Giải pháp tăng cường huy động vốn và nâng cao hiệu quả sự dụng vốn dài hạn - Pdf 12

BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CK Chứng khoán
CP Cổ phiếu
CSHT Cơ sở hạ tầng
DN Doanh nghiệp
GPMB Giải phóng mặt bằng
HĐND Hội đồng nhân dân
KBNN Kho Bạc nhà nước
KH-CN Khoa học - công nghệ
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NSNN Ngân sách nhà nước
QSD Quyền sử dụng
TP CQĐP Trái phiếu chính quyền địa phương
TPCP Trái phiếu chính phủ
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTTC Thị trường tài chính
UBND Uỷ ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
XHH Xã hội hóa
MỤC LỤC
L I NÓI U  ............................................................................................................. 5
CH NG I: 
M T S V N CHUNG V V N D I H N CHO U T PH T TRI NÀ Á         
KINH T ...................................................................................................................... 6
I.1. Khái ni m v vai trò c a v n d i h nà à    ..................................................... 6
I.2. c i m v n u t phát tri n d i h nà        ............................................. 9
I.3. Các ph ng th c huy ng v s d ng v n d i h n cho u tà à        
phát tri n kinh t Th ô  ! .............................................................................. 10
I.3.1. Huy ng v s d ng v n d i h n thông qua kênh Ngân sáchà à    
Nh n cà  ...................................................................................................... 10

II.5. Huy ng v s d ng v n d i h n qua thuê mua t i chínhà à à     ............. 78
II.6. Huy ng v n qua u giá quy n s d ng t!. / !0 1 2 3 !0 ............................... 81
II.6.1. C s v nguyên t c u giá quy n s d ng tà        ...................... 82
II.6.2. u i m v h n ch trong u giá quy n s d ng t:à          .......... 86
II.6.3.K t qu th c hi n u giá t trên a b n th nh ph H N ià à à        
th i gian qua ................................................................................................. 86
CH NG III:
PH NG H NG V GI I PH P T NG C NG HUY NG V N NGÀ Á À Â4 5 6 7 8 
CAO HI U QU S D NG V N D I H N CHO U T PH T TRI NÀ Á9 6 # $     
KINH T H N I TRONG TH I GIAN T IÀ% &  8 5 ................................................. 93
III.1. Quan i m, ph ng h ng chung trong huy ng v s d ngà   +   
v n d i h n cho u t phát tri n kinh t H N i th i gian t i.à à     ( :  - + ....... 93
III.2. Ph ng h ng v gi i pháp huy ng, s d ng v n u t phátà + ;      
tri n d i h n qua ngân sách nh n cà à  + ......................................................... 97
III.3. Ph ng h ng v gi i pháp huy ng, s d ng v n u t d ià à        
h n qua KBNN ........................................................................................... 106
III.3.3. Gi i pháp nâng cao hi u qu s d ng v n d i h n thông quaà      
KBNN ........................................................................................................... 111
III.4. Nh ng ph ng h ng v gi i pháp huy ng, s d ng v n quaà)  + ;    
các ngân h ng th ng m ià   ........................................................................... 114
III.4.1. Ph ng h ng v gi i pháp t ng c ng huy ng v n d ià à   !   
h n qua các NHTM .................................................................................... 114
III.4.2. Nh ng gi i pháp nâng cao hi u qu cho vay trung v d i h nà à    
c a các NHTM" ............................................................................................ 117
III.5. Nh ng ph ng h ng v gi i pháp huy ng, s d ng v n quaà)  + ;    
th tr ng t i chính.à, - ...................................................................................... 120
III.5.1. Mô hình t ch c ho t ng t i TTGDCK H N i.à      ................. 120
III.5.2. V các gi i pháp t ch c th c hi n.# $ %  & ' .......................................... 131
III.6. Ph ng h ng v gi i pháp huy ng, s d ng v n qua ho tà + ;     
ng thuê mua t i chính H N ià à :  ............................................................. 143

