ra đây một vài vấn đề cần có văn bản cụ thể hóa hơn:
- Về giá xét thầu, qui chế mới đã bỏ giá sàn và chỉ có giá trần và tổng mức đầu
tư của dự án, đây là " mốc " quan trọng để xem xét kết quả trúng thầu. Nhưng thực tế
nhiều đơn vị dự thầu chỉ bỏ thầu với giá từ 60 - 65% giá trần. Đây là phá giá và chắc
chắn gây tổn hại đến công trình. Việc này cần có qui định cụ thể hơn khi xem xét đơn
giá của từng gói thầu.
- Về chỉ định thầu, cần có qui định cụ thể là chủ đầu tư phải làm rõ một số vấn
đề trước khi quyết định chỉ định thầu, như: Lý do chỉ định thầu, vì sao chọn đơn vị được
chỉ định thầu, trách nhiệm của chủ đầu tư đối với chủ thầu, các dự án có xây lắp nhất
thiết phải có thiết kế dự án được duyệt.
Thứ sáu, nâng cao hiệu quả của công tác kế hoạch hóa vốn đầu tư,Đối với các
nguồn vốn khác do Thành phố quản lý, nhìn chung việc triển khai kế hoạch hóa vốn đầu
tư còn nhiều phức tạp, khó khăn. Chất lượng công tác kế hoạch hóa vốn đầu tư chưa cao
trong thời gian qua tác động không nhỏ đến việc nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng
vốn đầu tư tập trung do Thành phố quản lý. Để cải thiện hiệu quả công tác kế hoạch hóa
vốn đầu tư do Thành phố quản lý trong thời gian tới, cần lưu ý:
10
10
11
- Thực hiện tốt công tác định hướng đầu tư từng thời kỳ (giai đoạn 5 năm). Trên cơ sở
định hướng để xây dựng các chương trình, cụm công trình đầu tư trọng điểm gắn
liền với chương trình phát triển kinh tế - xã hội mà Hội đồng nhân dân Thành phố đã
thông qua. Và trên cơ sở cân đối, sắp xếp các dự án trọng điểm ưu tiên đầu tư, hình
thành danh mục đầu tư cho cả giai đoạn và từng năm để xây dựng kế hoạch huy
động, khai thác nguồn vốn đầu tư đáp ứng. Dĩ nhiên, việc lựa chọn dự án đầu tư phải
trên cơ sở cân đối với khả năng huy động và nguồn vốn đầu tư.
- Về bố trí vốn đầu tư. Trên cơ sở điều kiện ghi vốn đầu tư theo cơ chế quản lý vốn
đầu tư của Chính phủ, Thành phố phải:
+ Kiên quyết loại khỏi danh mục bố trí vốn hàng năm đối với các dự án chưa đủ

nên qui định Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối của Thành phố trong việc thực hiện kế
hoạch hóa vốn đầu tư do Thành phố quản lý.
Thứ bảy, hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả đầu tư. Việc đánh giá hiệu quả đầu
tư là khâu cực kỳ quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư. Thế nhưng thực tế đánh giá
hiệu quả đầu tư lâu nay chỉ đề cập khi thẩm định dự án đầu tư để quyết định đầu tư. Mà
ở giai đoạn này cơ quan thẩm định chỉ tập trung thẩm định:
- Đối với dự án đầu tư có hoàn vốn (sử dụng vốn vay) thì, cơ quan cho vay tập trung
thẩm định hiệu quả tài chính của dự án đầu tư có bảo đảm khả năng hoàn vốn.
- Đối với dự án đầu tư XDCB tập trung (sử dụng vốn cấp phát của ngân sách) thì cơ
quan quản lý cấp phát với tập trung thẩm định hiệu quả kinh tế - xã hội một cách
chung chung.
