Sách giáo khoa tin học 9 - Pdf 74

CHƯƠNG I
MẠNG MÁY TÍNH VÀ INTERNET
Chương I trình bày một số kiến thức
cơ bản của mạng máy tính, giới thiệu
một số dịch vụ trên Internet
§. 1 MẠNG MÁY TÍNH
1. Kết nối các máy tính
Kết nối các máy tính là tổ chức việc truyền thông giữa các máy tính. Chúng ta
có thể kể ra một số vấn đề không thể giải quyết nổi nếu như không tổ chức việc truyền
thông giữa các máy :
• Sử dụng chung trên nhiều máy các thiết bị, các phần mềm hoặc các tài nguyên
đắt tiền như bộ xử lí tốc độ cao, đĩa cứng dung lượng lớn, máy in laser màu tốc
độ cao, cơ sở dữ liệu...
• Cần truyền tải khối lượng lớn thông tin từ máy này sang máy khác trong thời
gian ngắn mà việc truyền tải thông tin qua đĩa mềm hoặc dĩa compact là không
đáp ứng được.
2. Khái niệm mạng máy tính
Mạng máy tính là hệ thống trao đổi thông tin giữa các máy tính. Một mạng máy
tính bao gồm các thánh phần cơ bản:
• Mạng truyền tin (gồm các kênh truyền tin và các phươngtiện truyền thông)
• Các máy tính được kết nối với nhau.
• Hệ điều hành mạng.
Người sử dụng mạng máy tính có khả năng sử dụng các tài nguyên chung như
chương trình, các thiết bị kĩ thuật, các thông tin...
Mạng máy tính bao gồm các nút (các máy tính, các trạm làm việc,...) và các
kênh nói chung. Kênh nối là đường nói trực tiếp hai nút.
Các máy tính có thể nối thành mạng theo nhiều dạng.
Mạng máy tính được nối liên tiếp nhau trên một đường thẳng gọi là mạng đường
thẳng.
Mạng máy tính được nối liên tiếp nhau trên một đường tròn gọi là mạng vòng.
Mạng máy tính được nối với nhau chung quang một máy tính nào đó được gọi là

Hình 3. Mạng cục bộ
Mạng diện rộng ( WAN – Wide Area NetWork ) là mạng kết nối những máy
tính ở cách nhau một khoảng cách lớn. Mạng diện rộng thông thường liên kết các mạng
cục bộ.
4. Truyền thông trong mạng
Việc tổ chức truyền thông giữa các máy tính có thể được thực hiện thông qua
các cổng của chúng bởi các kênh truyền : cáp nối, đường điện thoại, các vệ tinh liên
lạc.
Để các máy tính có thể giao dịch được với nhau, cần phải có các quy định đặc
biệt gọi là các giao thức truyền thông.
Khi làm việc trong mạng, máy tính cần phải
được cài đặt một số phần mềm chuyên dụng, thực
hiện việc truyền dữ liệu tuân theo các giao thức
truyền thông.
Dữ liệu cần truyền được tổ chức thành các gói
tin có kích thước xác định. Các gói tin được đánh số
để sau đó có thể tập hợp chúng lại một cách đúng
đắn. nội dung gói tin bao gồm các thành phần sau:
 Địa chỉ nhận
 Địa chỉ nhận
 Độ dài
 Dữ liệu
 Thông tin kiểm soát lỗi
 Các thông tin phục vụ khác
Khi truuyền tin, nếu có lỗi thì gói tin phải truyền lại.
Việc phối hợp xử lí giữa các máy tính trong mạng
được thực hiện theo một số mô hình. Dưới đây là hai mô hình thông dụng :
a) Mô hình khách - chủ (Client – Server)
Trong mô hình này khi kết nối hai máy tính, một máy sẽ được chọn để đảm
nhận việc cung cấp tài nguyên (chương trình, dữ kiệu,...), còn máy khác đảm nhận việc