sử dụng vốn đầu tư dài hạn trong nước cho phát triển Thủ đô để đề xuất một số
phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường huy động và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư dài hạn trong nước cho phát triển kinh tế của thành
phố trong thời gian tới. Để tránh trùng lặp với các đề tài khác và do nội hàm rất
rộng của tên đề tài, nên ở đây đề tài đặt trọng tâm vào nghiên cứu một số kênh
và công cụ quan trọng đối với thành phố Hà Nội như vốn XDCB tập trung,
KBNN, thị trường tài chính, thuê mua tài chính...
Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, chắc chắn kết quả nghiên cứu đề
tài còn nhiều hạn chế, kính mong sự lượng thứ và trân trọng cảm ơn các ý kiến
đóng góp để hoàn thiện đề tài này.
5
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN DÀI HẠN CHO ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ
I.1. Khái niệm và vai trò của vốn dài hạn
Vốn, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các nguồn lực tài chính, nhân
lực, tri thức, tài sản vật chất và cả các quan hệ đã tích lũy được của cá nhân, DN,
quốc gia…
Vốn, hiểu theo nghĩa hẹp, chủ yếu là phần tiềm lực tài chính - tiền bạc của
cá nhân, DN, quốc gia đó.
Vốn trong nước là toàn bộ những yếu tố cần thiết cấu thành và tham gia
vào quá trình sản xuất và tái sản xuất - kinh doanh hình thành và tích lũy được
trong mỗi gia đình, DN, địa phương và cả quốc gia. Các nhân tố cấu thành vốn
trong nước bao gồm: vốn tài chính - tiền tệ, các dạng của cải, tài sản vật chất và
tri thức, nguồn nhân lực và các quan hệ trong nền kinh tế thị trường… Chúng có
thể chuyển hóa cho nhau và được đo lường chung bằng tiền trong điều kiện nhất
định (trừ vốn - con người).
Dưới đây chỉ xin đề cập tới vốn trong nước với cách hiểu theo nghĩa hẹp
nêu trên.
Vốn đầu tư phát triển kinh tế dài hạn là những khoản vốn dài hạn chi cho

trong quá trình phát triển bền vững của cả nước cũng như của từng địa phương,
trong đó có Thủ đô Hà Nội.
Chính sách huy động và sử dụng vốn là một bộ phận quan trọng trong
chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, nó liên quan đến chính sách phân phối thu
nhập trong phạm vi toàn xã hội, tác động trực tiếp đến mối quan hệ giữa tích luỹ
- tiêu dùng và các chính sách tiền tệ, tín dụng. Việc hoạch định và thực hiện
chính sách huy động vốn trong nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến
các hoạt động tài chính, tình hình lạm phát và ổn định tiền tệ, cũng như đến tốc
độ và hiệu quả phát triển KT - XH nói chung.
Thực tế phát triển thế giới cho thấy, bất kỳ nước nào cũng đều phải sử
dụng nguồn lực nội bộ là chính. Nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, dù là viện trợ,
cho vay hay đầu tư từ nước ngoài cũng không thể thay thế cho đầu tư từ các
nguồn vốn trong nước. Hơn nữa, nguồn vốn nước ngoài không phải là vốn cho
không, từ trên trời rơi xuống mà đều có điều kiện và phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố. Về lâu dài, vốn vay đều phải trả cả gốc lẫn lãi, còn FDI phải dành một phần
cho chuyển lãi và vốn gốc về chính quốc.
Thực tế của quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã cho chúng ta
thấy: cùng với vốn bên ngoài, bao giờ cũng phải có vốn đối ứng bên trong mới
có thể triển khai công trình một cách thuận lợi. Thêm vào đó, cần phải có vốn
đầu tư cho các công trình "ngoài hàng rào" như đầu tư cho các cơ sở hạ tầng về
điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc và các cơ sở hạ tầng xã hội khác.
7
Nhiều công trình đầu tư không phát huy được hiệu quả hoặc hiệu quả
thấp một phần là do các yếu tố cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội "ngoài hàng rào"
không đáp ứng được yêu cầu. Một nhà máy được xây dựng mà không có công
trình cơ sở hạ tầng kinh tế đồng bộ thì khó có thể hoạt động tốt được. Ngoài ra,
đi cùng với nhà máy tất yếu phải có các cơ sở hạ tầng xã hội như các khu dân
cư, trường học, bệnh viện, cơ sở văn hoá, thể thao... nếu không, sẽ gây không ít
khó khăn cho hoạt động và ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà
máy. Theo kinh nghiệm của các nước, vốn đầu tư cho các công trình ngoài hàng