- Các dự án sử dụng vốn sự nghiệp hoặc dự án nhóm C có tổng dự toán thấp thường
không được thẩm định hoặc thẩm định còn sơ sài. Cơ quan quản lý bị động trong
việc cung cấp số liệu cho cấp trên chỉ đạo, điều hành quản lý vốn đầu tư. Số liệu
không được cập nhật đầy đủ và kịp thời kịp thời, nên chất lượng phân tích hiệu quả
đầu tư chưa cao. Do không theo dõi, phân tích kịp thời hiệu quả của dự án đầu tư
trong quá trình thực hiện nên không đủ thông tin để kiên quyết dừng bố trí vốn đối
với dự án biểu hiện hiệu quả kinh tế - xã hội chưa rõ ràng. Không đánh giá cụ thể
được hiệu quả sau đầu tư của từng dự án đầu tư đã gây ra sự thiếu vắng luồng thông tin
tin cậy nhất phục vụ điều chỉnh cơ cấu đầu tư phù hợp. Thiếu thông tin đồng bộ để đánh
giá công tác quản lý vốn đầu tư XDCB tập trung của Thành phố; Sở, ngành; Quận,
Huyện và chủ đầu tư.
Bởi vậy, trong thời gian tới việc hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả đầu tư cần
coi trọng hơn các nội dung và khía canh sau:
- Về tiêu thức đánh giá hiệu quả đầu tư:
+ Qui mô và cơ cấu vốn đầu tư (tỷ trọng của Hà Nội và so với cả nước).
+ Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn và sử dụng vốn đầu tư.
+ Tỷ trọng thực hiện kế hoạch vốn đầu tư.
+ Số lượng và cơ cấu dự án đầu tư, đối tác đầu tư.
- Các chỉ tiêu do đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: Tổng sản phẩm quốc nội

là sẽ tiếp tục tổ chức phát hành 2.500 tỷ đồng Công trái giáo dục đợt II và khoảng 9.000 tỷ đồng Trái phiếu
Chính phủ đầu tư các công trình giao thông thuỷ lợi. Theo Quyết định 182/QĐ-TTg của Thủ tướng, đến 2010 hệ
thống KBNN, trong đó có KBNN Hà Nội, phải triển khai huy động, quản lý và sử dụng 63.024 tỷ đồng TPCP
bằng cả nội tệ và ngoại tệ với thời hạn 5-10 năm nhằm đầu tư cho các công trình giao thông thuỷ lợi quan trọng
của đất nước, trong đó có 41.529 tỷ đồng đầu tư cho 20 công trình giao thông và 12.925 tỷ đồng đầu tư cho 16
công trình thuỷ lợi. Bên cạnh nhiệm vụ phải huy động trung bình trên 1000 tỷ đồng TPCP/năm, trong những
năm tới, KBNN Hà Nội sẽ bắt đầu thực hiện chủ trương của Thành phố về phát hành TPCQĐP nhằm tăng cường
khai thác và sử dụng vốn dài hạn trực tiếp cho đầu tư phát triển Thủ đô. Đó là những nhiệm vụ rất nặng nề đặt
lên vai hệ thống KBNN Hà Nội. Để KBNN Hà Nội có thể hoàn thành tốt những nhiệm vụ đó cần thực hiện tốt
những giải pháp chủ yếu sau:
III.3.2. Giải pháp tăng cường huy động vốn qua KBNN
a) Huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ
13
13
14
- NHNN Thành phố cần chỉ đạo các NHTM xây dựng chiến lược và kế hoạch mở rộng qui mô huy
động vốn trong nước cho ĐTPT thông qua phát hành TPCP;
- Tăng cường năng lực quản lý nợ công thông qua xây dựng chiến lược quản lý vay và trả nợ, có bộ máy quản
lý nợ công tập trung thống nhất.
- KBNN phải nắm bắt được nhu cầu thanh toán vốn từ nguồn TPCP thuộc các cơ quan chức năng như Bộ
GTVT, Bộ NN&PTNT, v.v. để có kế hoạch cung ứng vốn kịp thời cho các công trình, không để xảy ra tình
trạng thiếu vốn và đảm bảo việc huy động vốn phải phù hợp với tiến độ giải ngân của công trình, tránh tình
trạng huy động song mà không giải ngân được phải gánh chịu lãi suất huy động.