Internet phát triển không ngừng, bởi vì có rất nhiều người sử dụng có trình độ cao đã
viết các chương trình trước tiên là cho bản thân mình,sau đps lại chia sẻ cho mọi người
sử dụng. Các máy chủ mới xuất hiện không ngừng, còn các máy hiện có luôn cải tiến
phương thức hoạt động của mình. Nguồn thông tin trên mạng tăng vọt.
Kết nối bằng cách nào? Một số cách kết nối Internet, trong đó có 2 cách sau:
1. Sử dụng môđem qua đường điện thoại. Để tiến hành cài đặt, kết nối máy
tính với Internet theo cách này cần có hai điều kiện:
 Máy tính cần được cài đặt môđem và kết nối qua đường điện thoại.
 Hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP–Internet Service
Provider). Qua đó người sử dụng được cấp tên người sử dụng (User name)
và mật khẩu (Password) để có quyền truy cập Internet.
Hiện nay ngành bưu điện nước ta đảm bảo cho thuê bao điện thoại có thể kết nối
trực tiếp vào mạng Internet qua đường điện thoại.
2. Sử dụng đường truyền riêng. Với cách này :
 Người dùng thuê một đường truyền riêng.
 Một máy tính (gọi là máy uỷ quyền (Proxy)) trong mạng LAN được dùng
để kết nối với ISP. Mọi yêu cầu truy cập Internet từ các máy trong mạng
LAN được thực hiện thông qua máy uỷ quyền.
Tài liệu GK 9 THCS
4
Do giá thành đắt nên chỉ các cơ quan, trường học, công ti lớn,... mới sử dụng
cách thức này.
Các mạng trong Internet kết nối với nhau như thế nào ?
Các mạng con của Internet có kiến trúc khác nhau, và được nối với nhau. Các
thông tin truyền đi sẽ được phân chia thành các gói nhỏ. Mỗi gói sẽ di chuyển trong
mạng một cách độc lập, không phụ thuộc vào các gói khác.
Các mạng trong Internet hoạt động liên tục và trao đổi với nhau, bởi vì tất cả các
máy tính tham gia vào truyền dữ liệu cùng sử dụng các giao thức truyền thông thống
nhất là bộ giao thức TCP|IP.
Bộ giao thức TCP|IP gồm nhiều giao thức, trong đó có hai giao thức chính,

§. 3 MỘT SỐ DỊCH VỤ CƠ BẢN CỦA INTERNET
Trên Internet có rất nhiều dịch vụ. Dưới đây giới thiệu hai dịch vụ cơ bản.
1. Tổ chức và tìm kiếm thông tin
Các thông tin trên Internet thường được tổ chức dưới dạng siêu văn bản. Dưới
gốc độ người sử dụng, siêu văn bản là tổng thể trong đó tích hợp: văn bản, hình ảnh,
âm thanh, video và một số liên kết với các siêu văn bản khác. Các liên kết này thường
được thể hiện bằng cách gạch chân hoặc đổi màu một số từ hay hình ảnh.
Ví dụ, với siêu văn bản bản đồ thế giới, nếu như người sử dụng nháy chuột vào
một nước nào đó, người đó có thể nhận được các thông tin về quốc gia đó: Dưới dạng
văn bản như dân số, diện tích,... ; Dưới dạng hình ảnh như bản đồ địa lí, quốc kì,... ;
Dưới dạng âm thanh như quốc ca, nhạc dân tộc,...
Để tìm kiếm các siêu văn bản nói riêng, các tài nguyên trên Internet nói chung
và đảm bảo việc thâm nhập đến chúng, người sử dụng hệ thống WWW. Hệ thống này
được xây dựng trên giao thức truyền tin đặc biệt, gọi là giao thức truyền tin siêu văn
bản HTTP (HyperText Transfer Protocol) và được cấu thành từ các trang WEB. Trang
WEB đặt trên một máy chủ tạo thành WEBsite.
Trang WEB được tạo ra nhờ sử dụng ngôn ngữ siêu văn bản HTML(HyperText
Markup Languge).
Ngôn ngữ HTML cho phép bổ sung vào văn bản các thẻ lệnh (tag), nhờ đó có
thể liên kết các đoạn văn bản này với các văn bản khác hoặc với các âm thanh, hình
ảnh,...
Mỗi WEBsite có thể có nhiều trang, trang đầu tiên gọi là trang chủ (homepage)
– là văn bản chứa các chỉ dẫn móc nối đến các trang khác của nó. Địa chỉ của trang chủ
được lưu hành trong Internet như là địa chỉ WEBsite.
Hiện có nhiều phần mềm hướng dẫn cho mỗi có nhân, tổ chức xây dựng trang
WEB riêng của mình. Để truy nhập đến các trang WEB người sử dụng cần phải dùng
các chương trình hệ thống được gọi là các trình duyệt WEB.
Trình duyệt WEB là chương trình giúp người sử dụng thực hiện đối thoại với
WWW: duyệt các trang WWW, tương tác với các máy chủ trong WWW và các tài
nguyên khác của Internet.

