Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm tiền
vay tại Chi nhánh ngân hàng NN&PTNT Láng Hạ
1. Định hớng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Láng
Hạ năm 2005
Với kết quả hoạt động kinh doanh trong năm 2004 đợc đánh giá là khá thành
công, Chi nhánh Láng Hạ đã đúc rút kinh nghiệm và xây dựng một chiến lợc kinh
doanh cho năm 2005 để có thể tiếp tục duy trì và nâng cao thành tích hoạt động
hơn nữa. Cụ thể là:
Để mở rộng mạng lới huy động nguồn vốn, chi nhánh dự kiến mở rộng thêm
02 phòng giao dịch và 01 chi nhánh II tại các địa điểm phù hợp. Đồng thời, triển
khai nghiên cứu các sản phẩm mới nh tiết kiệm gửi góp, chứng chỉ tiền gửi,
cũng nh thờng xuyên quan tâm đến công tác chăm sóc khách hàng nhằm thu hút
lợng tiền gửi của khách hàng.
Trong công tác tín dụng, chi nhánh phấn đấu duy trì tỷ lệ d nợ trung và dài
hạn chiếm khoảng 45% tổng d nợ. Mở rộng cho vay đối với các thành phần kinh
tế, đặc biệt là thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, cho vay tiêu dùng và cho vay
cầm cố giấy tờ có giá, cho vay hộ gia đình. Trong các năm tới, chi nhánh cũng dự
kiến sẽ tăng tỷ lệ cho vay có bảo đảm bằng tài sản nhất là đối với cho vay trung
dài hạn, và đồng thời nâng cao khả năng quản lý tín dụng, đảm bảo an toàn vốn
vay. Để đạt đợc điều này, Chi nhánh Láng Hạ cần phải chủ động tìm kiếm các dự
án có hiệu quả để đầu t, thực hiện đúng qui trình và biện pháp cho vay. Đồng thời,
tăng cờng công tác tiếp thị mở rộng và phát triển thị phần đầu t tín dụng, coi trọng
khách hàng truyền thống và các công ty có uy tín trên thị trờng để tăng d nợ an
toàn.
Ngoài ra cũng cần phải chú trọng đến công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ
một cách hợp lý. Thực hiện kiểm tra, kiểm soát nội bộ thờng xuyên, đảm bảo kinh
doanh an toàn. Thực hiện đầu t đúng hớng, đúng mục đích, góp phần làm lành
mạnh hoá hoạt động tài chính tín dụng ngân hàng.
Riêng đối với công tác bảo đảm tiền vay, do có chỉ thị mới của Chính phủ yêu
cầu các ngân hàng tăng cờng áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản đối với tất
cả các khoản vay kể cả đối với các Doanh nghiệp nhà nớc và qui định trách nhiệm
của tài sản bảo đảm sẽ giúp ngân hàng ra đợc quyết định cho vay đúng đắn, vừa tạo đợc mối quan hệ với khách
hàng vừa đảm bảo đợc an toàn. Một trong những hạn chế nh đã nêu trên của chi nhánh chính là việc định giá tài
sản bảo đảm chủ yếu dựa vào tính chủ quan của cán bộ tín dụng, nên khả năng chính xác là không cao, khi gặp
rủi ro thì giá trị thanh lý của tài sản bảo đảm không đủ để thu hồi nợ gốc và lãi. Do đó, để quá trình thẩm định
giá trị tài sản bảo đảm có chất lợng thì chi nhánh cần phải sử dụng một số biện pháp nh: Xây dựng một số tiêu
thức đánh giá giá trị của tài sản bảo đảm dựa trên những thông tin xác thực, có căn cứ khoa học; Lập ra hội đồng
định giá tài sản để có quyết định chính xác hơn, có thông tin đầy đủ hơn về tài sản, bởi vì việc định giá tài sản là
việc khá phức tạp đòi hỏi một số đông ngời tham gia thẩm định để đạt độ chính xác và an toàn cao. Đồng thời
ngân hàng cũng cần phải dự tính đợc mức độ rủi ro để xác định giá trị của tài sản đảm Ngoài ra, chi nhánh cũng
cần phải chú trọng nhiều đến công tác thu thập thông tin về tài sản bảo đảm nh các giấy tờ có liên quan đến tài
sản đó, các thông số kỹ thuật, đặc điểm chung của tài sản, điều tra thị trờng giá cả của tài sản đó và so sánh với
giá trị của tài sản mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng.