- Tăng số lượng các thành viên tham gia đấu thầu TPCP. Thúc đẩy sự tham gia mạnh mẽ hơn nữa của hệ
thống ngân hàng, các TCTD phi ngân hàng và TTCK trong hoạt động đầu tư vào TPCP. Nâng dần tỷ trọng
đầu tư vào TPCP của các định chế tài chính trong nước.
- Nâng tính minh bạch của thị trường tài chính cũng như mức độ hấp dẫn của TPCP, đa dạng hoá các công cụ
và hình thức huy động.
- Đảm bảo nguồn nhân lực có trình độ, được thường xuyên bồi dưỡng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, trang bị đủ tri thức, đủ năng lực để làm chủ công nghệ quản lý và công nghệ thông tin hiện đại.

tổng hợp từ dưới lên, tách riêng chiến lược và kế hoạch huy động vốn trung và dài hạn. Căn cứ xây dựng kế
hoạch là Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô, dự toán ngân sách thành phố, nhu cầu
đầu tư, khả năng cung ứng vốn từ nguồn vốn ĐTPT của NSNN, nhu cầu huy động vốn cho từng dự án cụ
thể theo kế hoạch và qui hoạch đầu tư chi tiết. Việc cân đối kế hoạch huy động dựa trên nguyên tắc chủ
động, tích cực, xuất phát từ đánh giá và dự báo chính xác nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, xuất phát từ
nhu cầu thật sự cần thiết phải phát hành TPCQĐP, nắm chắc và khai thác tốt nguồn lực tài chính trong nước,
đảm bảo tính khả thi. Việc phân bổ và giao kế hoạch huy động vốn phải gắn liền với giao kế hoạch NSNN.
Lưu ý lựa chọn thời điểm phát hành TPCQĐP thích hợp, vừa bám sát nhu cầu sử dụng vốn, vừa phù hợp với
diễn biến thực tế trên thị trường tài chính.
- KBNN Hà Nội phối hợp và tranh thủ sự giúp đỡ, hướng dẫn của các Bộ ngành TW, các cấp chính quyền
thành phố, các cơ quan tài chính trên địa bàn cũng như chính quyền và cơ quan tài chính các địa phương
khác trên cả nước trong việc xây dựng và triển khai kế hoạch phát hành TPCQĐP.
- Đa dạng hoá các loại kỳ hạn TPCQĐP, đặc biệt chú trọng tăng qui mô phát hành trái phiếu trung dài hạn 3-5
năm, nghiên cứu khả năng phát hành với kỳ hạn dài hơn, thậm chí từ 10 đến 30 năm. Phân biệt rõ TPCQĐP
có tính chất nghĩa vụ và TPCQĐP có tính chất tự nguyện để có hệ thống giải pháp phát hành và sử dụng
thích hợp:
(1) Loại TPCQĐP có tính chất nghĩa vụ có lãi suất thấp, thời hạn 5-10 năm nhằm huy động vốn xây
dựng các công trình dự án có ý nghĩa kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng chiến lược trên phạm vi
quốc gia và toàn Thành phố. Theo đó phải có qui định cụ thể nghĩa vụ mua đối với từng đối tượng
cụ thể kết hợp với các biện pháp tuyên truyền giáo dục. Riêng đối với các công trình mang tính phúc
lợi xã hội, giáo dục, y tế,... trên địa bàn có thể xem xét phát hành TPCQĐP trên cơ sở vận động;
(2) Loại TPCQĐP có tính chất tự nguyện nhằm huy động vốn đầu tư vào những dự án có hiệu quả kinh
tế cao, có khả năng thu hồi trực tiếp hoặc gián tiếp qua thu phí, huy động theo nguyên tắc tự nguyện
(chẳng hạn xây dựng nhà máy điện, cấp nước, nhà ở, giao thông, cầu, cảng, sân bay, nhà ga,...).
Phương thức, nội dung, tính chất, lãi suất,... dựa trên qui luật thị trường, cạnh tranh bình đẳng với
các loại hình tín dụng khác. Cần đa dạng hoá các phương thức phát hành loại TPCQĐP này, có thể
phát hành cả trái phiếu huy động vốn trong nước bằng vàng và ngoại tệ.