Ngoài việc khai thác các dịch vụ trên Internet, người dùng cần phải biết bảo vệ
mình trước các nguy cơ trên Internet như tin tặc, virus, thư điện tử không rõ nguồn
gốc,... Vấn đề bảo mật thông tin rất quan trọng trong thời đại Internet.
a) Quyền truy cập website
Có nhiều cách để bảo vệ các trang web, một trong các cách đó là chỉ cho phép
truy cập có giới hạn, người dùng muốn sử dụng các dịch vụ hoặc xem thông tin phải
đăng nhập bằng tên và mật khẩu. Nếu không được cấp quyền hoặc gõ không đúng mật
khẩu thì sẽ không thể truy cập được nội dung của website đó.
Nhiều cơ quan, trường học, công ti sử dụng cách này để một mặt cho phép thông
tin có thể được phổ biến rộng rãi, mặt khác chỉ dành cho đúng các đối tượng quan tâm
hoặc các đối tượng được phép sử dụng.
Ví dụ, trong các website của một số công ti có những thông tin mà chỉ số ít
người có trách nhiệm mới được quyền truy cập, còn phần lớn nhân viên không được
Tài liệu GK 9 THCS
7
quyền truy cập. Nhiều website hỗ trợ học và thi của các trường đại học cũng phân
quyền truy cập thông tin, chẳng hạn có thông tin chỉ cho phép giảng viên hoặc cán bộ
quản lí đào tạo được biết, có thông tin dành cho rộng rãi học viên, sinh viên như bài
kiểm tra, kết quả thi,...
b) Mã hoá dữ liệu
Ta đã biết đến việc mã hoá thông tin thành dữ liệu để đưa vào máy tính ở các
lớp trước. Việc mã hoá thông tin còn được sử dụng vào nhiều mục đích khác, chẳng
hạn để bảo mật thông tin.
Mã hoá dữ liệu được sử dụng để tăng cường tính bảo mật cho các thông điệp mà
chỉ người biết cách giải mã mới đọc được. Việc mã hoá có thể thực hiện bằng nhiều
cách, kể cả bằng phần cứng lẫn phần mềm.
Ví dụ. Với tập chữ cái La-tinh, người ta có thể mã hoá một văn bản bằng cách
thay thế mỗi chữ cái trong văn bản bởi chữ cái khác trong bảng chữ cái La-tinh theo
quy tắc dịch chuyển vòng tròn một độ dài cố định k. Trong bảng mã hoá dưới đây k = 2.
Chữ gốc a b c d e ... x y z

2. Gõ địa chỉ trang web trên dòng Address
Chẳng hạn để truy cập địa chỉ ta cần thực hiện:
• Gõ vào dòng Adress :
• Gõ Enter
Trang cần tìm sẽ
được truy cập và hiển
thị trên màn hình,
chẳng hạn như hình
sau:
3. Tìm kiếm thông
tin trên trang
web
Để di chuyển từ
trang thông tin này đến
một trang thông tin
khác ta nháy chuột vào
các địa chỉ móc nối,
vào ⇐ (back) để quay
về trang trước hoặc ⇒ (Forward) để đến trang tiếp theo trong các trang mà chúng ta đã
duyệt qua. Các địa chỉ móc nối thường là các dòng chữ được gạch chân hoặc được hiển
thị với màu nổi bật. Có thể dễ dàng nhận biết các địa chỉ móc nối bằng việt di chuyển
con trỏ chuột đến gần vị trí tương ứng, nếu đó là vị trí móc nối thì con trỏ chuột sẽ
chuyển sang hình dạng của bàn tay với ngón trỏ hướng lên phía trên màn hình.
Tài liệu GK 9 THCS
9
Ta thử dạo qua một địa chỉ móc nối trang www.vnn.vn chẳng hạn nháy đúp vào
địa chỉ móc nối văn hóa, trang thông tin về văn hoá của www.vnn.vn sẽ được hiển thị,
ví dụ như trong hình dưới đây:
Có thể đọc các thông có trên trang này, hoặc lại nhấp vào các địa chỉ móc nối có
trên nó để đọc thêm các thông rinh liên quan ở trên các trang