2.1.2. Đa dạng hoá các loại tài sản bảo đảm
Chúng ta đã thấy ở trên, danh mục tài sản bảo đảm của chi nhánh chỉ giới hạn trong những tài sản thông
dụng và có độ an toàn cao nh kỳ phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm, nhà ở, quyền sử dụng đất, ôtô, máy móc thiết bị,
còn các loại tài sản khác nh hàng hoá, các khoản phải thu, hợp đồng bán hàng, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng
nhận thầu hầu nh là cha xuất hiện. Đây là những loại tài sản cầm cố có rất nhiều u điểm. Chẳng hạn nh cầm cố
hàng hoá thì việc thanh lý hàng hoá sẽ nhanh và dễ dàng hơn bất động sản, đồng thời cũng giúp cho doanh
nghiệp thực hiện dự trữ vật t hàng hoá theo chu kỳ thời vụ nhằm ổn định sản xuất và đáp ứng đợc yêu cầu của thị
trờng. Hay nh việc cầm cố bằng vàng, trong cho vay đối với cá nhân có u điểm rõ nét. Bởi vì vàng đợc ký gửi và
bảo quản tại ngân hàng, trong khi đó ngân hàng lại có nghiệp vụ kinh doanh vàng, đây sẽ là một thuận lợi cho
việc phân kim vàng làm cơ sở để xác định mức cho vay. Hiện nay, việc mua bảo hiểm nhân thọ đối với các cá
nhân là rất phổ biến, giá trị của hợp đồng cũng khá cao. Do đó, việc ngân hàng nhận cầm cố hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ sẽ tơng đối thuận tiện vì tính thanh khoản cao và ít tốn kém về chi phí quản lý, đồng thời thu hút đợc số
lợng khách hàng mới.
Tuy nhiên, đối với mỗi hình thức bảo đảm mới cũng đòi hỏi ngân hàng phải tốn thêm chi phí nghiên cứu
để triển khai áp dụng và độ an toàn không cao bằng các tài sản thông dụng, nhng nếu nh đã có cơ sở vật chất bớc
đầu thì sẽ giúp ích rất nhiều cho hoạt động kinh doanh về sau. Đây có thể đợc coi là bớc đầu t cho một hoạt động
lâu dài có hiệu quả. Khi mà danh mục tài sản bảo đảm đợc đa dạng hoá thì tất yếu sẽ thu hút đợc nhiều khách
hàng tham gia vay vốn hơn, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các cá nhân tiêu dùng. Đặc biệt là
điều chỉnh. Trong nhiều trờng hợp, việc xử lý tài sản bảo đảm gặp phải khó khăn về thủ tục pháp lý, hay nh chủ
tài sản không chịu giao tài sản cho ngân hàng xử lý nh đã cam kết, ngân hàng không đợc giúp đỡ của các cơ
quan chức năng trong việc thu hồi tài sản bảo đảm,Hơn thế nữa, việc phát mại tài sản có khi phải tốn rất nhiều
chi phí, hoặc tài sản không có thị trờng tiêu thụ làm cho giá trị phát mại của tài sản bảo đảm không đủ để bù đắp
giá trị khoản vay. Do đó, ngân hàng cần phải thực hiện tốt khâu xử lý tài sản bảo đảm này thì mới có thể đạt đợc
mục đích của bảo đảm tiền vay. Trong trờng hợp tài sản bảo đảm cha đợc quyết định xử lý thì ngân hàng có thể
sử dụng một số biện pháp nh: cho thuê, góp vốn liên doanh, cải tạo xây dựng thành cơ sở phục vụ cho hoạt động
kinh doanh của ngân hàng,để tăng thêm thu nhập lại giảm bớt chi phí bảo quản tài sản đó.
2.2. Nhóm giải pháp đối với cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
2.2.1. Lựa chọn khách hàng thích hợp để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
Không phải đối với bất kỳ khách hàng nào ngân hàng cũng yêu cầu phải có
tài sản bảo đảm, bởi vì nếu áp dụng quá cứng nhắc nguyên tắc bảo đảm an toàn
này có thể dẫn đến tình trạng đông cứng vốn của ngân hàng, mất đi những khách
hàng tiềm năng. Tuy nhiên, việc quyết định cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản cần phải đợc thực hiện cẩn trọng, vì tiềm ẩn rủi ro cao. Mặc dù, tại chi nhánh
tỷ lệ cho vay này lại chiếm phần lớn, nhng chủ yếu là cho vay đối với các Doanh
nghiệp nhà nớc, cho vay theo chỉ định của Chính phủ, các thành phần khác hầu
nh cha đợc áp dụng biện pháp này. Trong chiến lợc dài hạn, thiết nghĩ chi nhánh
nên giảm bớt tỷ trọng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với các DNNN
vì các doanh nghiệp này hiện nay làm ăn ít có hiệu quả, đồng thời tăng lỷ lệ này
lên đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có uy tín, làm ăn có hiệu quả.
Để thực hiện đợc điều này thì chi nhánh cần phải xây dựng đợc một hệ thống
chỉ tiêu đánh giá khách hàng cụ thể phù hợp với tình hình hoạt động của chi
nhánh. Hiện nay, trong quyển sổ tay tín dụng Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam
có đa ra các tiêu chí xếp hạng tín dụng khách hàng khá đầy đủ và chi tiết, đây có
thể đợc coi là cẩm nang hớng dẫn cho cán bộ tín dụng thực hiện các khâu trong
quá trình cho vay. Chi nhánh có thể áp dụng để xếp hạng khách hàng từ đó có thể
quyết định xem loại khách hàng nào có thể đợc áp dụng cho vay không có bảo
đảm bằng tài sản. Thông thờng, do có độ an toàn cao thì những khách hàng thuộc
loại, AA, A sẽ đợc xét cho vay tín chấp. Đó là những doanh nghiệp hoạt động rất