Giải pháp tăng cường huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn dài hạn cho đầu tư pháp triển kinh tế ở Hà nội. - Pdf 34

BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CK Chứng khoán
CP Cổ phiếu
CSHT Cơ sở hạ tầng
DN Doanh nghiệp
GPMB Giải phóng mặt bằng
HĐND Hội đồng nhân dân
KBNN Kho Bạc nhà nước
KH-CN Khoa học - công nghệ
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NSNN Ngân sách nhà nước
QSD Quyền sử dụng
TP CQĐP Trái phiếu chính quyền địa phương
TPCP Trái phiếu chính phủ
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTTC Thị trường tài chính
UBND Uỷ ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
XHH Xã hội hóa
2
MỤC LỤC
2
LỜI NÓI ĐẦU
Vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư phát triển dài hạn, luôn luôn đóng vai
trò quan trọng hàng đầu trong sự phát triển kinh tế cả ở cấp doanh nghiệp lẫn
cấp địa phương và quốc gia, cả trong quá khứ, hiện tại lẫn trong tương lai...
Vốn đầu tư là một khái niệm mở, rộng... ở đề tài này, vốn đầu tư được tiếp
cận theo nghĩa hẹp là các nguồn lực tài chính - tiền tệ. Hơn nữa, do thực chất các
nguồn vốn huy động trên 5 năm là rất nhỏ, và ít được bóc tách trong các thống
kê hiện có, nên vốn đầu tư dài hạn ở đây được hiểu là các khoản tín dụng và đầu

trong nước bao gồm: vốn tài chính - tiền tệ, các dạng của cải, tài sản vật chất và
tri thức, nguồn nhân lực và các quan hệ trong nền kinh tế thị trường… Chúng có
thể chuyển hóa cho nhau và được đo lường chung bằng tiền trong điều kiện nhất
định (trừ vốn - con người).
Dưới đây chỉ xin đề cập tới vốn trong nước với cách hiểu theo nghĩa hẹp
nêu trên.
Vốn đầu tư phát triển kinh tế dài hạn là những khoản vốn dài hạn chi cho
các hoạt động mở rộng sản xuất - kinh doanh, những công trình xd CSHT trực
tiếp hoặc gián tiếp phục vụ phát triển kinh tế, cũng như cho các hoạt động khác
liên quan đến sản xuất - kinh doanh và phát triển kinh tế theo chiều sâu của đất
nước, địa phương và DN. Hơn nữa, theo cách hiểu thông thường hiện nay, vốn
ngắn hạn là vốn có thời gian kể từ khi huy động đến lúc hoàn trả là dưới 12
tháng, trung hạn thì từ trên 12 tháng đến dưới 5 năm và dài hạn là trên 5 năm.
Tuy nhiên, do trên thực tế hoạt động của ngân hàng, vốn có thời hạn trên 5 năm
chiếm tỷ trọng rất nhỏ, nên dưới đây, vốn dài hạn được hiểu là vốn trung và dài
hạn, tức có thời hạn hoàn trả vốn từ trên 12 tháng.
Trong cơ chế quản lí kinh tế tập trung, bao cấp với chế độ cấp phát và
giao nộp sản phẩm đã không tạo động lực quan tâm nhiều đến việc huy động và
sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nói chung, vốn dài hạn nói riêng trong nền kinh tế,
cả ở cấp vĩ mô lẫn vi mô. Vốn đầu tư và nguồn vốn đầu tư cũng được quan niệm
4
rất đơn giản. Thậm chí chưa có sự phân định giữa vốn và tiền. Cơ chế phân phối
vốn chỉ bó hẹp ở hai kênh: ngân sách nhà nước và vay tín dụng ngân hàng với
lãi suất thấp. Từ đó dẫn đến những sai lầm như việc phát hành thêm tiền để đầu
tư, hay chưa chú ý đến các nguồn lực khác ngoài NSNN. Các địa phương không
quan tâm đến việc tự huy động vốn xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế,
thậm chí là không được phép thực hiện.
Cùng với quá trình đổi mới, quyền tự chủ của các địa phương đã được coi
trọng và phát huy. Những nhận thức về vốn cũng đã thay đổi.
Mục tiêu chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai

Nhiều công trình đầu tư không phát huy được hiệu quả hoặc hiệu quả
thấp một phần là do các yếu tố cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội "ngoài hàng rào"
không đáp ứng được yêu cầu. Một nhà máy được xây dựng mà không có công
trình cơ sở hạ tầng kinh tế đồng bộ thì khó có thể hoạt động tốt được. Ngoài ra,
đi cùng với nhà máy tất yếu phải có các cơ sở hạ tầng xã hội như các khu dân
cư, trường học, bệnh viện, cơ sở văn hoá, thể thao... nếu không, sẽ gây không ít
khó khăn cho hoạt động và ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà
máy. Theo kinh nghiệm của các nước, vốn đầu tư cho các công trình ngoài hàng
rào đôi khi còn cao hơn vốn đầu tư cho các nhà máy. Vì vậy, dù là công trình
được đầu tư từ nguồn vốn bên ngoài thì vốn đầu tư trong nước cũng rất quan
trọng.
Về tỷ trọng giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài, xét về lâu dài, vốn
trong nước phải nhiều hơn vốn nước ngoài. Không thể mong đợi sự tăng trưởng
nhanh và vững chắc nhờ vào các nguồn vốn từ bên ngoài. Kinh nghiệm phát
triển của các nước cũng đã chứng minh điều đó, ở đây chỉ có trường hợp ngoại
lệ của các nước có nguồn tài nguyên quý, với trữ lượng lớn như dầu mỏ của các
tiểu vương quốc A-rập, Bruney... nhưng ngay cả những trường hợp này thì cuối
cùng vốn bên trong (dù chỉ là vốn có được do bán tài nguyên thiên nhiên) sẽ lớn
hơn vốn bên ngoài.
Cuối cùng, xét về lợi ích dân tộc, nếu không có vốn đầu tư trong nước đủ
mức cần thiết thì xét về lâu dài, nguồn của cải làm ra có thể lớn, nhưng phần của
cải thực sự mà ta được hưởng (tính thông qua chỉ tiêu GNP) lại rất ít. Như vậy,
nền kinh tế có vẻ phồn vinh, sản phẩm có vẻ dồi dào nhưng của cải đó không
thuộc sở hữu của nhân dân trong nước. Tỷ lệ góp vốn của các doanh nghiệp
trong nước chỉ dừng lại ở mức 30-40% như hiện nay có một lý do quan trọng là
thiếu vốn đối ứng trong nước. Không ít doanh nghiệp phải dùng "quỹ đất' để góp
vốn, phần còn thiếu lại phải đi vay nước ngoài để góp vốn cho các liên doanh.
Một số doanh nghiệp trong nước mua thiết bị nước ngoài theo hình thức trả
chậm, nhưng do không có vốn nên lại phải vay thương mại với những điều kiện
bất lợi, làm ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả của công trình.

tư nhân hay e ngại. Điều này cũng giải thích vì sao tỷ trọng vốn dài hạn trong
tổng vốn huy động của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng thường rất
thấp. Tuy nhiên, tùy theo sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, nhất là mức độ tự
do hóa kinh doanh, sự ổn định và những thay đổi có thể dự báo được của chính
sách, độ thông thoáng về thủ tục quản lí nhà nước, và các ưu đãi khác… mà vốn
đầu tư dài hạn có thể được huy động ngày càng nhiều hơn thông qua sự phối kết
hợp linh hoạt của các công cụ và kênh huy động vốn đa dạng, thích hợp, trong
đó có đầu tư trực tiếp của các DN, các nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước
ngoài.
7
8
Thứ ba, đánh giá hiệu quả vốn đầu tư dài hạn cho phát triển cần phải
nhìn trên góc độ hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp và dài hạn.
Vì là đàu tư dài hạn nên hiệu quả của vốn đầu tư dài hạn cũng chậm phát
huy tác dụng. Hơn nữa, do một số dự án được đầu tư không thể định lượng được
trực tiếp và chính xác lợi ích mà nó tạo ra (nhất là các công trình CSHT công
ích), nên cần đánh giá hiệu quả vốn đầu tư dài hạn phát triển kinh tế trên góc độ
hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp và dài hạn. Khi đưa ra quyết định cho mỗi dự
án đầu tư cần xem xét hiệu quả với một cách nhìn toàn diện, xem xét hiệu quả
kinh tế cần đi đôi với hiệu quả xã hội. kết hợp lợi ích trước mắt với lợi ích lâu
dài, lợi ích cục bộ của từng bộ phận với lợi ích tổng thể của toàn xã hội. Hiệu
quả kinh tế, xã hội luôn gắn liền với nhau, tác động tực tiếp đến chính sách huy
động và sử dụng vốn, đặc biệt đối với các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng,
các dịch vụ công cộng. Vì vậy, khi đầu tư vào các dự án ngoài việc chú trọng
đến hiệu quả kinh tế của dự án cần xem xét các vấn đề xã hội như công ăn việc
làm, thu nhập, mức sống của người lao động... để đảm bảo đạt được hiệu quả
tổng hợp cao nhất.
Nhằm đạt được tốc độ luân chuyển và hiệu quả cao nhất, vốn đầu tư dài
hạn cần được nhìn nhận theo một quy trình khép kín trên cả 3 phương diện: huy
động, sử dụng và quản lý, cũng như phải đảm bảo thông suốt trên cả 3 giai đoạn:

ngân sách nhà nước sẽ ngày càng tăng trong tổng số chi ngân sách nhà nước và
luôn giữ vai trò là nguồn vốn quan trọng trong xã hội trong quá khứ, hiện tại và
những năm trước mắt.
Tăng cường nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là tìm cách nâng cao
phần tích luỹ của NSNN và phát triển nguồn vốn tín dụng. Để tăng nguồn vốn
tích luỹ của NSNN cần áp dụng các chính sách tăng thu triệt để các nguồn thu
và tiết kiệm triệt để các khoản chi, thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu dùng của
ngân sách. Ngân sách phải có tích luỹ và tích luỹ ngày càng tăng thì mới có thể
góp phần nâng cao tỷ trọng tích lũy trong nước để đầu tư dài hạn cho phát triển
kinh tế. Tuy nhiên, cần coi trọng giải quyết hài hòa về lợi ích kinh tế giữa Nhà
nước, doanh nghiệp và xã hội khi ban hành các chính sách, chế độ động viên
vào NSNN thông qua thuế và phí; vừa đảm bảo nguồn thu tài chính để Nhà nước
thực hiện điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ
an ninh quốc phòng, vừa phải tạo điều kiện tích luỹ, tích tụ, tập trung vốn của
DN, cơ sở, địa phương cho mở rộng sản xuất - kinh doanh, đầu tư phát triển theo
chiều sâu, giải phóng sức sản xuất xã hội, tạo và mở rộng nguồn thu lâu dài.
Do vậy, việc giảm chênh lệch giữa các mức thuế suất, giảm số lượng thuế
suất; giảm dần các ưu đãi và miễn giảm thuế; mở rộng phạm vi, đối tượng nộp
thuế; đảm bảo nguyên tắc công bằng về thuế giữa các thành phần kinh tế, giữa
các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, đẩy
9
10
mạnh quá trình cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, khuyến khích đổi mới công nghệ,
hướng dẫn tiêu dùng, thúc đẩy xuất khẩu, điều tiết thu nhập,... là hết sức quan
trọng và cần thiết trong chính sách thuế, phí của Nhà nước khi động viên NSNN.
Tuy nhiên, trong điều kiện, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân còn
thấp, nguồn thu của ngân sách Nhà nước (chủ yếu là thuế) còn có hạn; trong khi
đó nhu cầu chi ngân sách và vốn cho đầu tư phát triển kinh tế rất lớn, nguồn vốn
huy động thông qua thu thuế, phí cho ngân sách nhà nước không thể đáp ứng
nhu cầu vốn ngày càng lớn cho đầu tư phát triển. Do vậy, vay nợ của Chính phủ

