Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất l-
ợng công tác thanh toán chuyển tiền điện tử tại CN
NHCT Đống Đa-Hà Nội.
3.1. Một số yêu cầu khi xây dựng hệ thống thanh toán tơng lai.
Hệ thống thanh toán tơng lai sẽ đáp ứng các yêu cầu về khả năng thanh toán điện
tử thống nhất ở Việt Nam. Quy mô của hệ thống thanh toán trong tơng lai bao gồm các
khoản thanh toán liên hàng và nội bộ NH và các giao diện với các tài khoản khách
hàng mở tại NH. Vào thời điểm thích hợp, các giao diện sẽ đợc thiết lập với các hệ
thống khác nh các hệ thống ATM và POS và các hệ thống thanh toán bù trừ chứng
khoán và tất toán.
Hệ thống thanh toán tơng lai sẽ chuẩn bị cho việc chuyển tiền từ lúc khởi xuất tại
CN của các NH (thanh toán bù trừ) và việc chuẩn giá trị giữa các NH qua các TK
thanh toán mở tại NHNN (tất toán).
Hệ thống thanh toán sẽ phát triền đáp ứng cho toàn bộ các hình thức thanh toán
điện tử. Các hình thức này không đòi hỏi phải có các chứng từ thực để chuyển tiền. Tr-
ớc tiên, cần có các hình thức thanh toán điện tử sau:
Thanh toán ghi có chủ yếu để phục vụ nhu cầu của khách hàng công nghiệp th-
ơng mại và phục vụ cho hoạt động thanh toán liên hàng liên quan đến giao dịch thơng
mại trên thị trờng tài chính sắp thành lập.
Thanh toán ghi nợ uỷ nhiệm trớc chủ yếu là hối phiếu NH và ghi nợ trực tiếp.
Tạo ra một mạng lới thanh toán đủ mạnh để đáp ứng đợc các đòi hỏi sau của thị
trờng cũng nh của NHNN:
Đẩy mạnh tốc độ chu chuyển tiền tệ (từ 8-12 lần /GDP năm hiện nay lên 20-40
lần /năm) tạo điều kiện rút bớt vốn ra khỏi lu thông đa vào sản xuất.
Tinh giản đợc hệ thống tài khoản liên quan đến thanh toán đặc biệt là tài khoản
trong thanh toán chuyển tiền điện tử để tiết kiệm vốn thanh toán cho NH, tăng lợng
vốn cho vay, giải quyết dứt điểm tình trạng vừa thừa vốn vừa thiếu vốn trong nội bộ
một NH. Tuy nhiên, quá trình này không làm ảnh hởng đến việc thực thi các công cụ
tài chính của NHNN.
Tạo đợc các công cụ thanh toán mới có triển vọng trong thị trờng VN nh các
công cụ thanh toán POS, ATM hay Electronic Bank, nhằm đẩy nhanh quá trình thơng
ngay đợc với thực tế trớc mắt, vừa có tính chiến lợc lâu dài, đảm bảo cho việc phát
triển công nghệ trong tơng lai, tránh đợc những hụt hẫng so với thế giới. Đây là một
vấn đề hết sức quan trọng, có tính quyết định của thời đại sử dụng công nghệ hiện đại
trong trờng thơng mại điện tử thế giới đang phát triển nh vũ bão.
-Xây dựng hệ thống kho dữ liệu tập trung cũng nh hệ thống thanh toán dự phòng
trong từng hệ thống thanh toán và trung tâm thanh toán quốc gia.
-Kết nối hệ thống thanh toán của các NHTM với các khách hàng, thực hiện từng
bớc ngân hàng bán lẻ, trao đổi thông tin với khách hàng qua các mạng kết nối, các
trang Web...
-Các cơ chế mới về thanh toán điện tử và các văn bản có liên quan khác cần đợc
xây dựng và hoàn thiện không chỉ đối với các hoạt động thanh toán ngân hàng mà
trong phạm vi toàn nền kinh tế xã hội nh: chữ ký điện tử, bảo mật an toàn, xác thực
chữ ký điện tử, kiểm soát hệ thống...
-Cần hoàn thiện tổ chức quản lý, giám sát hệ thống thanh toán tại NHTW phù
hợp với yêu cầu của thanh toán tập trung, hiện đại.
-Xây dựng các Trung tâm thanh toán bù trừ khu vực và quốc gia về séc, các giấy
tờ có giá, nhanh chóng thực hiện việc bù trừ giá trị thấp trong hệ thống thanh toán điện
tử liên ngân hàng.
-Trong thời gian tới, tăng nguồn thu từ dịch vụ thanh toán lên 10% trong tổng
nguồn thu của Ngân hàng.
3.3 Một số giải pháp trớc mắt nhằm hoàn thiện công tác thanh toán chuyển tiền
điện tử tại CN NHCT Đống Đa.
