Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng thơng mại nớc ta đã có những
thay đổi đáng kể, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nớc. Hoạt động của các ngân hàng đã từng bớc đợc hoàn thiện hơn, đa dạng và
phong phú hơn, thu hút đợc đông đảo các tầng lớp dân c cũng nh các loại hình
doanh nghiệp tham gia vào quá trình chu chuyển vốn trong các hoạt động kinh tế.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn ( NN&PTNT ) Việt Nam là
một trong những ngân hàng thơng mại quốc doanh lớn nhất nớc ta với hệ thống
chi nhánh trên khắp các tỉnh thành trong cả nớc, trong thời gian qua đã khẳng định
đợc vị thế trên lĩnh vực hoạt động chủ yếu của mình - nông nghiệp và nông thôn.
Tuy nhiên, tại thị trờng thành thị ngân hàng NN&PTNT Việt Nam cũng nỗ lực
tiếp cận và từng bớc chiếm lĩnh với sự ra đời của Chi nhánh ngân hàng NN
&PTNT Láng Hạ - đánh dấu bớc phát triển về lợng và chất của hệ thống ngân
hàng NN &PTNT Việt Nam trên địa bàn Thủ đô Hà Nội .
Nh chúng ta đã biết, tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song lại hàm chứa
rủi ro cao nhất cho Ngân hàng thơng mại. Rủi ro tín dụng khi xảy ra ở mức độ lớn
và không có khả năng khắc phục thì có thể dẫn đến sự đổ vỡ của ngân hàng và trên
diện rộng sẽ kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống tài chính, gây nên khủng hoảng
kinh tế nghiêm trọng. Trong khi đó, rủi ro tín dụng thì không thể loại trừ, nó đợc
coi là bạn đồng hành của nhà kinh doanh, chỉ có thể hạn chế, đề phòng. Một trong
những biện pháp mà các ngân hàng thờng áp dụng để hạn chế rủi ro tín dụng đó
chính là xử dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay. Hiện nay, bảo đảm tiền vay đợc
coi nh là một khâu không thể thiếu đợc khi ngân hàng phân tích ra quyết định cho
vay đối với khách hàng, giúp các ngân hàng đa ra đợc quyết định chính xác và có
chất lợng.
Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng NN&PTNT Láng Hạ, đợc tiếp xúc tìm
hiểu công tác thực tế của Chi nhánh, đặc biệt là hoạt động tín dụng, mặc dù chất l-
ợng tín dụng của Chi nhánh qua các năm là tơng đối tốt nhng em nhận thấy công
Vũ Thị Thành Lâm 1 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
lớn cũng sẽ tiềm ẩn khả năng rủi ro cao, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng thơng mại. Nhiều quan điểm cho rằng, rủi ro trong hoạt động tín dụng
là không thể tránh khỏi, là khách quan có thể đề phòng chứ không thể loại trừ, nh-
ng lại có ảnh hởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Hoạt
động tín dụng nh chúng ta đã biếtlà việc tổ chức tín dụng giao cho khách hàng
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo đó, nếu nh nguyên tắc hoàn trả bị
vi phạm thì rủi ro tín dụng xảy ra. Đó chính là tình trạng ngời đi vay không có
khả năng hoàn trả đợc hoặc lãi, hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc một cách đầy đủ,
đúng hạn. Chính vì vậy, quan hệ tín dụng thờng đợc thể hiện trong các hợp đồng
tín dụng nhằm đa ra các điều khoản thi hành, các cam kết thực hiện một cách tự
nguyện bình đẳng giữa ngời cho vay và ngời đi vay. Hợp đồng tín dụng này chính
là cơ sở pháp lý để thực hiện các nghĩa vụ của hai bên khi tham gia hoạt động tín
dụng. Nó cũng là cơ sở pháp lý để thực hiện các bảo đảm tín dụng hay còn gọi là
bảo đảm tiền vay. Nh vậy bảo đảm tiền vay đợc hình thành trên cơ sở từ hợp đồng
tín dụng đã đợc thông qua của chủ thể tham gia hoạt động tín dụng không nằm
Vũ Thị Thành Lâm 3 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
ngoài mục tiêu chính của ngân hàng là an toàn và sinh lợi. Từ cách hiểu trên ta có
thể thấy bảo đảm tiền vay chính là việc ngân hàng áp dụng các biện pháp đối với
khách hàng để khoản vay có thể trở về với ngân hàng một cách an toàn và có lợi.