hạn. Mức dư nợ từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư
XDCB trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh". Tuy nhiên, Hà Nội và
TP.Hồ Chí Minh được thực hiện theo qui định riêng của Chính phủ, nghĩa là
không nhất thiết phải tuân theo giới hạn 30% này.
Theo Quyết định 235/2003/QĐ-TTg ngày 13.11.2003, KBNN thực hiện
chức năng: (1) quản lý nhà nước về Quĩ NSNN, các quĩ tài chính nhà nước và
các quĩ khác của nhà nước; (2) thực hiện việc huy động vốn cho NSNN, cho đầu
tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo qui định của pháp
luật. Chính chức năng thứ hai của KBNN qui định phạm vi và hình thức khai
thác, sử dụng vốn dài hạn thông qua KBNN Hà Nội. Khoản 10 Điều 2 Quyết
định này khẳng định KBNN có nhiệm vụ: "Tổ chức huy động vốn trong nước và
ngoài nước cho NSNN và cho đầu tư phát triển thông qua phát hành công trái,
trái phiếu theo qui định của pháp luật". Điều 3 Quyết định 235 nêu rõ "KBNN
được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, thành hệ thống dọc từ TW
đến địa phương, theo đơn vị hành chính. Theo đó, KBNN Hà Nội chỉ được phép
huy động cho NSNN và cho ĐTPT bằng hai công cụ công trái và trái phiếu.
Ngày 20/11/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2003/NĐ-CP về
việc phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính
quyền địa phương, cụ thể hoá hoạt động huy động thông qua KBNN, thay thế
Nghị định số 01/2000/NĐ-CP về Qui chế phát hành TPCP. Trái phiếu Chính phủ
hay trái phiếu chính quyền địa phương đều là một loại chứng khoán nợ do Chính
phủ hay UBND cấp tỉnh phát hành, có thời hạn, có mệnh giá, có lãi, xác nhận
nghĩa vụ trả nợ của người phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu
Chính phủ bao gồm 6 loại: Tín phiếu Kho bạc, Trái phiếu Kho bạc, Trái phiếu
công trình TW, Trái phiếu đầu tư, Trái phiếu ngoại tệ và Công trái xây dựng Tổ
quốc. Ngoại trừ Tín phiếu và Trái phiếu Kho bạc phát hành để bù đắp thiếu hụt
của NSNN trong năm tài chính hoặc theo dự toán hàng năm, 5 loại Trái phiếu
Chính phủ còn lại và Trái phiếu của Chính quyền địa phương (đối với Hà Nội là
trái phiếu đô thị) đều có thể là những công cụ để KBNN Hà Nội huy động vốn
trung dài hạn cho đầu tư phát triển Thủ đô. Trái phiếu được phát hành bằng cả

Đáng lưu ý là TPCQĐP không được phép phát hành bằng phương thức
bán lẻ, dù là qua hệ thống KBNN hay không. Lãi suất TPCQĐP do Chủ tịch
UBND cấp tỉnh quyết định hoặc hình thành theo kết quả đấu thầu trong giới hạn
biên độ do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định và mặt bằng lãi suất thực tế của
TPCP cùng kỳ hạn tại thời điểm phát hành. Khoản thu từ TPCQĐP được ghi thu
vào ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp tỉnh chịu toàn bộ trách nhiệm thanh
toán gốc lãi và các chi phí liên quan tới TPCQĐP. Việc thanh toán được thực
hiện thông qua các tổ chức tài chính, tín dụng nhận uỷ thác do TPCQĐP chỉ
được phát hành bằng phương thức đấu thầu, bảo lãnh hay đại lý phát hành.
12
Người sở hữu TPCQĐP cũng có các quyền lợi tương tự như người sở hữu các
loại TPCP, đó là: (1) được thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi khi đến hạn;
(2) được bán, tặng, cho, thừa kế, cầm cố, chiết khấu trái phiếu; (3) được miễn
thuế thu nhập đối với khoản thu nhập từ trái phiếu. TPCQĐP cũng được mua
bán trên thị trường tiền tệ hoặc chiết khấu, cầm cố tại NHNN, được niêm yết và
giao dịch trên thị trường chứng khoán. KBNN còn nhận ký gửi trái phiếu theo
yêu cầu của người sở hữu trái phiếu với mức phí do Bộ Tài chính qui định.
Đồng bộ với việc tạo ra khuôn khổ pháp lý tăng cường quyền chủ động
chi địa phương, thực hiện đẩy mạnh phân cấp ngân sách theo Luật NSNN, cho
phép chính quyền địa phương khai thác các nguồn lực cho đầu tư phát triển, các
qui định pháp lý đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đã khai
thác được cũng liên tục được hoàn thiện.
Dù là tham gia phát hành TPCP, một phần được sử dụng thông qua chi
ĐTPT và tín dụng nhà nước hay phát hành TPCQĐP trực tiếp sử dụng vào các
công trình dự án đầu tư của Thành phố thì các nguồn vốn đều được phản ánh
vào ngân sách Thành phố nên việc sử dụng phải đảm bảo hiệu quả, tuân thủ các
qui định của Luật NSNN, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP và Thông tư số
59/2003/TT-BTC qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN,... và các
văn bản pháp qui liên quan tới quản lý đầu tư hiện hành như Nghị định số
52/1999/NĐ-CP, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP, Nghị định 07/2003/NĐ-CP về