3.3.1 Tiếp tục đẩy mạnh lợi thế việc áp dụng hệ thống thanh toán điện tử.
Có thể nói, việc xây dựng mạng thanh toán nội bộ khá hoàn chỉnh này tạo điều
kiện khá thuận lợi cho hệ thống NH nói chung và CN NHCT Đống Đa nói riêng trong
cạnh tranh trên thị trờng.
Việc phát huy sức mạnh của mạng phải luôn đợc quan tâm bằng các công việc
cụ thể sau:
-Phát triển các phần mềm mạng mới tiếp tục can thiệp sâu hơn vào công tác
thanh toán thủ công.
khang trang lắp đặt tơng đối đầy đủ hệ thống máy tính. Việc thuê đờng truyền riêng
của Tổng Công ty Bu chính viễn thông vừa đảm bảo tốc độ thanh toán cũng nh an toàn
tránh thất lạc file dữ liệu, ách tắc đờng truyền. NHCT VN đã thuê đờng truyền thông
X25 và đạt đợc kết quả tơng đối tốt. Nhng do đờng truyền dung lợng nhỏ trong khi
nhu cầu chuyển tiền ngày càng tăng nên nhiều khi việc truyền thông không thực hiện
đợc. NHCT VN cần sớm yêu cầu Tổng Công ty Bu chính viễn thông thay đổi đờng
truyền cũ bằng đờng truyền mới có dung lợng lớn chất lợng ổn định hơn để phục vụ
cho việc truyền số liệu nhằm đảm bảo thanh toán không còn ùn tắc để các khoản
chuyển tiền đến kịp tay khách hàng trong ngày.
Ngoài ra, để tiếp tục hoàn thiện hệ thống thanh toán điện tử, NH cần xúc tiến
việc phát triển các phần mềm tin học sao cho đảm bảo chuyển tiền nhanh hơn chính
xác hơn an toàn hơn và đảm bảo chống đợc sự xâm nhập trộm và tin tặc vào hệ thống.
NH có thể rà soát lại toàn bộ các trang thiết bị hiện có, tận dụng và nâng cấp các
thiết bị có thể đợc. Mặt khác, tiếp tục xin trang bị thêm máy vi tính mới phù hợp với
đòi hỏi của công việc, cần u tiên trang bị những máy móc có tốc độ xử lý cao cho công
tác thanh toán.
Việc đầu t trang thiết bị tin học có tốc độ cao, tơng thích giữa phần cứng và phần
mềm sẽ giúp NH tránh đợc hiện tợng tắc nghẽn trong thanh toán nhờ vậy sẽ thu hút đ-
ợc nhiều khách hàng đến giao dịch thanh toán với NH, từ đó nâng đợc vị thế của NH
trong thị trờng cạnh tranh.
NH cũng cần coi trọng công tác bảo dỡng các trang thiết bị vi tính, thờng xuyên
kiểm tra chạy thử các thiết bị dự phòng, bên cạnh đó, coi trọng công tác bảo mật và lu
trữ số liệu.
3.4.2 Chính sách chăm sóc khách hàng hợp lý.
Hoạt động của NH bắt đầu từ khách hàng và lớn lên nhờ tác động hai chiều giữa
nhu cầu khách hàng và năng lực đáp ứng của NH. Mối quan hệ NH- Khách hàng trở
thành mục tiêu chiến lợc đợc tổ chức một cách tế nhị. Dịch vụ thanh toán chuyển tiền
điện tử có đặc điểm là thờng xuyên có sự giao tiếp giữa nhân viên NH với khách hàng.
Vì thế, thái độ phục vụ và phong cách phục vụ của nhân viên là rất quan trọng. Nhận
thức đợc điều này trong những năm qua CN NHCT Đống Đa đã luôn quan tâm hớng
chuyển tiền với khối lợng lớn....
Đồng thời, để tạo điều kiện hơn nữa cho khách hàng, NH cần kéo dài hơn nữa
thời gian giao dịch chuyển tiền điện tử trong ngày, đơn giản thủ tục quy trình thực hiện
chuyển tiền xoá đi tâm lý ngại đến chuyển tiền qua NH ...
Tuyên truyền việc mở và sử dụng tài khoản cá nhân tới các tầng lớp dân c tạo
thói quen sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, tăng thanh toán qua
NH từ đó góp phần mở rộng phát triển thanh toán chuyển tiền điện tử.
CN NHCT Đống Đa cần tạo lập nghệ thuật kinh doanh: những khuyến khích vật
chất, tinh thần cho khách hàng vào những ngày lễ tết nh những món quà nhỏ, những tờ
quảng cáo về dịch vụ NH, thăm hỏi những khách hàng quen... NH có thể mở hội nghị
khách hàng mỗi năm đến một vài lần, mời những khách hàng có uy tín trong thanh
toán, những khách hàng truyền thống của NH, những khách hàng mới nhng rất uy tín
và hoạt động với số d lớn đến tham gia, từ đó cảm ơn họ, mời họ tiếp tục tham gia sử
dụng các dịch vụ NH đồng thời quảng cáo tuyên truyền những dịch vụ mới của NH và
những quy định mang tính nguyên tắc giải thích những thắc mắc cho khách hàng....