Vốn đầu tư dài hạn có một số đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, đòi hỏi quy mô vốn lớn và thời hạn thu hồi vốn dài
Vốn đầu tư dài hạn được sử dụng vào việc nghiên cứu và áp dụng khoa
học, công nghệ mới, đổi mới và hiện đại hóa trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ
tầng phục vụ cho tăng năng suất lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở rộng
sản xuất kinh doanh và phát triển theo chiều sâu… Đây là những lĩnh vực, dự án
thường đòi hỏi quy mô vốn đầu tư rất lớn và thời hạn hoàn vốn dài. Thậm chí,
có những dự án không thể tính được thời hạn thu hồi vốn trực tiếp, nhất là vốn
đầu tư cho xây dựng đường xá, cầu cống, nghiên cứu khoa học cơ bản… Điều
này càng rõ nét đối với những quốc gia và địa phương nào đang ở giai đoạn đầu
cất cánh…
Đặc điểm của nguồn vốn dài hạn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và hội nhập quốc tế chi phối mạnh phưong thức huy động vốn, quá trình
quản lý và sử dụng vốn. Nói cách khác nó ảnh hưởng đến chiến lược vốn - một
bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đất
nước và địa phương.
Thứ hai, vốn đầu tư dài hạn dễ có độ rủi ro cao tùy thuộc vào tính chất
của môi trường và cơ hội đầu tư, cũng như các phương thức và chính sách huy
động, sử dụng vốn.
Do thời hạn thu hồi vốn dài, nên đầu tư dài hạn dễ gặp rủi ro về kinh tế
(lãi suất, lạm phát, khấu hao vô hình, sự thay đổi cung – cầu tương lai…) và phi
kinh tế (thay đổi chính sách, thể chế, thiên tai…). Đây là điều mà các nhà đầu tư
tư nhân hay e ngại. Điều này cũng giải thích vì sao tỷ trọng vốn dài hạn trong
tổng vốn huy động của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng thường rất
thấp. Tuy nhiên, tùy theo sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, nhất là mức độ tự
do hóa kinh doanh, sự ổn định và những thay đổi có thể dự báo được của chính
sách, độ thông thoáng về thủ tục quản lí nhà nước, và các ưu đãi khác… mà vốn
đầu tư dài hạn có thể được huy động ngày càng nhiều hơn thông qua sự phối kết
hợp linh hoạt của các công cụ và kênh huy động vốn đa dạng, thích hợp, trong
đó có đầu tư trực tiếp của các DN, các nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước

nước. Nguồn vốn này được huy động và sử dụng cho đầu tư phát triển chủ yếu
thông qua các kênh như Ngân sách nhà nước (mà quan trọng hơn cả là qua phần
vốn XDCBTT và qua KBNN), các ngân hàng, tổ chức tín dụng thương mại, thị
trường tài chính, thuê mua tài chính và qua các hình thức khác…
I.3.1. Huy động và sử dụng vốn dài hạn thông qua kênh Ngân sách Nhà nước
Huy động vốn qua kênh ngân sách nhà nước được thực hiện dưới các hình
thức như động viên thuế, phí và các hình thức vay nợ qua KBNN (như công
trái, trái phiếu, tín phiếu...). Nói cách khác, nguồn vốn đầu tư của NSNN được
hình thành từ nguồn vốn tích luỹ của ngân sách và nguồn vốn tín dụng của nhà
10
nước, còn việc sử dụng cho đầu tư dài hạn chủ yếu thông qua phần vốn xây
dựng cơ bản tập trung của NSNN các cấp và kiểm soát chi qua KBNN.
Nguồn vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước bao gồm nguồn vốn tích luỹ
đầu tư từ ngân sách Nhà nước (chênh lệch giữa số thu từ thuế, phí với chi tiêu
dùng thường xuyên), nguồn vốn huy động từ trái phiếu Chính phủ cho đầu tư
phát triển và các nguồn vốn khác như từ quỹ dự trữ tài chính, các tài sản của
Nhà nước... Đây là nguồn vốn đầu tư hết sức quan trọng trong nền kinh tế, chủ
yếu dùng để đầu tư cho các công trình hạ tầng cơ sở, tạo ra môi trường đầu tư
thuận lợi và tập trung vào các ngành kinh tế mũi nhọn để khuyến khích kinh tế
phát triển. Với việc nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách Nhà nước trên cả hai
lĩnh vực thu và chi ngân sách nhà nước, tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển của
ngân sách nhà nước sẽ ngày càng tăng trong tổng số chi ngân sách nhà nước và
luôn giữ vai trò là nguồn vốn quan trọng trong xã hội trong quá khứ, hiện tại và
những năm trước mắt.
Tăng cường nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là tìm cách nâng cao
phần tích luỹ của NSNN và phát triển nguồn vốn tín dụng. Để tăng nguồn vốn
tích luỹ của NSNN cần áp dụng các chính sách tăng thu triệt để các nguồn thu
và tiết kiệm triệt để các khoản chi, thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu dùng của
ngân sách. Ngân sách phải có tích luỹ và tích luỹ ngày càng tăng thì mới có thể
góp phần nâng cao tỷ trọng tích lũy trong nước để đầu tư dài hạn cho phát triển