quyền địa phương, tính chất của các dự án đầu tư đa dạng phụ thuộc vào đặc thù
của từng địa phương nên cần có qui định riêng.
Tóm lại, xuất phát từ nhu cầu thực tế và tiềm năng huy động vốn của địa
phương, căn cứ vào những cơ sở pháp lý quan trọng, KBNN Hà Nội hoàn toàn
có điều kiện và triển vọng tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn dài hạn trong dân cho đầu tư phát triển Thủ đô thông qua hai công cụ là Trái
phiếu Chính phủ và TPCQĐP.
I.3.2. Huy động và sử dụng vốn dài hạn thông qua các ngân hàng thương mại
và tổ chức tín dụng
Ngoài kênh huy động vốn dài hạn thông qua ngân sách còn có các kênh
huy động thông qua công cụ vay và cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng
thương mại và các tổ chức tín dụng.
Về truyền thống và thực tại, với chức năng trung gian huy dộng vốn từ
nơi cung ứng đến nơi có nhu cầu đầu tư để giải quyết các quan hệ cung cầu về
vốn đầu tư trên pham vi toàn xã hội và là trung tâm thanh toán trong toàn bộ nền
kinh tế, các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng có vai trò hết sức quan
trọng trong việc góp phần thoả mãn nhu cầu bổ sung vốn đầu tư của các doanh
nghiệp, góp phần đẩy nhanh qua trình tích tụ và tập trung vốn cho sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước.
Tuy nhiên, việc huy động và cho vay vốn dài hạn từ các ngân hàng
thương mại càng ngày càng khó đáp ứng nhu cầu thực tế xã hội do có một số
hạn chế sau:
14
- Nhu cầu vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng nói riêng, đầu tư phát triển dài
hạn nói chung là rất lớn, song các ngân hàng lại bị giới hạn trong việc cho vay
tối đa đối với một khách hàng, một dự án;
- Nguồn vốn của các ngân hàng chủ yếu là các nguồn vốn ngắn hạn, song
nhu cầu đầu tư phát triển dài hạn, trong đó có các công trình xây dựng cơ sở hạ
tầng lại đòi hỏi các nguồn vốn có tính dài hạn.
- Việc huy động và cho vay vốn dài hạn của ngân hàng đòi hỏi các thủ tục

đối với cả các doanh nghiệp (ngoài cổ phiếu).
Xét về tổng thể, huy động vốn của chính quyền địa phương từ việc phát
hành trái phiếu đô thị là một trong những lựa chọn ngày càng nhận được nhiều
sự quan tâm của chính quyền đô thị trên khắp thế giới do những lợi ích mà nó
đem lại vượt ra ngoài mục đích ban đầu là huy động vốn.Việc cho phép và buộc
chính quyền địa phương phát hành trái phiếu để bù đắp nguồn vốn ngân sách
nhà nước thiếu hụt cho đầu tư phát triển dài hạn sẽ tạo ra áp lực buộc các chính
quyền địa phương phải cải tiến, tăng cường tính minh bạch và công khai hoá
trong quản lý ngân sách địa phương, nâng cao hiệu quả của các dự án đầu tư
công cộng, giúp phát triển thị trường tài chính, tạo sự chủ động trong việc
hoạch định chiến lược phát triển.
Tuy nhiên để phát hành trái phiếu được thành công phải có nhiều yếu tố đi
liền với nó làm nền tảng như:
- Phải có môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát thấp;
- Lòng tin của các nhà đầu tư vào trái phiếu;
- Tồn tại một thị trường thứ cấp vận hành tốt và năng động để giảm bớt rủi
ro cho nhà đầu tư vì trái phiều đô thị thường là trái phiếu dài hạn,
- Chất lượng tín nhiệm cao trong việc trả nợ, điều này đòi hỏi chính quyền
nguồn thu thuế, lợi tức, bảo lãnh... đủ để nhà đầu tư tin vào việc có thể thu
lợi từ trái phiếu đô thị,
- Hệ thống thông tin chất lượng cao về các hoạt động ngân sách của chính
quyền địa phương, các dự án có bán trái phiếu, hệ thống kế toán, kiểm
toán công khai theo tiêu chuẩn quốc tế
Tuỳ theo cơ sở pháp lý xác định nghĩa vụ và phương thức điều hàng các
khoản nợ huy động dưới hình thức trái phiếu này, trái phiếu đô thị có 2 loại cơ
bản sau đây:
Trái phiếu công ích (General Obligation Bonds -GOs)
Đây là loại trái phiếu đô thị được bảo đảm cả tiền gốc và lãi bằng toàn bộ
các nguồn thu tài chính và quyền lực thu thuế của chủ thể phát hành. Trái phiếu
này có mức độ đảm bảo thanh toán cao, mức độ rủi ro thấp, do vậy thông