Ví dụ trên trang www.vnn.vn nháy chuột vào địa chỉ móc nối Checkmail trang
sau sẽ được tải về và hiển thị lên màn hình.
Nháy
chuột vào địa
chỉ móc nối
Đăng kí, trang
web đăng kí sẽ
xuất hiện trên
màn hình.
Trang
này thực hiện
các khai báo
cần thiết để gửi
cho nhà cung
cấp dịch vụ. Hộp thư sẽ được tạo trên máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ.
b) Sử dụng
hộp thư
Ví dụ, vào
website www.vnn.vn
chọn dịch vụ
checkmail, tiếp đến
vào địa chỉ hòm thư
và mật khẩu và rồi
chọn xem thư. Trang
sau đây sẽ được hiển
thị.
Tài liệu GK 9 THCS
11
Theo chỉ dẫn trên trang này có thể :
• Đọc các thư đã được gủi vào hòm thư

mục đích phát tán từ một đĩa mềm 360 K khi cho vào bất cứ ổ đĩa nào. Loại đĩa mềm
mang virus này có mác “© Brain”. Đây chính là những virus MS-DOS xuất hiện sớm
nhất. 1987. Lehigh, một trong những virus file đầu tiên xâm nhập các tệp lệnh
command.com (virus này sau đó tiến hoá thành virus Jerusalem). Một virus khác có tên
IBM Christmas, với tốc độ phát tán cực nhanh (500.000 bản sao/tiếng), là cơn ác mộng
đối với các máy tính lớn (mainframe) của Big Blue trong suốt năm đó. 1988. Một trong
những virus phổ biến nhất, Jerusalem, xuất hiện. Được kích hoạt vào các thứ Sáu ngày
13, virus này tác động file có đuôi .exe và .com, xoá tất cả những ứng dụng chạy trong
ngày hôm đó. Cùng năm này, virus MacMag and the Scores gây ra đợt bùng phát lớn
đầu tiên trên các máy Macintosh. Đây là cuộc khủng hoảng Internet đầu tiên khiến một
số lượng lớn máy tính bị tê liệt. Cũng từ đó, Trung tâm điều phối phản ứng nhanh
(CERT) đã ra đời để đối phó với những sự cố tương tự. 1989. Xuất hiện chương trình
Trojan có tên AIDS. Virus này nổi tiếng vì có khả năng khống chế giữ liệu giống như
con tin. Nó được gửi đi dưới dạng một chương trình thông tin về bệnh suy giảm hệ
miễn dịch. Khi được kích hoạt, AIDS sẽ mã hoá ổ cứng của nạn nhân và yêu cầu người
sử dụng phải nộp tiền nếu muốn được giải mã.
1990. Symantec tung ra công cụ Norton AntiVirus, một trong những chương
trình diệt virus đầu tiên do một công ty lớn phát triển. Thị trường trao đổi virus đầu tiên
(VX) được tung lên mạng từ Bulgaria. Tại đây, các tin tặc có thể buôn bán mã và giao
lưu ý tưởng. Cùng năm này, cuốn Sách đen về virus máy tính của tác giả Mark Ludwig
được xuất bản. 1991. Tequila, một trong những virus phát tán dưới nhiều hình dạng đầu
tiên được phát hiện. Những sâu loại này khiến cho việc xác định và truy quét chúng trở
nên khó khăn do sự thay hình đổi dạng sau mỗi lần lây nhiễm. 1992. Trong vòng 2
năm, người ta ghi nhận tổng số 1.300 virus đang tồn tại, tăng 420% so với tháng
12/1990. Xuất hiện DAME (Dark Avenger Mutation Engine), một bộ công cụ cho phép
chuyển những virus thông thường thành những chương trình có khả năng thay đổi hình
dạng. Sau đó là VCL (Virus Creation Laboratory), công cụ sáng tác virus thực sự đã ra
đời. Sự xuất hiện của virus Michelangelo làm dấy lên những lời cảnh báo về thiệt hại
quy mô lớn trên toàn cầu, mặc dù cuối cùng những gì xảy ra không như người ta lo
ngại. 1994. Trò lừa qua e-mail đầu tiên xuất hiện trong cộng đồng tin học. Trò này cảnh