lẽ khi vay nợ quá lớn thì sẽ tạo ra gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong trả
gốc và lãi, đặc biệt việc cung cấp lượng tín dụng ròng từ hệ thống ngân hàng cho
ngân sách Nhà nước lớn cũng sẽ gây nên áp lực lạm phát cao. Vì vậy, cần phải
nắm vững nhu cầu vay vốn, mục đích sử dụng vốn, khả năng cung ứng nguồn
vốn, từ đó xây dựng chiến lược và kế hoạch huy động vốn cho hiệu quả và phải
quản lý vay nợ tốt để tránh gây nên sự bất ổn định về tài chính.
Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng có thể huy động vốn để đầu tư
cho cơ sở hạ tầng đô thị, thông qua việc vay từ các ngân hàng thương mại và
vay trực tiếp từ thị trường tài chính thông qua phát hành trái phiếu qua KBNN.
Cơ sở pháp lý cho việc khai thác và sử dụng vốn dài hạn thông qua
KBNN đó đã được xác lập khá đồng bộ.
Luật NSNN số 01/2002/QH11 đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các tỉnh
thành phố trực thuộc TW quyền chủ động huy động và sử dụng vốn dài hạn cho
đầu tư phát triển địa phương. Khoản 3 Điều 8 Luật NSNN qui định: "Trường
hợp tỉnh, thành phố trực thuộc TW có nhu cầu đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế
hoạch 5 năm đã được HĐND cấp tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng cân
đối của ngân sách cấp tỉnh năm dự toán, thì được phép huy động trong nước và
phải cân đối ngân sách cấp tỉnh hàng năm để chủ động trả hết nợ khi đến
hạn. Mức dư nợ từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư
XDCB trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh". Tuy nhiên, Hà Nội và
TP.Hồ Chí Minh được thực hiện theo qui định riêng của Chính phủ, nghĩa là
không nhất thiết phải tuân theo giới hạn 30% này.
12
Theo Quyết định 235/2003/QĐ-TTg ngày 13.11.2003, KBNN thực hiện
chức năng: (1) quản lý nhà nước về Quĩ NSNN, các quĩ tài chính nhà nước và
các quĩ khác của nhà nước; (2) thực hiện việc huy động vốn cho NSNN, cho đầu
tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo qui định của pháp
luật. Chính chức năng thứ hai của KBNN qui định phạm vi và hình thức khai
thác, sử dụng vốn dài hạn thông qua KBNN Hà Nội. Khoản 10 Điều 2 Quyết