hành trái phiếu có hiệu quả và phải chứng minh cho các nhà đầu tư về tính hiệu
quả của dự án cần huy động vốn; đưa ra mức sinh lời hấp dẫn mà trái phiếu tạo
ra; tạo ra nhiều tiện ích đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư.
Ngoài ra, để phát hành trái phiếu đô thị đạt hiệu quả cao, thu hút được các
nguồn vốn trong xã hội thì việc đa dạng hóa loại hình trái phiếu có vị trí quan
trọng. Loại trái phiếu phát hành sẽ phụ thuộc vào mục tiêu huy động và chủ thể
phát hành trái phiếu. Đối với các chương trình trọng điểm, công trình mà nhiều
người dân cùng được hưởng lợi thì phù hợp với việc phát hành trái phiếu công
17
18
ích. Đối với các công trình hay dự án có nguồn thu cụ thể thì có thể phát hành
trái phiếu thu nhập (trái phiếu công trình hay trái phiếu doanh nghiệp). Hơn nữa,
về nguyên tắc lãi suất của trái phiếu phải cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ, lãi
suất trái phiếu thu nhập phải cao hơn lãi suất trái phiếu công ích, có như vậy mới
thu hút được các nhà đầu tư trái phiếu.
Song để việc phát hành trái phiếu được thuận lợi thì cần có một thị trường
thứ cấp phát triển, cụ thể là thị trường chứng khoán. Phát triển thị trường chứng
khoán và huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán là một trong những
nội dung lớn của chiến lược huy động vốn cũng như quá trình hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường ở Việt nam nói chung, ở Hà Nội nói riêng trong thời gian tới.
Đối với DN, việc huy động vốn trên thị trường tài chính thường thông qua
phát hành cổ phiếu và trái phiếu DN phù hợp với Luật doanh nghiệp và các quy
đinh pháp lí hiện hành khác. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn có thêm
các chứng khoán khác như kỳ phiếu, giấy chứng nhận tiền gửi và các giấy tờ có
giá khác tùy theo sự phát triển dịch vụ và nghiệp vụ của mình, phù hợp với luật
ngân hàng và các tổ chức tín dụng…
I.3.4. Huy động và sử dụng vốn dài hạn thông qua hình thức thuê mua tài
chính
I.3.4.1. Khái niệm và cơ cấu thuê mua tài chính
Thuê mua tài sản đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử nhân loại (từ vài

cung cấp về phương thức bảo đảm, bảo trì, giao nhận, lắp đặt, giá cả và phương
thức thanh toán.
- Người thuê mua thiết bị trực tiếp từ nhà cung cấp; người thuê mua vẫn
giữ quyền sở hữu thiết bị trong thời gian người thuê sử dụng.
- Hợp đồng thuê mua thường không được phép huỷ bỏ ngang chừng.
Việc thuê mua tài chính cho phép người thuê được lựa chọn tài sản thuê
trong tương lai vào thời điểm ký hợp đồng thuê thiết bị; thuê mua với thời hạn
nhất định để bên thuê mua thu hồi được vốn đầu tư và có lãi; hao mòn thiết bị
do bên thuê chịu, bên thuê có toàn quyền sử dụng thiết bị; bên thuê chịu trách
nhiệm sửa chữa, bảo dưỡng và bảo hiểm thiết bị; thiết bị có phù hợp hay không
thuộc trách nhiệm bên thuê. Thuê mua tài chính thường được áp dụng đối với
thiết bị dùng cho sản xuất, thương mại, dịch vụ.
Một nghiệp vụ tài trợ thuê mua được coi là thuê mua tài chính nếu thoả
mãn các tiêu chí sau:
- Đối với người đi thuê: (1) cuối thời hạn thuê mua, người đi thuê được
chuyển quyền sởt hữu tài sản; (2) hợp đồng thuê mua có điều khoản về quyền
chọn mua tài sản theo giá thoả thuận; (3) thời hạn hợp đồng xác định từ hoá
đơn, trên cơ sở giá trị của tài sản (điều này chỉ áp dụng với tài sản mới, giá trị
được xác định ít nhất bằng hoặc cao hơn 90% giá thị trường của tài sản thuê).
19
20
- Đối với người cho thuê: ngoài việc thoả mãn các tiêu chí trên, còn phải
thoả mãn các điều kiện: (1) việc thu tiền thuê tối thiểu có thể tính trước và phải
hợp lý; (2) người cho thuê không chịu trách nhiệm thanh toán những chi phí
không được hoàn trả trong những trường hợp ngoài dự tính.
Ngày nay, sau nhiều năm phát triển, hình thức thuê mua tài chính đã có
những bước tiến nhất định và chiếm được ưu thế trong một số ngành kinh tế
trọng điểm có nhu cầu vốn đầu tư ban đầu lớn như ngành hàng hải, hàng
không… và không dừng lại ở các tài sản là những động sản mà còn phát triển
sang cả bất động sản (nhà cửa, đất đai…) với nhiều hình thức khác nhau và