Amazon,… trong nhiều giờ đồng hồ. 2001. Nimda (vẫn được gọi là Quái vật đa đầu)
với sức mạnh kết hợp từ 5 loại virus với phương thức hoạt động khác nhau tấn công
hàng trăm nghìn máy tính trên thế giới. Đây là một trong những virus phức tạp nhất tới
nay mà người ta xác định được. Virus mang tên nữ hoàng quần vợt Nga Anna
Kournikova, tự sao chép vào danh sách địa chỉ e-mail trong Microsoft Outlook và mặc
dù không gây hại nhiều, vẫn khiến các nhà phân tích lo sợ đây là một sản phẩm được
thiết kế từ công cụ hỗ trợ viết virus, nhờ đó những tin tặc ít kinh nghiệm lập trình nhất
cũng có thể chế tác các chương trình phá hoại. Hàng loạt sâu mới xuất hiện với những
cái tên như Sircam, CodeRed và BadTrans. Sircam phát tán qua văn bản e-mail
Internet. CodeRed tấn công những trang web có khiếm khuyết và thậm chí còn lái
hướng tấn công tới trang chủ của Phủ Tổng thống Mỹ. Trong vòng 12 giờ đầu tiên,
virus này đã xâm nhập 359.000 máy tính. BadTrans là loại sâu được thiết kế để ăn cắp
mật khẩu và thông tin thẻ tín dụng. 2002. David L. Smith, tác giả của virus Melissa, bị
kết án 20 năm tù. Tháng 1, virus LFM-926 xuất hiện trong các file Shockwave Flash
(.swf) với thông điệp mời tải phim (Loading.Flash.Movie). Liên tiếp phát hiện những
Tài liệu GK 9 THCS
14
virus sử dụng tên các nhân vật và nghệ sĩ nổi tiếng như Shakira, Britney Spears và
Jennifer Lopez. Klez, một ví dụ tiêu biểu của xu hướng gia tăng những loại sâu e-mail,
viết đè lên file, tạo ra các bản sao ẩn của bản gốc và vô hiệu hoá nhiều công cụ phòng
chống thông thường. Sâu Bugbear lần đầu tiên xuất hiện vào tháng 9, với tính chất
phức tạp và sử dụng nhiều phương thức lây lan. 2003. Tháng Giêng, sâu Slammer ra
đời và đến nay vẫn được coi là loại virus có tốc độ phát tán nhanh nhất: 75.000 máy
tính chỉ trong 10 phút, tức là trong phút đầu tiên, trung bình cứ 8,5 giây, con số này lại
được nhân đôi. Virus Sobig ra đời và trở thành công cụ ưa thích của cộng đồng spam.
Những hệ thống máy tính bị nhiễm virus này trở thành trạm tiếp vận phát tán thư không
mời. Nhiều kỹ thuật spam được sử dụng trong Sobig giúp nó gửi đi lượng bản sao e-
mail khổng lồ. Tuy nhiên, sự kiện đáng chú ý nhất trong năm nay là Blaster (còn có tên
MBlast hay LoveSan), là một trong những loại virus có sức lây lan rất mạnh, nhắm vào
máy tính sử dụng hệ điều hành Windows 2000 và XP. Bắt đầu xuất hiện ngày 11/8, chỉ