các dự án, công trình thuộc nguồn vốn đầu tư của NSĐP, đã ghi trong kế hoạch
13
năm nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm. Điều kiện phát hành
TPCQĐP là:
(1) dự án công trình phải thuộc Kế hoạch đầu tư 5 năm;
(2) có phương án phát hành, kế hoạch sử dụng và phương án trả nợ;
(3) Chủ tịch UBND ra quyết định uỷ quyền cho KBNN hoặc tổ chức tài
chính, tín dụng trên địa bàn chịu trách nhiệm phát hành, thanh toán trái
phiếu.
Trái phiếu CQĐP được phát hành theo 3 phương thức:
1. Đấu thầu: lựa chọn các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu trái phiếu
2. Bảo lãnh phát hành: tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện
các thủ tục trước khi phát hành trái phiếu ra thị trường chứng khoán, phân phối
trái phiếu cho các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái
phiếu còn lại chưa phân phối hết.
3. Đại lý phát hành: tổ chức phát hành uỷ thác cho một tổ chức khác thực
hiện bán trái phiếu cho các nhà đầu tư. Chỉ có các Công ty chứng khoán, Quĩ
đầu tư, Công ty Tài chính và các ngân hàng được phép bảo lãnh hoặc đại lý phát
hành trái phiếu.
Đáng lưu ý là TPCQĐP không được phép phát hành bằng phương thức
bán lẻ, dù là qua hệ thống KBNN hay không. Lãi suất TPCQĐP do Chủ tịch
UBND cấp tỉnh quyết định hoặc hình thành theo kết quả đấu thầu trong giới hạn
biên độ do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định và mặt bằng lãi suất thực tế của
TPCP cùng kỳ hạn tại thời điểm phát hành. Khoản thu từ TPCQĐP được ghi thu
vào ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp tỉnh chịu toàn bộ trách nhiệm thanh
toán gốc lãi và các chi phí liên quan tới TPCQĐP. Việc thanh toán được thực
hiện thông qua các tổ chức tài chính, tín dụng nhận uỷ thác do TPCQĐP chỉ
được phát hành bằng phương thức đấu thầu, bảo lãnh hay đại lý phát hành.
Người sở hữu TPCQĐP cũng có các quyền lợi tương tự như người sở hữu các
loại TPCP, đó là: (1) được thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi khi đến hạn;

nhưng quyết toán riêng nguồn vốn TPCP. KBNN tổ chức hạch toán và theo
dõi riêng nguồn vốn TPCP, KBNN Hà Nội quyết toán với Sở Tài chính, Sở lại
quyết toán với Bộ Tài chính riêng nguồn vốn này, không quyết toán vào NSĐP.
KBNN Thành phố phải giúp cơ quan quản lý trong việc mở hồ sơ theo dõi,
nghiêm túc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo qui định đối với các dự án đầu
tư sử dụng nguồn vốn TPCP, thực hiện chế độ kiểm tra định kỳ và đột xuất, tăng
cường công tác quản lý, kiểm tra việc thực hiện tiến độ, khối lượng, chất lượng
công trình, tình hình sử dụng vốn, không được dùng nguồn vốn TPCP để chi cho
các nhiệm vụ, dự án ngoài danh mục, không để tình trạng vượt vốn đầu tư của
dự án đã được duyệt và tình trạng lãng phí, thất thoát, tiêu cực.
Như vậy khuôn khổ pháp lý cho việc khai thác và sử dụng các nguồn vốn
đầu tư thông qua hệ thống KBNN đã tương đối đầy đủ, chi tiết và đồng bộ.
Khuôn khổ pháp lý cho việc KBNN Hà Nội huy động vốn trong dân thông qua
phát hành TPCQĐP cũng đã có, nhưng còn thiếu qui định cụ thể về việc quản lý
sử dụng nguồn vốn TPCQĐP. Về cơ bản, nội dung của các qui định này tương
15
tự như nội dung quản lý vốn đầu tư từ nguồn TPCP, song có những điểm khác
biệt nhất định liên quan tới phân cấp ngân sách và quyền chủ động của các cấp
chính quyền địa phương, tính chất của các dự án đầu tư đa dạng phụ thuộc vào
đặc thù của từng địa phương nên cần có qui định riêng.
Tóm lại, xuất phát từ nhu cầu thực tế và tiềm năng huy động vốn của địa
phương, căn cứ vào những cơ sở pháp lý quan trọng, KBNN Hà Nội hoàn toàn
có điều kiện và triển vọng tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn dài hạn trong dân cho đầu tư phát triển Thủ đô thông qua hai công cụ là Trái
phiếu Chính phủ và TPCQĐP.
I.3.2. Huy động và sử dụng vốn dài hạn thông qua các ngân hàng thương mại
và tổ chức tín dụng
Ngoài kênh huy động vốn dài hạn thông qua ngân sách còn có các kênh
huy động thông qua công cụ vay và cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng
thương mại và các tổ chức tín dụng.