- Chú trọng phát triển các kênh huy động vốn trên địa bàn, đặc biệt là tăng cường cho các KBNN quận huyện
năng lực đánh giá và dự báo chính xác tiềm năng huy động, bám sát địa bàn dân cư triển khai có hiệu quả
các biện pháp huy động vốn theo đúng tiến độ kế hoạch.

- Thực hiện cấp phát theo đúng qui định gắn liền với cải cách thủ tục hành chính đảm bảo giải ngân kịp thời
nguồn vốn đầu tư
- Việc phân bổ dự toán chi tiết trong năm và theo từng quí phải có sự thẩm tra của cơ quan tài chính làm căn
cứ cho việc tạm ứng, cấp phát hay thanh toán các khoản chi từ KBNN. Mọi thủ tục hành chính, quản lý, qui
định phải thích ứng nhịp độ phát triển kinh tế nhanh, nhịp độ hoạt động xã hội nhanh,... phải nắm chắc tình
hình, phân tích kịp thời, dự báo kịp thời để giải quyết nhanh vấn đề
- Cơ quan KBNN chỉ thực hiện chi khi hội tụ đủ các điều kiện như đã có trong dự toán ngân sách được giao,
đã được chi tiết theo loại, mục, tiến độ thực hiện, kể cả dự toán quí đã được cơ quan tài chính ra thông báo
thẩm tra; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành; đã được thủ trưởng đơn vị
sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền quyết định chi. Việc áp dụng phương thức thanh toán trực tiếp
vừa tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị, giảm tầng nấc trung gian, vừa làm rõ trách nhiệm cá nhân của lãnh
đạo đơn vị thụ hưởng ngân sách, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN.
- Trong quá trình hoàn thiện qui trình cấp phát thanh toán ngân sách cần thực hiện tốt qui định các hình thức
chi trả, thanh toán theo Luật NSNN là: (1) theo dự toán thay cho hình thức cấp phát bằng hạn mức kinh phí
trước đây; (2) bằng lệnh chi tiền. Chính việc bỏ hình thức chi trả thanh toán bằng hạn mức kinh phí đã giảm
bớt những thủ tục rườm rà, không cần thiết, hao tốn thời gian và công sức của người phục vụ cũng như
người được phục vụ. Hạn chế dần hình thức chi trả thanh toán bằng lênh chi tiền do tuy hình thức này đang
chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi NSNN nhưng nhiều ý kiến cho rằng hiệu quả không cao, nhất là về mặt
quản lý tài chính, ngân sách.
- Hoàn thiện hệ thống định mức tiêu chuẩn chi tiêu, kiện toàn chế độ kế toán, quyết toán ngân sách.
- Thực hiện tốt chương trình cải cách hành chính, cụ thể là cải cách triệt để các thủ tục hành chính trong hoạt
động nghiệp vụ của KBNN, đảm bảo quản lý chặt chẽ, chi đúng chế độ chính sách, chi kịp thời, đồng thời
tránh gây phiền hà.
16
16
17
- Nghiên cứu triển khai chủ trương đấu thầu các công trình để hạn chế tiêu cực, phát triển các hình thức đầu
tư BOT, BT, thí điểm thực hiện Nhà nước mua công trình hoàn thành sát với giá trị thực làm cơ sở tổng kết
triển khai nhân rộng.
III.3.3.2. Nâng cao hiệu quả kiểm soát chi của KBNN

(5) Quyết toán vốn đầu tư hàng năm và quyết toán dự án đầu tư hoàn thành được lập riêng, không cân
đối chung vào dự toán chi của các Bộ và NSĐP.
- Triển khai có hiệu quả cơ chế quản lý, cấp phát, thanh quyết toán vốn đầu tư theo các thông tư 44 và
45/2003/TT-BTC.
- Phối hợp tốt với các cơ quan có liên quan để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động. Căn cứ vào danh
mục công trình theo Quyết định 182/2003/QĐ-TTg, Bộ GTVT và Bộ NN&PTNT tính toán kỹ khả năng
thực hiện hàng năm của từng dự án để có phân kỳ đầu tư, có kế hoạch nhu cầu vốn hàng tháng với
KBNNTW để ngành Kho bạc có kế hoạch huy động vốn sát với nhu cầu sử dụng.