Theo định nghĩa này, tín dụng thuê mua ở Việt Nam có một số giới hạn
như: không áp dụng thuê mua với bất động sản; người thuê mua là sở hữu chủ
tài sản, như vậy không áp dụng phương thức thuê rồi thuê mua lại.
- Về phương diện thuê mua tài chính: Thuê mua tài chính là một hoạt
động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc thuê mua máy móc thiết bị và các
động sản khác; bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt
thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng trước
thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, hoặc
tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Theo định nghĩa này, thuê mua tài chính là một hình thức thuê mua tài sản
có kèm theo lời hứa bán lại cho người thuê khi kết thúc hợp đồng với giá cả
được thoả thuận từ trước. Như vậy, thuê mua tài chính (hay tín dụng thuê mua)
khác hẳn với hình thức thuê mua tài sản đơn thuần hay hình thức bán hàng trả
chậm , trả góp về phương thức sở hữu, tính chất cũng như mối quan hệ giữa các
bên tham gia.
Quan hệ giữa thuê mua tài chính (tín dụng thuê mua) với các loại hình tín
dụng:
- Là một trong những hình thức tài trợ vốn cho kinh doanh, ra đời và phát
triển song song với nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng, những nghiệp vụ này
bổ sung và hỗ trợ vốn cho nhau, tạo nên sự phong phú, đa dạng trong cung ứng
vốn cho nền kinh tế. Đối với các lĩnh vực kinh doanh có vốn đầu tư lớn, các
doanh nghiệp mới thành lập hay sắp xếp lại thì phương thức đầu tư này tỏ ra
hữu hiệu và chiếm ưu thế.
- Thuê mua tài chính là hình thức đặc biệt của tín dụng trung và dài hạn.
Về hình thức, thuê mua mang đầy đủ các yếu tố đặc trưng của tín dụng, đó là
21
22
tính hoàn trả, tính thời hạn và lãi suất, do tài sản thuê mua thường có gía trị lớn
và tuổi thọ dài nên thời gian hợp đồng thường là trung và dài hạn. Như vậy,
trong thuê mua, vai trò của người cho thuê là người cung cấp tài chính. Tuy

chính của người đi thuê; đồng thời sau khi chấm rứt hợp đồng thuê mua, người
thuê mua có thể bán được tài sản.
Tổ chức thuê mua tài chính là một doanh nghiệp đứng ra thực hiện nghiệp
vụ thuê mua, tuỳ theo định chế của mỗi nước mà cho phép ngân hàng thương
mại, công ty tài chính, công ty thuê mua thực hiện nghiệp vụ này. Một số nước
không cho phép ngân hàng thương mại trực tiếp thực hiện đầu tư thuê mua
nhưng lại cho phép ngân hàng thành lập công ty thuê mua tài chính để thực hiện
nghiệp vụ thuê mua (Một số ngân hàng thương mại của nước ta cũng đang thực
hiện theo mô hình này).
Đối với công ty thuê mua tài chính là công ty con của ngân hàng, giữa
ngân hàng và công ty thuê mua tài chính có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ngân
hàng đứng ra giới thiệu khách hàng cho công ty thuê mua tài chính của mình;
ngân hàng bảo lãnh cho các doanh nghiệp khi thực hiện việc thuê mua (tức là
ngân hàng sẽ gánh chịu một phần rủi ro cho công ty thuê mua tài chính); ngân
hàng tái cấp vốn cho công ty thuê mua tài chính trên các hợp đồng thuê mua.
Có thể phân biệt giữa thuê mua tài chính với tín dụng trả góp và bán trả
góp qua bảng so sánh sau:
Tiêu thức so sánh Thuê mua tài chính Tín dụng trả góp Bán trả góp
Chủ thể cấp vốn Ngân hàng, công ty
thuê mua
Ngân hàng thương mại,
công ty tài chính, quỹ
tiết kiệm, tổ chức bán lẻ.
Doanh nghiệp sản
xuất (hoặc có thể
thông qua công ty tài
chính)
Hình thức vốn tài trợ Vốn hiện vật (thiết bị, tài
Sản)
Vốn bằng tiền Vốn hiện vật