về cung- cầu vốn ngắn hạn (dưới một năm) diễn ra chủ yếu thông qua các hoạt
động của hệ thống ngân hàng các cấp.
- Thị trường vốn dài hạn là nơi diễn ra các hoạt động về cung - cầu vốn dài
hạn cho Chính phủ, doanh nghiệp và hộ gia đình. Thị trường vốn dài hạn bao
gồm thị trường vay nợ dài hạn và thị trường chứng khoán.
Nhìn chung, TTTC dù ngắn hạn hay dài hạn, đều ngày càng mang tính mở
và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại cả ở cấp quốc
gia, cũng như quốc tế. Chúng tạo ra các kênh và công cụ huy động vốn cho đầu
tư phát triển từ các nguồn trong và ngoài nước, từ doanh nghiệp và trong dân;
cung cấp cho các nhà đầu tư những cơ hội và hình thức đầu tư đa dạng, phù hợp;
làm tăng khả năng thanh khoản của các công cụ tài chính và giúp đánh giá xác
thực hơn giá trị của doanh nghiệp và nền kinh tế; đồng thời giúp thực hiện hiệu
quả hơn các chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng thị trường mở...
Phát hành trái phiếu là hình thức phổ biến để huy động vốn dài hạn cho
đầu tư phát triển ở tất cả các địa phương trên thế giới và nó luôn là phương thức
huy động vốn quan trọng không chỉ đối với chính chính quyền địa phương, mà
đối với cả các doanh nghiệp (ngoài cổ phiếu).
Xét về tổng thể, huy động vốn của chính quyền địa phương từ việc phát
hành trái phiếu đô thị là một trong những lựa chọn ngày càng nhận được nhiều
sự quan tâm của chính quyền đô thị trên khắp thế giới do những lợi ích mà nó
đem lại vượt ra ngoài mục đích ban đầu là huy động vốn.Việc cho phép và buộc
chính quyền địa phương phát hành trái phiếu để bù đắp nguồn vốn ngân sách
nhà nước thiếu hụt cho đầu tư phát triển dài hạn sẽ tạo ra áp lực buộc các chính
quyền địa phương phải cải tiến, tăng cường tính minh bạch và công khai hoá
trong quản lý ngân sách địa phương, nâng cao hiệu quả của các dự án đầu tư
17
công cộng, giúp phát triển thị trường tài chính, tạo sự chủ động trong việc
hoạch định chiến lược phát triển.
Tuy nhiên để phát hành trái phiếu được thành công phải có nhiều yếu tố đi
liền với nó làm nền tảng như:

trung chủ yếu để phát triển hạ tầng, giúp Chính phủ và chính quyền địa phương
nhẹ gánh ngân sách.
Trái phiếu thu nhập được xem là loại có chất lượng thấp hơn trái phiếu
công ích. Bởi vì mỗi công trình có những rủi ro khác nhau và tuỳ thuộc vào điều
kiện khai thác công trình đó có hiệu quả hay không. Thu nhập thu được dùng để
trả nợ từ các công trình tuỳ theo loại, nhưng nó chính là tiền thu từ việc sử dụng
từ các tiện ích đó. Trái phiếu thu nhập được huy động và điều hành bởi các tổ
chức xây dựng và khai thác do chính quyền địa phương chọn và quản lý.
Các trái phiếu thu nhập thường có mức lợi tức hấp dẫn nhưng có thể bị rủi
ro cao, vì chúng không được bảo trợ hay bảo đảm bằng bất cứ nguồn vốn nào
khác ngoài thu nhập từ chính công trình mà chúng góp phần tạo ra thu nhập.
Trái phiếu đô thị là loại trái phiếu dài hạn và có những tích chất chung
của chứng khoán, đó là tính thanh khoản (chuyển nhượng, mua bán; tính rủi ro;
và tính sinh lời . Với những tính chất này trái phiếu đô thị trở thành công cụ rất
có hiệu quả để các chính quyền địa phương thu hút các nguồn vốn nhà rỗi trong
dân cư phục vụ cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của địa phương. Điều quan
trọng là đỏi hỏi chính quyền địa phương cần chủ động xây dựng chiến lược phát
hành trái phiếu có hiệu quả và phải chứng minh cho các nhà đầu tư về tính hiệu
quả của dự án cần huy động vốn; đưa ra mức sinh lời hấp dẫn mà trái phiếu tạo
ra; tạo ra nhiều tiện ích đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư.
Ngoài ra, để phát hành trái phiếu đô thị đạt hiệu quả cao, thu hút được các
nguồn vốn trong xã hội thì việc đa dạng hóa loại hình trái phiếu có vị trí quan
trọng. Loại trái phiếu phát hành sẽ phụ thuộc vào mục tiêu huy động và chủ thể
phát hành trái phiếu. Đối với các chương trình trọng điểm, công trình mà nhiều
người dân cùng được hưởng lợi thì phù hợp với việc phát hành trái phiếu công
ích. Đối với các công trình hay dự án có nguồn thu cụ thể thì có thể phát hành
trái phiếu thu nhập (trái phiếu công trình hay trái phiếu doanh nghiệp). Hơn nữa,
về nguyên tắc lãi suất của trái phiếu phải cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ, lãi
suất trái phiếu thu nhập phải cao hơn lãi suất trái phiếu công ích, có như vậy mới
thu hút được các nhà đầu tư trái phiếu.