Một điểm đáng chú ý là khách hàng của CN NHCT Đống Đa thờng là các doanh
nghiệp nhà nớc, các doanh nghiệp lớn và vừa. Tuy nhiên các doanh nghiệp nhỏ và các
cá nhân có thu nhập cao đặc biệt khách hàng khu vực ngoài quốc doanh là những
khách hàng tiềm năng quan trọng. Vì thế, trong thời gian tới, CN NHCT Đống Đa cần
tăng cờng hơn nữa các biện pháp khuếch trơng quảng cáo thu hút thị trờng khách hàng
tiềm năng này (nh cung cấp một số dịch vụ miễn phí đi kèm với dịch vụ thanh toán
qua NH, cung cấp bảng sao kê hàng tháng hoặc theo yêu cầu t vấn về tài chính và kinh
doanh cho các doanh nghiệp nhỏ ....)
3.4.4 Đào tạo nguồn nhân lực.
Đây là một trong những giải pháp mang tính chiến lợc lâu dài nhất của công cuộc
hoàn thiện hệ thống thanh toán tại CN NHCT Đống Đa. Công tác này không chỉ là
việc đào tạo, tái đào tạo các cán bộ NH hiện đang làm việc mà còn là sự kết hợp chặt
chẽ với các trờng đại học cao đẳng để có đợc một đội ngũ cán bộ NH tơng lai đầy triển
vọng. Công việc đào tạo này đợc tiến hành đồng thời trên nhiều phơng diện cụ thể sau:
Trích khoảng 5% lợi nhuận hàng năm dùng cho công tác đào tạo cán bộ.
ký của kế toán giao dịch. Còn chứng từ chỉ đợc in ra khi lệnh chuyển tiền đã gửi tới
TTTT (tức là ngời kiểm soát đã kiểm soát song). Thực tế, khi ngời kiểm soát đã kiểm
soát song là in đợc lệnh chuyển tiền đi nên cũng không nên quy định chỉ in khi lệnh đã
chuyển đi. Nếu in ngay sau khi kiểm soát xong sẽ giúp cho việc kiểm soát lại giữa
lệnh chuyển tiền và chứng từ gốc chính xác hơn (vì khi kiểm soát giữa chứng từ gốc
với chơng trình máy tính nhìn bằng mắt thờng sẽ có những sai sót không phát hiện ra).
Nh vậy, chỉ nên quy định việc kiểm tra chữ ký của kế toán giao dịch và khi in
một lệnh chuyển tiền lu kèm chứng từ gốc chuyển tiền thì phải kiểm tra xem có đầy đủ
chữ ký của kế toán giao dịch, kế toán chuyển tiền và chữ ký của kiểm soát.
Các lệnh chuyển tiền đến thiết kế in 03 liên quy định 01 liên hạch toán Nợ-Có
đóng vào nhật ký chứng từ, 01 liên lu kèm báo cáo chuyển tiền trong ngày, 01 liên
dùng làm báo nợ báo có cho khách hàng.
Quy định nh trên là cha hợp lý vì nếu là chứng từ thanh toán chuyển tiếp thì phải
in thêm một liên. Để kế toán chuyển tiền in thì đợc 01 liên bản sao, mà để kiểm soát
tạo lại bản gốc thì in thêm 03 liên nữa gây ra sai sót, khó khăn cho việc theo dõi kiểm
tra. Còn nếu không chuyển tiếp thì một liên hạch toán Nợ-Có sẽ kèm với Báo cáo
chuyển tiền đến trong ngày, 01 liên lu kèm phụ lục Bảng đối chiếu chuyển tiền đến
trong ngày và đều nằm trong tâp 5 chuyển tiền điện tử của tập nhật ký chứng từ ngày.
Nh vậy, nếu quy định lu trữ theo cách này sẽ trùng lặp, nên chăng một liên lu kèm
Báo cáo chuyển tiền trong ngày không đóng vào nhật ký chứng từ mà hàng ngày
giao cho kế toán chuyển tiền lu giữ và quản lý để tiện cho việc tra soát các sai sót.
Đối với chứng từ chuyển tiền thanh toán liên hàng bằng th thì khách hàng phải
nộp vào NH 04 liên, nếu chuyển tiền qua mạng vi tính thì khách hàng phải nộp 03 liên,
còn đối với chuyển tiền điện tử hiện nay thì chỉ cần nộp có 02 liên. Do vậy, chứng từ
gốc làm cơ sở để lập lệnh chuyển tiền nhất thiết phải là một liên để tránh chuyển tiền
hai lần của một món chuyển. Tuy nhiên, đối với chứng từ lập trên máy tính thì các liên
giống nhau nên cũng cần quy định thứ tự các liên vào góc trên bên phải để dễ kiểm
soát.
3.4.7 Giải pháp về thực hiện phơng thức thanh toán thống nhất.
Theo công văn 650 ngày 16/03/1999 của NHCT VN đã quy định: các khoản