Hiểu một cách đơn giản, bảo đảm tiền vay là đảm bảo cho khoản tiền ngân hàng
phát ra để cho vay có khả năng thu hồi đợc khi đến hạn.
Theo Nghị định 178/1999/NĐ_CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín
dụng thì Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm
phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho
khách hàng vay. Nh vậy, thực chất bảo đảm tiền vay là một trong những biện
pháp để phòng ngừa rủi ro của tổ chức tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng đa ra
các hình thức bảo đảm thích hợp áp dụng cho từng đối tợng khách hàng và biện
pháp xử lý các bảo đảm đó nhằm hạn chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra.
Đây chính là những tác động bất lợi của môi trờng kinh tế, chính trị xã hội, môi
trờng pháp lý và môi trờng tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách
hàng. Những nguyên nhân này có thể là sự thay đổi của chính phủ trong chính
sách phát triển kinh tế, xã hội, sự biến động của chính trị trong nớc tại thời điểm
khách hàng vay vốn hay nh chiến tranh, thiên tai, dịch hoạ xảy ra bất ngờ đều có
thể làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của ngời vay bị ngừng trệ, hay thất bại
mà không đợc dự tính trớc. Nếu sự ảnh hởng đến ngời vay là nặng nề thì khả năng
trả đợc nợ vay của họ là rất ít.
Một nguyên nhân quan trọng nữa cần phải nhắc đến đó là những nguyên nhân
thuộc về chính bản thân ngân hàng. Các cán bộ tín dụng chính là ngời ra quyết
định cho vay, là ngời trực tiếp tham gia xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng.
Những đánh giá của cán bộ tín dụng chính là cơ sở đầu tiên để ra quyết định cho
vay. Nếu chất lợng cán bộ tín dụng kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng
hoặc đánh giá không đúng về khách hàng hoặc cố tình làm sai tiếp tay cho khách
hàng gian lậnchính là những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến rủi ro tín dụng.
Những nguyên nhân trên bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan đối
với ngân hàng và khách hàng nên ngân hàng không thể kiểm soát đợc hoàn toàn
rủi ro xảy ra. Chúng ta chỉ có thể phòng ngừa chứ không thể loại trừ đợc rủi ro tín
dụng xảy ra. Một trong những biện pháp phòng ngừa đợc áp dụng ngay trong
khâu đầu tiên của quá trình cho vay đó là sử dụng bảo đảm tiền vay. Bảo đảm tiền
Vũ Thị Thành Lâm 5 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
vay đợc coi là nguồn thu nợ thứ hai sau khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lu chuyển
tiền tệ) không thể thanh toán đợc. Khi hợp đồng bảo đảm tiền vay đợc thực hiện,
đó chính là cơ sở pháp lý để ngân hàng có thể thu hồi đợc nợ một cách chắc chắn,
hoặc cũng góp phần làm giảm tổn thất khi khách hàng không trả đợc nợ. Mặc dù
vậy, nhng không phải khi yêu cầu tài sản bảo đảm của một khách hàng là ngân
hàng muốn xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ mà ngân hàng chỉ muốn có một sự
cam kết ràng buộc trách nhiệm lớn hơn đối với khoản vay của khách hàng. Ngân
hàng luôn mong muốn khách hàng của mình làm ăn có hiệu quả để trả nợ vay chứ
hàng dễ dàng hơn trong việc vay vốn khi mà các thông tin khác cha đợc ngân
hàng kiểm nghiệm. Đồng thời, việc thực hiện tốt bảo đảm tiền vay cũng là bớc
đầu tiên thiết lập mối quan hệ tin tởng với ngân hàng, làm cơ sở cho những lần
vay tiếp theo. Nh vậy với sức ép của bảo đảm tiền vay, có thể là giá trị của tài sản
bảo đảm hay sức ép của bên thứ ba bảo lãnh, cùng với việc lấy đợc uy tín với
ngân hàng, sẽ khiến cho khách hàng có trách nhiệm hơn trong việc sử dụng vốn
vay, có ý thức hơn trong việc trả nợ vay ngân hàng, đồng thời tránh đợc sự gian
lận trong ý định vay vốn của khách hàng.
Nh vậy, việc ngân hàng yêu cầu bảo đảm tiền vay vừa giúp ngân hàng hạn chế
đợc rủi ro tín dụng có thể xảy ra vừa giúp khách hàng có trách nhiệm hơn đối với
khoản tiền mình đã vay.