Thuê mua (leasing) còn có nhiều tên gọi khác nhau như cho thuê tài
chính, tín dụng thuê mua, thuê mua vốn… nhưng đều có những nội dung cơ bản
giống nhau, vì vậy ở đây xin được gọi chung là thuê mua tài chính. Về thực
chất, đây là một loại hình nghiệp vụ tín dụng thuê mua của ngân hàng, các tổ
chức tài chính phi ngân hàng và các công ty thuê mua tài chính. Thuê mua tài
chính là loại tín dụng có hiệu quả và thường được các doanh nghiệp ưa chuộng,
góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là với các quốc
gia đang phát triển.
Thuê mua tài chính là một thoả thuận thuê mua thông qua một hợp đồng
giữa hai hay nhiều bên liên quan đến một hay nhiều tài sản. Người thuê mua
chuyển giao tài sản cho người thuê sử dụng trong một thời gian nhất định. Đổi
20
lại, người thuê phải trả một số tiền cho người thuê mua, số tiền thuê thông
thường cả tiền gốc về hao mòn tài sản cộng với tiền lãi.
Đặc trưng của thuê mua tài chính là:
- Người thuê lựa chọn thiết bị từ nhà cung cấp, thương lượng với người
cung cấp về phương thức bảo đảm, bảo trì, giao nhận, lắp đặt, giá cả và phương
thức thanh toán.
- Người thuê mua thiết bị trực tiếp từ nhà cung cấp; người thuê mua vẫn
giữ quyền sở hữu thiết bị trong thời gian người thuê sử dụng.
- Hợp đồng thuê mua thường không được phép huỷ bỏ ngang chừng.
Việc thuê mua tài chính cho phép người thuê được lựa chọn tài sản thuê
trong tương lai vào thời điểm ký hợp đồng thuê thiết bị; thuê mua với thời hạn
nhất định để bên thuê mua thu hồi được vốn đầu tư và có lãi; hao mòn thiết bị
do bên thuê chịu, bên thuê có toàn quyền sử dụng thiết bị; bên thuê chịu trách
nhiệm sửa chữa, bảo dưỡng và bảo hiểm thiết bị; thiết bị có phù hợp hay không
thuộc trách nhiệm bên thuê. Thuê mua tài chính thường được áp dụng đối với
thiết bị dùng cho sản xuất, thương mại, dịch vụ.
Một nghiệp vụ tài trợ thuê mua được coi là thuê mua tài chính nếu thoả
mãn các tiêu chí sau:

sở hữu tài sản thuê, hoặc được mua lại tài sản thuê, hay tiếp tục thuê tài sản theo
các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thuê mua.
Khái niệm này đã từng bước được hoàn thiện và đã có một số khái niệm
khác nhau, nhưng những nội dung cơ bản đều có sự thống nhất. Cụ thể như:
- Về phương diện hoạt động tín dụng: Tín dụng thuê mua là một phương
thức thuê mua tài sản dài hạn mà trong thời hạn đó, người thuê mua chuyển giao
tài sản cho người đi thuê sử dụng. Bên thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê
và được quyền: hoặc sở hữu tài sản sau khi kết thúc hợp đồng thuê; hoặc được
quyền mua tài sản bất cứ lúc nào cho đến khi kết thúc hợp đồng thuê; hoặc được
quyền thuê tiếp tài sản.
Theo định nghĩa này, tín dụng thuê mua ở Việt Nam có một số giới hạn
như: không áp dụng thuê mua với bất động sản; người thuê mua là sở hữu chủ
tài sản, như vậy không áp dụng phương thức thuê rồi thuê mua lại.
22
Công ty thuê
mua (người
thuê mua)
Hợp đồng mua thiết bị Hợp đồng thuê mua
Nhà cung cấp Người đi thuê
- Về phương diện thuê mua tài chính: Thuê mua tài chính là một hoạt
động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc thuê mua máy móc thiết bị và các
động sản khác; bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt
thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng trước
thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, hoặc
tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Theo định nghĩa này, thuê mua tài chính là một hình thức thuê mua tài
sản có kèm theo lời hứa bán lại cho người thuê khi kết thúc hợp đồng với giá cả
được thoả thuận từ trước. Như vậy, thuê mua tài chính (hay tín dụng thuê mua)
khác hẳn với hình thức thuê mua tài sản đơn thuần hay hình thức bán hàng trả
chậm , trả góp về phương thức sở hữu, tính chất cũng như mối quan hệ giữa các