17
17
18
- Phối hợp thẩm định quyết toán vốn đầu tư từ nguồn TPCP với các cơ quan chức năng.
- Tranh thủ sự giúp đỡ, phối hợp của các cơ quan thanh tra, kiểm toán, sự giám sát của nhân dân để đảm bảo
hiệu quả đầu tư từ nguồn trái phiếu, chống lãng phí thất thoát.
- Hiện đại hoá hoạt động KBNN nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý kinh tế, tài chính và ngân sách trong
giai đoạn mới.
Tóm lại, muốn tăng cường khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn dài hạn thông qua KBNN Hà Nội
cần áp dụng hệ thống các giải pháp đồng bộ, một mặt phát huy những ưu điểm, lợi thế, thành tích trong huy động
và sử dụng nguồn vốn thông qua phát hành TPCP của KBNN Hà Nội những năm qua để tiếp tục hoàn thành
vượt mức chỉ tiêu kế hoạch phát hành TPCP được TW tin cậy giao phó. Mặt khác, KBNN Hà Nội cần chủ động
phối hợp với các cơ quan chức năng dưới sự chỉ đạo của chính quyền Thành phố lên phương án, kế hoạch phát
hành và sử dụng TPCQĐP như một kênh huy động mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khai thác cao
độ nguồn lực tài chính dồi dào trong dân để đầu tư xây dựng CSHT của Thủ đô.
III.4. Những phương hướng và giải pháp huy động, sử dụng vốn qua các ngân hàng thương mại
III.4.1. Phương hướng và giải pháp tăng cường huy động vốn dài hạn qua các
NHTM
III.4.1.1. Các Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn ngắn hạn.
Đây là thế mạnh độc quyền của Ngân hàng vì không có tổ chức tài chính phi ngân hàng nào được phép
huy động tiền gửi không kỳ hạn và được làm dịch vụ thanh toán như ngân hàng. Số dư huy động vốn ngắn hạn
càng nhiều thì số lượng vốn được sử dụng cho vay trung và dài hạn sẽ càng lớn (theo tỷ lệ quy định).

đẩy mạnh phát hành thẻ giúp các Ngân hàng mở rộng đối tượng khách hàng với chi phí giao dịch thấp đồng thời
khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt.
Ngoài ra, các NHTM còn nên phát triển các dịch vụ khác như bảo lãnh ,kinh doanh chứng khoán, mua
bán nợ và dịch vụ mua–bán nhà đất để tận dụng các nguồn vốn thanh toán, nguồn tiền gửi ký quỹ của các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân.
III.4.1.2. Đa dạng hoá các công cụ huy động vốn trung và dài hạn
Tiếp tục phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi dài hạn và trái phiếu ngân hàng để thu hút vốn đồng thời
tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoán. Đồng thời tận dụng các nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư.
III.4.1.3. Phát hành cổ phiếu
Một biện pháp để huy động nguồn vốn dài hạn của các NHTM mà ít có người đề cập đến hiện nay ở
Việt Nam là phát hành cổ phiếu. Hiện nay quy mô vốn tự có của các NHTM cổ phần ở Hà Nội rất thấp (trung
bình 9,7 triệu USD một Ngân hàng, trong khi đó nhiều Ngân hàng trong khu vực châu Á vốn tự có của họ phải
đạt tỷ thậm chí hàng chục tỷ USD). Vốn tự có thấp làm hạn chế năng lực tài chính của các Ngân hàng, thể hiện
rõ nhất qua các giới hạn bảo lãnh, cho vay (sau này khi Luật các TCTD được sửa đổi sẽ là thêm các giới hạn về
chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ có giá và thuê mua tài chính).