trình diễn mạng ARPANET, liên kết 40 máy thông qua các bộ xử lí giao tiếp giữa các
trạm cuối. Cũng năm nay nhóm InterNET Working Group do Vinton Cerf làm chủ tịch
để đáp ứng nhu cầu thiết lập giao thức bắt tay. Năm 1972 cũng là năm Ray Tomlinson
đã phát minh ra E-mail để gửi thông điệp trên mạng. Suốt hai mươi năm liền, E-mail là
một trong những dịch vụ được dùng nhiều nhất.
Năm 1973, các trường đại học của Anh và của Na Uy kết nối vào ARPANET.
Cũng vào thời gian đó ở đại học Harvard, Bod metcalfe đã phác hoạ ra ý tưởng về
Ethenet và Bob Kahn đưa ra vấn để Internet, khởi đầu chương trình nghiên cứu lên
mạng tải ARPA Tháng 9/1973 Vinto cerf và Bob Kahn trình bày ý tưởng của Internet.
Đó là những nét chính của giao thức TCP/IP.
Năm 1974 BBN đã xây dựng giao thức ứng dụng Telnet cho phép máy tính sử
dụng từ xa.
Năm 1976 AT & T Labs phát mịnh ra dịch vụ truyền thông qua mạng FTP.
Tháng 7/1977 lần đầu tiên trình diễn ARPANET /Packet Radio Net/SATNET
theo giao thức Internet.
1978 Tom Truscott và Steve Bellovin thiết lập mạng USENET dành cho những
người sử dụng UNIX.Mạng USENET là một trong những mạng phát triển sớm nhất và
thu hút nhiều người nhất. Trên USENET hình thành dich vụ New groups là một trong
những dịch vụ phát triển mạnh mẽ của Internet sau này.
Năm 1979 ARPA thành lập ban kiểm soát cấu hình INTERNET.
Năm 1981 mạng CSNET do nhiều nhà khoa học máy tính phối hợp và các
trường đại học. Csnet cung cấp các dịch vụ mạng cho các nhà khoa học ở các trường
đại học mà không cần truy cập vào mạng Arpanet. Csnet sau này được xem như mạng
phục vụ cho khoa học và máy tính.
Năm 1982 giao thức TCP và IP được DAC và ARPA dùng đối với mạng
ARPANET. Sau đó TCP/IPđược chon là giao thức chuẩn, kết nối trực tiếp giữa các
nước Hà Lan, Đan Mạch, Thuỷ Điển và Anh được thực hiện tiếp theo đó truy cập vào
ARPANET đựoc miễn phí.
Năm 1983 ARPANET được tách ra thành ARPANET và MILNET. MILNET
tích hợp cùng mạng dữ liệu quốc phòng ARPANET trở thành một mạng nhân sự. Ban

Mbps. NSFnet truyền một tỷ tỷ Byte/tháng và mười tỷ gói tin/một tháng. Các nước
Crô-a-ti-a, Séc, Hồng Kông, Hung-Ga-Ri, Bồ Đào Nha, Xin-Ga-Po, Nam phi, Đài
Loan, Tuy-Ni-Di...nối vào NSFnet.
Năm 1992 Internet Society bước vào hoạt động, số lượng máy chủ vượt qua con
số 100.0000. IAB trở thành một thành phần Internet Society. Các nước Cam-Mơ-Ru,
Síp, Ê-cu-a-đo, Ê-xtô-ni-a, Cô-oét, Lát-vi, Luých-Xăm-Bua, Malaysia, Xlôvakia,
Thailand, Vênêxuêla,...nối vào NSFnet.
Năm 1993 NSF cho ra đời InterNIC, cung cấp các dịch vụ Internet như: dịch vụ
về cơ sở dữ liệu và thư mục, dịch vụ đăng kí , dịch vụ thông in, liên hiệp quốc trực
Tài liệu GK 9 THCS
17
tuyến. Các nước Bun-Ga-Ri, Côxtarica,...nối vào mạng NSFnet, nâng tổng số các nước
tham gia mạng Internet lên hơn 59 quốc gia.
Năm 1994 là năm kỉ niệm lần thứ 25 ra đời ARPANET, NIST đề nghị thống
nhất dụng giao thức TCP/IP và bỏ yêu cầu chỉ dùng chuẩn OSI. WWW đã trở thành
dịch vụ phổ biến thứ hai sau dịch vụ FTP. Những hình ảnh Video đầu tiên được truyền
từ trên mạng Internet.
Năm 1995 NSF kết thúc việt tài trợ và NSFnet thu lại thành một mạng nghiên
cứu. Trong ba tháng WWW vượt trội hơn FTP và trở thành một dịch vụ có sự lưu
thông lớn nhất căn cứ trên số lượng gói tin truyền và số Byte truyền. Các hệ thống quay
số trực tiếp truyền thống như Compurserve, AmericanOnline, Prodigy bắt đầu khả năng
tiếp cận mạng Internet. Số các máy tính kết nối với mạng Internet là khoảng 3.2 triệu
với 42 triệu người dùng từ 42.000 mạng máy tính khác nhau trên 84 nước trên toàn thế
giới.
Triển lãm Internet 1996 World Exposition là triễn lãm thế giới đầu tiên trên
mạng Internet.
Tính đến 7/1997 đã có 171 nước tham gia Internet với 19.500.000 máy chủ kết
nối vào mạng.
Hiện nay có hơn 300 triệu người dùng Internet thường xuyên. Dự tính đến 2004
sẽ có 900 triệu người sử dụng Internet.