thuê mua của giai đoạn cơ bản. Trường hợp người đi thuê không muốn mua thì
trả lại cho người cho thuê mua hoặc ký tiếp hợp đồng thuê giai đoạn sau.
+ Người đi thuê phải chịu những rủi ro liên quan đến tài sản.
+ Thời hạn thuê mua thường dài hơn hoặc gần bằng thời gian hữu dụng
của tài sản.
+ Hiện giá các khoản tiền thuê của một hợp đồng gần bằng giá trị tài sản.
Theo kinh nghiệm của một số nước, người ta thường quy định 3 tiêu
chuẩn của thuê mua tài chính như sau:
+ Một là, quyền sở hữu tài sản thuê mua có thể chuyển giao cho người đi
thuê sau khi chấm dứt hợp đồng thuê mua.
+ Hai là, thời hạn thuê mua khoảng 75% thời gian hữu dụng của tài sản.
+ Ba là, hiện giá của tổng các các khoản tiền thuê bằng 90% hoặc cao hơn
giá trị tài sản. Nhưng trong thực tế cần lưu ý việc xác định kỳ hạn sao cho tiền
thuê phải trả mỗi kỳ ở mức vừa phải, không ảnh hưởng lớn đến tình hình tài
chính của người đi thuê; đồng thời sau khi chấm rứt hợp đồng thuê mua, người
thuê mua có thể bán được tài sản.
Tổ chức thuê mua tài chính là một doanh nghiệp đứng ra thực hiện nghiệp
vụ thuê mua, tuỳ theo định chế của mỗi nước mà cho phép ngân hàng thương
mại, công ty tài chính, công ty thuê mua thực hiện nghiệp vụ này. Một số nước
không cho phép ngân hàng thương mại trực tiếp thực hiện đầu tư thuê mua
nhưng lại cho phép ngân hàng thành lập công ty thuê mua tài chính để thực hiện
nghiệp vụ thuê mua (Một số ngân hàng thương mại của nước ta cũng đang thực
hiện theo mô hình này).
Đối với công ty thuê mua tài chính là công ty con của ngân hàng, giữa
ngân hàng và công ty thuê mua tài chính có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ngân
hàng đứng ra giới thiệu khách hàng cho công ty thuê mua tài chính của mình;
ngân hàng bảo lãnh cho các doanh nghiệp khi thực hiện việc thuê mua (tức là
ngân hàng sẽ gánh chịu một phần rủi ro cho công ty thuê mua tài chính); ngân
hàng tái cấp vốn cho công ty thuê mua tài chính trên các hợp đồng thuê mua.
24

Mua ô tô, cho vay lưu thông, cho
vay chuyển nhà…
Hàng hoá tiêu dùng,
ô tô, vật dụng gia
đình…
Thời hạn hoàn trả vốn Thời hạn thuê gần bằng
Thời gian hữu dụng của
tài sản và cuối hợp đồng
thuê, người đi thuê có
quyền chọn mua, thuê
tiếp hay trả lại tài sản.
Thời hạn vay ngắn. Thời hạn ngắn.
Vấn đề rủi ro Là hình thức ít rủi ro vì tài
sản thuê mua vẫn thuộc
quyền ở hữu của người
thuê mua. Người đi thuê
không được sửa chữa,
làm giảm giá trị tài sản
hay thế chấp.
Nếu vi phạm những
quy định trong hợp đồng,
người thuê mua có quyền
thu hồi tài sản.
Rủi ro lớn do quyền sở
hữu tài sản thuộc về người
đi vay nên khó có thể
kiểm soát được việc sử
dụng tài sản. Có những
trường hợp người đi vay
không trả được nợ, ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status