Do nhiều lý do, hiện các NHTM cổ phần mới chỉ phát hành cổ phiếu riêng lẻ chưa phát hành rộng rãi
ra công chúng. Còn các NHTM nhà nước thì chưa được phép phát hành cổ phiếu (vấn đề hiện còn nhiều tranh
cãi). Để nâng cao năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam đồng thời tăng nguồn vốn dài hạn cho ngân hàng
chúng tôi nghĩ giải pháp khả thi và gần như chắc chắn các NHTM sẽ phải thực hiện là phát hành cổ phiếu rộng
rãi ra công chúng trên TCCK. Vấn đề là ở chỗ nếu có đủ điều kiện thì thì thực hiện sớm ngày nào có lợi cho các
Ngân hàng và nền kinh tế ngày đó.
III.4.1.4. Huy động vốn từ các tổ chức tài chính khác
Do chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của mình, một số tổ chức tài chính thường có những nguồn vốn
tạm thời chưa sử dụng đến trong một vài thời điểm rất lớn như vốn của Kho bạc nhà nhà nước, tiền gửi của các
công ty tài chính và quỹ tài chính. Các NHTM cũng nên tận dụng nguồn vốn này thông qua các tài khoản tiền
gửi.
III.4.1.5. Thu hút vốn từ các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và lân cận
Hà nội đang xây dựng và triển khai kế hoạch hợp tác phát triển với 7 tỉnh vùng Bắc Bộ và lân cận. Đã
có một số NHTM cổ phần đã mở chi nhánh tại một số tỉnh như Hà Bắc, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh.
Tiềm năng về vốn ở các tỉnh này chắc chắn chưa được khai thác nhiều vì hệ thống ngân hàng và các định chế tài

chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá…
- Chủ động tiếp cận tìm hiểu các nhu cầu cũng như khả năng của doanh nghiệp để tư vấn, mời chào
khách hàng vay vốn và sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng. Không thụ động chờ đợi khách hàng cung cấp các
thông tin mà phải chủ động tìm kiếm và thẩm định thông tin về khách hàng để đưa ra các quyết định đầu tư đúng
đắn, kịp thời, không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư. Giải pháp này muốn đạt hiệu quả phải được thực hiện đồng bộ với
việc nâng cao khả năng phân tích thẩm định dự án và tư vấn của đội ngũ cán bộ tín dụng ngân hàng.
- Đối với các doanh nghiệp chưa đủ điều kiện vay thì Ngân hàng tìm kiếm năng lực bảo lãnh giúp
doanh nghiệp hoặc phối hợp với các Quỹ, tổ chức tài chính, các hiệp hội nghề nghiệp để tài trợ vốn cho doanh
nghiệp.
-Tiến hành các khoản cho vay dài hạn có thế chấp bằng bất động sản (quyền sử dụng đất và các tài sản
gắn liền với đất). Với những bất động sản (có chứng minh quyền sử dụng và quyền sở hữu rõ ràng, hợp pháp)
ngân hàng có thể dễ dàng xử lý khi khách hàng không có khả năng thanh toán nợ.Bên cạnh việc cho vay để giao
dịch, đầu tư kinh doanh trên thị trường bất động sản thì các NHTM cũng nên có các biện pháp đẩy mạnh cho vay
các hộ gia đình và cá nhân mua nhà ở.
- Cho vay đồng tài trợ: Mặc dù nhận thức được lợi ích của cho vay hợp vốn nhưng do cơ sở pháp lý để
cho vay đồng tài trợ còn một số vấn đề vướng mắc nên việc cho vay đồng tài trợ giữa các TCTD ở Hà Nội chưa
phổ biến, chủ yếu mới diễn ra trong cùng hệ thống Ngân hàng. Trong điều kiện vốn có kỳ hạn của các Ngân
hàng không dồi dào, giới hạn cho vay thấp thì giải pháp cho vay đồng tài trợ là giải pháp vừa có thể đáp ứng
được nhu cầu vốn cho các dự án lớn mà lượng vốn dài hạn của mỗi tổ chức tham gia lại ở mức vừa, rủi ro được
phân tán cho nhiều bên tham gia. Để mở rộng đối tượng tham gia, trong thời gian tới nên đẩy mạnh cho vay
đồng tài trợ giữa các TCTD các hệ thống hoặc với các định chế tài chính khác như Quỹ phát triển nhà ở Hà nội
(sau này là Quỹ đầu tư phát triển TP Hà nội), Quỹ Hỗ trợ phát triển.
- Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệpcũng là hình thức nâng cao hiệu quả sử dụng vốn dài hạn
của các NHTM. Việc các Ngân hàng tham gia vốn với các DN vừa giúp DN có thêm vốn hoạt động vừa mở rộng
khả năng của Ngân hàng tham gia trực tiếp vào quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
20
20
21
- Phát triển dịch vụ thuê mua tài chính. Thuê mua tài chính đang là một hoạt động khá phổ biến ở các
nước để cung cấp vốn dài hạn cho các dự án đầu tư phát triển. Dịch vụ này vừa giúp doanh nghiệp không đủ

xúc tiến thương mại, hỗ trợ về thuế…để các Quỹ này có thể đứng ra bảo đảm các khoản vay dài hạn cho các
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM.
- Thành phố có các giải pháp để tăng cường năng lực công nghệ cho doanh nghiệp như đưa ra các chính
sách khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, hiện đại hoá quy trình sản xuất, kinh doanh, xây dựng các
hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế…
- Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư để mở ra các thị trường cho doanh nghiệp.
- Phát triển hạ tầng hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, nhất là mặt bằng sản xuất để khuyến khích các doanh
nghiệp phát triển lâu dài.
- Đẩy nhanh lộ trình cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và khách hàng rút
ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí để thực hiện các thủ tục vay vốn.
21
21
22
III.5. Những phương hướng và giải pháp huy động, sử dụng vốn qua thị trường tài chính.
Để các hoạt động huy động và sử dụng vốn trên thị trường tài chính phát
triển thuận lợi, lành mạnh như đã đề cập ở trên, việc xd và vận hành TTGDCK
Hà Nội có vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng. Vì vậy, dưới đây chúng tôi xin tập
trung vào nội dung này.
III.5.1. Mô hình tổ chức hoạt động tại TTGDCK Hà Nội.
III.5.1.1. Chiến lược phát triển trung tâm giao dịch chứng khoán Hà nội
Việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Hà Nội cũng sẽ được
tiến hành trên cơ sở những quan điểm chung về phát triển thị trường chứng
khoán ở Việt Nam. Thị trường sẽ được xây dựng từng bước, với quy mô từ nhỏ
đến lớn, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Xây
dựng thị trường phải đảm bảo việc hoạt động an toàn, hiệu quả, ổn định, thích
ứng linh hoạt với những thay đổi của môi trường và tôn trọng các quy luật thị
trường và đảm bảo sự thuận tiện cho các đối tượng tham gia thị trường để khai
thác tối đa mọi nguồn lực của nền kinh tế. Mặc dù đây là một thể chế thị trường
bậc cao, song tiến trình phát triển thị trường rất cần thiết đòi hỏi sự tăng cường
quản lý bằng pháp luật của Nhà nước; đảm bảo an toàn và tạo động lực phát

UBCKNN. Vị trí của Trung tâm cần được xác định theo hướng mang tính độc
lập cao hơn, nhằm đảm bảo chức năng quản lý thị trường hiệu quả và kịp thời.
Thứ hai, với việc nâng cao vị trí pháp lý, TTGDCK Hà Nội sẽ có chức
năng cấp đăng ký thành viên của thị trường, cấp phép niêm yết hoặc nhận đăng
ký giao dịch đối với các công ty muốn tham gia thị trường Hà nội. Theo thông lệ
quốc tế, đây là một trong số các chức năng chủ yếu của một cơ quan điều hành
thị trường chứng khoán, tạo ra tính tự chủ trong quá trình vận hành thị trường,
do vậy nâng cao hiệu quả hoạt động cho thị trường.
Thứ ba,TTGDCK Hà Nội có chức năng giám sát và điều tra bước đầu đối
với các nghi vấn về giao dịch không công bằng trên thị trường, điều tra tại chỗ
đối với các công ty thành viên. Các quyền hạn này sẽ làm tăng cường hiệu quả
và tính kịp thời của công tác giám sát và quản lý thị trường, điều này đặc biệt
quan trọng trong quá trình vận hành và quản lý thị trường.