• Viễn thông điện lực;
• ................................ ;
Các ISP dùng riêng
Các ISP dùng riêng được quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ Internet. Điều khác
nhau duy nhất giữa ISP và ISP dùng riêng là ISP dùng riêng không cung cấp dịch vụ
Internet với mục đích kinh doanh. Đây là loại hình dịch vụ Internet của các cơ quan
hành chính, các trường Đại học hay Viện nghiên cứu.
Các mạng dùng riêng phải cung cấp dịch vụ thông qua một ISP nào đó. Mạng
của Trung Tâm khoa học và Kĩ thuật hạt nhân là ISP dùng riêng đầu tiên ở Việt Nam.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có hàng chục ISP dùng riêng.
Các ICP (Internet Content Provider)
Đây là các nhà cung cấp thông tin lên mạng Internet. Các ISP có thể đòng
thời là ICP. Một số ICP không có tjiết bị, họ có thể dặt máy chủ cung cấp thông tin
trong mạng của một ISP.
Thuê bao Internet : Người dùng chỉ cần thoã thuận với một ISP hay một ISP
dùng riêng nào đó về các dịch vụ được sử dụng và thủ tục thanh toán. Tính tới cuối
năm 2001 có khoảng 800.000 người đăng kí sử dụng Internet. Đó là chưa kể những
người truy cập tự do qua đường điện thoại, trả tiền trực tiếp như dịch vụ giá trị gia tăng
của dịch vụ điện thoại.
Một việc không kém phần quan trọng để thực hiện đầy đủ quyền quản lí nhà
nước đối với Internet là quản lí địa chỉ và tên miền (tên trên Internet) cho các cơ quan,
tổ chức tai Việt Nam. Chính phủ tổ chức Trung tâm thông tin mạng Việt Nam
(VNNIC) với các chức năng chính là :
• Làm đầu mối quốc tế về các vấn đề địa chỉ IP và tên miền;
Tài liệu GK 9 THCS
19
• Quản lí tên miền .vn và các tên miền dưới cấp 2 các tên miền do các ISP cấp
đến cấp 3;
• Quản lí và vận hành các máy chủ tên miền đến cấp 2;
• Ban hành các chính sách liên quan đến IP và tên miền;