Thời hạn vay ngắn. Thời hạn ngắn.
Vấn đề rủi ro Là hình thức ít rủi ro vì tài
sản thuê mua vẫn thuộc
quyền ở hữu của người
thuê mua. Người đi thuê
không được sửa chữa,
làm giảm giá trị tài sản
hay thế chấp.
Nếu vi phạm những
quy định trong hợp đồng,
người thuê mua có quyền
thu hồi tài sản.
Rủi ro lớn do quyền sở
hữu tài sản thuộc về người
đi vay nên khó có thể
kiểm soát được việc sử
dụng tài sản. Có những
trường hợp người đi vay
không trả được nợ, ngân
hàng tịch biên tài sản
nhưng giá trị còn lại
thường thấp do đã sử dụng.
Rủi ro rất lớn.
Tóm lại, xét về mục đích cuối cùng (hành động cho vay) thì thuê mua tài
chính cũng là tín dụng đầu tư, thông qua đầu tư vốn thuê mua (thay cho vay)
nhằm thu lãi suất và lợi nhuận. Nhưng xét về bản chất nghiệp vụ thì thuê mua
tài chính có một số đặc điểm phân biệt với các loại hình tín dụng. Thuê mua tài
chính có nhiều ưu điểm hơn hẳn các loại tín dụng khác như: thời hạn thanh toán
mềm dẻo hơn (thoả thuận tự nguyện); mức độ đáp ứng về vốn/ tổng nhu cầu vốn
đầu tư cao hơn; thủ tục đơn giản, chấp thuận và thực hiện hợp đồng nhanh

trên thị trường, có thể giảm chi phí vốn bằng cách sử dụng vốn khác (của người
thuê mua) với mức lãi suất thấp hơn mà người đi thuê vẫn được sử dụng những
tài sản do chính mình xây dựng, thiết kế hoặc đang sử dụng có hiệu quả.
+ Thuê mua hợp tác: là loại hình thuê mua có sự tham gia của 4 bên:
người đi thuê, người thuê mua, người cho vay và nhà cung cấp. Phương thức
này giống như thuê mua thuần nhưng khác ở chỗ người thuê mua tài sản không
hoàn toàn bằng vốn của mình mà một phần từ vốn vay của người cho vay, các
cổ đông hay của các nhà cung cấp tài sản, thiết bị.
+ Hình thức thuê mua trả góp: là hình thức tài trợ có sự lai tạo giữa 2 loại
hình thuê mua và trả góp. Theo phương thức này, người cho thuê mua sẽ tiến
hành mua tài sản mà người đi thuê yêu cầu để thuê mua, khi đó người cho thuê
mua vẫn là chủ sở hữu tài sản và người đi thuê chỉ có quyền sử dụng tài sản. Sau
khi thuê mua một thời gian nhất dịnh, người đi thuê mua đã hoàn vốn (bằng
hình thức thanh toán tiền thuê từng kỳ) đến một tỷ lệ nào đó thì người cho thuê
mua sẽ tiến hành chuyển quyền sở hữu tài sản cho người đi thuê, nhưng người
đi thuê vẫn còn trong tình trạng phải thực hiện những điều khoản trong hợp
đồng, tức là vẫn phải thực hiện việc bảo dưỡng tài sản và thanh toán đủ số tiền
còn lại.
25

Trích đoạn Huy độngvà sử dụng vốn dài hạn thông qua các kênh khác THỰC TRẠNG HUY ĐỘNGVÀ SỬ DỤNG VỐN DÀI HẠN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở HÀ NỘ Giáo dục đào tạo PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI III.1 Quan điểm, phương hướng chung trong huy động và sử dụng vốn dà Huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status