Cơ cấu phòng ban về cơ bản giống như mô hình hiện nay, tuy nhiên cần
bổ sung thêm hai phòng là Phòng điều tra và Phòng trái phiếu. Những bổ sung
này nhằm củng cố cho hoạt động của Trung tâm theo hướng đã đề xuất. Phòng
điều tra có chức năng điều tra tại chỗ bước đầu và báo cáo lên Thanh tra của
UBCKNN để xử lý vi phạm. Phòng trái phiếu sẽ là đơn vị quản lý giao dịch trái
phiếu trên TTGDCK Hà nội.
Về cơ cấu sở hữu, đến năm 2010 TTGDCK Hà nội vẫn thuộc sở hữu Nhà
nước (theo mô hình đơn vị sự nghiệp cấp 3). Giai đoạn sau đó, tuỳ theo điều
kiện phát triển cụ thể của thị trường và khi các công ty chứng khoán đã lớn
mạnh về mặt tài chính, Trung tâm giao dịch OTC có thể chuyển đổi từng bước
23
23
24
sang mô hình sở hữu thành viên hoặc cổ phần với mô hình quản trị hai cấp là
Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc.
III.5.1.3.Tổ chức hoạt động tại TTGDCK Hà nội
* Chứng khoán giao dịch trên thị trường

chứng chỉ quỹ đầu tư cũng chưa có quy định cụ thể.
Như vậy, với các điều kiện niêm yết nêu trên, theo chúng tôi, để tạo điều
kiện cho TTGDCK Hà Nội hoạt động hiệu quả trong giai đoạn đầu nên quy định
loại hình chứng khoán niêm yết trên thị trường Hà Nội sao cho thu hút được
một khối lượng đáng kể hàng hoá cho thị trường này. Vì vậy, chúng tôi đề xuất
TTGDCK Hà Nội được niêm yết tất cả các loại hình chứng khoán hiện có, bao
gồm cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư. Đối với cổ phiếu, nên phân
chia niêm yết các doanh nghiệp có vốn từ 5- 30 tỷ đồng tại Trung tâm Hà nội.
Đối với trái phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư thì nên cho phép tất cả các loại hình
chứng khoán này được tập trung niêm yết tại TTGDCK Hà Nội, một mặt, để tạo
nhiều hàng hoá cho thị trường, mặt khác vì mô hình giao dịch đề xuất là áp dụng
cả hình thức giao dịch thoả thuận, do vậy sẽ phù hợp cho việc giao dịch các loại
chứng khoán này, đặc biệt là các loại trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp.
Đồng thời, khi TTGDCK Hà Nội đã đi vào hoạt động ổn định thì có thể
nghiên cứu cho phép các loại chứng khoán dưới 5 tỷ đồng được giao dịch qua hệ
thống thoả thuận với các điều kiện đơn giản hơn chứng khoán niêm yết. Điều
này phù hợp với tình hình thực tế hiện nay là các doanh nghiệp có vốn nhỏ dưới
5 tỷ chưa được tham gia vào thị trường chứng khoán niêm yết do chưa đủ điều
kiện, việc giao dịch các loại chứng khoán này có tính rủi ro cao. Tuy nhiên, xét
về nhu cầu của doanh nghiệp cần được tham gia thị trường để huy động vốn và
nhu cầu đầu tư của những nhà đầu tư với khả năng chấp nhận rủi ro cao thì việc
tạo ra một sân chơi riêng cho các đối tượng này là cần thiết. Các điều kiện tham
gia thị trường này cần được đơn giản hoá so với thị trường niêm yết để tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường, theo đó chỉ cần yêu cầu
doanh nghiệp nộp báo cáo kiểm toán năm gần nhất và bảo đảm tỷ lệ 20% vốn
của công ty do ít nhất 50 cổ đông nắm giữ . Song vì đây là thị trường rủi ro cao
nên nhà đầu tư tham gia thị trường này cần phải có năng lực đánh giá chứng
khoán tốt và chấp nhận mức rủi ro cao.
Giai đoạn hai (từ 2010).
Đến giai đoạn 2010, khi TTGDCK Hà Nội phát triển thành thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status