của HTML.
Sau khi viết xong một trang Web, để mở nó ta dùng một phần mềm khác, gọi là
một trình duyệt web (web browser), chẳng hạn như Internet Explorer trong hệ điều
hành Windows. Browser sẽ hiểu cú pháp HTML và hiển thị trang Web đó cho người
đọc.
Nhiều công ty phần mềm đã sản xuất các phần mềm để giúp soạn thảo HTML
như FrontPage, Dreamweaver ... Khi dùng các phần mềm này hầu như không cần phải
học cú pháp HTML. Những phần mềm như FrontPage hay Dreamweaver chỉ giúp bạn
đỡ mất công gõ cú pháp HTML mà thôi.
I. Trang Web cơ bản
Để bắt đầu hãy mở Notepad (click Start, chọn Programs, vào Acessories và chọn
Notepad) và viết những dòng sau:
<HTML>
</HTML>
Mỗi nhóm ký tự bao gồm giữa các dấu <> được gọi là một tag. Hầu hết các tags
đều đi thành từng cặp, mỗi cặp gồm tag mở đầu và tag kết thúc. Để có tag kết thúc, chỉ
việc thêm ký tự / vào tag mở đầu. Có thể viết các tag bằng chữ thường hoặc chữ hoa.
Các tags là những thông điệp gửi tới web browser. Trong trường hợp trên chúng
ta vừa báo cho browser biết rằng đây là khởi đầu của một HTML file (<HTML>), và
đây là kết thúc của file đó (</HTML>).
Bên trong các tags HTML lúc nào cũng phải có các tags HEAD:
<HTML>
<HEAD>
</HEAD>
</HTML>
Lưu ý là không được chừa khoảng trống giữa dấu < với tên của tag, giữa dấu <
với dấu /, hay giữa dấu / với tên của tag và áp dụng cho tất cả các tags.
Bên trong các tags HEAD là các tags TITLE:
<HTML>
<HEAD>

Chao cac ban !

BGCOLOR là một attribute (tính chất) của tag BODY, cho phép thay đổi màu nền
của trang Web (BGCOLOR là chữ viết tắt của background color, là màu nền).
Lưu ý là luôn luôn có một khoảng trống giữa BODY và
BGCOLOR. Điều này cũng áp dụng cho mọi tags khác và các
attributes của chúng.
Trong ví dụ trên #00FFFF là mã số của màu xanh da trời.
Ta cũng có thể dùng một ảnh làm nền cho trang Web. Sau đây
là một ví dụ thay BGCOLOR="#00FFFF":
Tài liệu GK 9 THCS
22
<BODY BACKGROUND="swirlies.gif">
Chao cac ban !
</BODY>
Thông thường bạn nên cất tất cả các ảnh dùng trong trang Web của mình vào
một folder con riêng biệt, nằm bên trong folder làm việc (nơi bạn cất các trang Web).
Bạn có thể tạo một folder con tên là hinhanh chẳng hạn và save ảnh nền swirlies.gif vào
đó, như trên ảnh minh họa sau đây:

Khi đó bạn nhớ là phải thêm đường dẫn tới ảnh nền như sau:
<BODY BACKGROUND="hinhanh/swirlies.gif">
Chao cac ban !
</BODY>
III. Định dạng văn bản
1. Xuống dòng, phân đoạn:
Mở file vừa viết ở trên thêm phần text sau đây:
<BODY BGCOLOR="#CCFFDD">
Chao cac ban !
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !

tag <HR> chỉ đứng một mình không có tag kết thúc tag </HR>.
2. Căn chỉnh dòng:
Thông thường thì browser ép các câu và đoạn văn sang trái, như các bạn thấy
qua các bước thực tập trên đây. Nếu muốn ép chúng sang phải hay đưa chúng vào giữa
trang bạn có thể dùng tag <DIV></DIV> với attribute ALIGN="RIGHT" hay
ALIGN="CENTER" (DIV là chữ viết tắt của Division, tức là một phần):
<BODY BGCOLOR="#CCFFDD">
<DIV ALIGN="RIGHT">
<P>Chao cac ban !</P>
</DIV>
<HR>
<DIV ALIGN="CENTER">
<P>Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !</P>
</DIV>
</BODY>

Chao cac ban !
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
3. Sắp xếp nội dung:
Tài liệu GK 9 THCS
24
Nhiều khi bạn cần sắp xếp nội dung thành nhiều đoạn như trong một danh sách
hay một bảng liệt kê. Khi đó bạn phải dùng các tags <UL></UL> (Unordered List,
danh sách không thứ tự) hay <OL></OL> (Ordered List, danh sách có thứ tự) như
trong ví dụ sau:
<BODY BGCOLOR="#CCFFDD">
<DIV ALIGN="RIGHT">
<P>
<UL>
<LI>Chao cac ban !</LI>

kiện là máy tính dùng để coi trang Web của bạn phải có font chữ đó.
Tài liệu GK 9 THCS
25

Trích đoạn Chốn õm thanh THIẾT KẾ MỘT TRANG WEB ĐƠN GIẢN. Nhập văn bản:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status