1.3. Các nguyên tắc và đặc trng của bảo đảm tiền vay.
Khi thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay, ngân hàng và khách hàng cần phải
xem xét các qui tắc áp dụng chung nhất để có thể đa ra đợc quyết định cho vay và
vay một các hợp lý nhất. Dới đây là những nguyên tắc chủ yếu đợc quy định trong
Nghị định 178/1999/NĐ-CP :
Ngân hàng có quyền lựa chọn và quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài
sản hoặc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản và chịu trách nhiệm về quyết
định của mình. Trong trờng hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ
định của Chính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản cho
vay này sẽ đợc Chính phủ xử lý. Trờng hợp cho vay không có đảm bảo bàng tài
sản, song trong quá trình xử dụng vốn vay, ngân hàng phát hiện khách hàng vay
vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng có quyền yêu cầu khách
hàng vay thực hiện các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trớc hạn.
Vũ Thị Thành Lâm 7 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
Trờng hợp khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh vẫn không thực hiện hợp đồng
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết, ngân hàng có quyền xử lý
tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay,
nếu khách hàng hoặc bên bảo lãnh vẫn cha thực hiện đúng hoặc thực hiện cha đủ
bảo đảm nhằm thu nợ khi ngời đi vay không thanh toán đúng hạn.
Trên đây là những quy định và nguyên tắc chủ yếu mà ngân hàng thờng phải
xem xét khi thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay. Tuy nhiên, trong từng hình
thức bảo đảm tiền vay khác nhau mà ngân hàng có những quy định riêng có khác.
Chúng ta sẽ xem xét các hình thức bảo đảm tiền vay cụ thể dới đây mà các ngân
hàng thờng sử dụng.
1.4. Các hình thức bảo đảm tiền vay
Thông thờng có hai hình thức bảo đảm tiền vay chủ yếu mà các ngân hàng áp
dụng đối với khách hàng vay là bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân hay còn gọi
là bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm bằng tín chấp. Tuỳ từng khách hàng mà ngân
hàng có thể lựa chọn cho vay theo hình thức nào cho phù hợp, để vừa giữ đợc
khách hàng vừa đảm bảo đợc mục tiêu kinh doanh của ngân hàng là an toàn và
sinh lợi.
1.4.1.Bảo đảm đối vật hay bảo đảm bằng tài sản.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là hình thức bảo đảm mà ngân hàng áp dụng với
khách hàng vay vốn, trong đó ngân hàng đóng vai trò là chủ nợ, đợc hởng một số
quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng là con nợ, nhằm làm căn cứ
thu hồi nợ trong trờng hợp con nợ không trả hoặc không có khả năng trả nợ. Hay
nói một cách đơn giản hơn, cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay mà
theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đợc cam kết bảo đảm thực hiện bằng
tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng hoặc bảo
lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Nh vậy, việc bảo đảm bằng tài sản giúp cho
ngân hàng tránh đợc rủi ro mất hoàn toàn vốn, đồng thời đem lại cho ngân hàng
quyền u tiên khi phát mại tài sản so với các chủ nợ khác của khách hàng nếu
khách hàng vay không có khả năng trả đợc các khoản nợ đã vay. Tuy nhiên,
không phải bất kỳ tài sản nào cũng có thể dùng làm bảo đảm tiền vay. Tài sản
dùng làm bảo đảm tiền vay phải đáp ứng đủ 4 điều kiện dới đây:
Vũ Thị Thành Lâm 9 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
Thuộc quyền sở hữu, quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay hoặc bên
của luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trờng hợp đợc thế chấp.
- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật. Hoa lợi, lợi tức và các quyền
phát sinh từ tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp, nếu ngân hàng và khách
hàng có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định, trờng hợp tài sản thế chấp đợc bảo
hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp.
- Trờng hợp thế chấp toàn bộ tài sản có vật phụ thì vật phụ đó cũng thuộc tài
sản thế chấp. Trong trờng hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụ, thì vật
phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp khi có sự thoả thuận với khách hàng.
Nh vậy những tài sản đem thế chấp chủ yếu là những bất động sản thuộc sở hữu
của khách hàng. Những tài sản này thờng cồng kềnh, phân tán và khó di dời. Hơn
nữa việc bán hoặc chuyển nhợng cũng không đơn giản. Tuy nhiên giá trị của loại
tài sản này thờng lớn nên giá trị khoản vay mà khách hàng muốn vay sẽ cao hơn.
Đồng thời nó cũng là những tài sản chủ yếu mà một doanh nghiệp hay ngời tiêu
dùng có để bắt đầu quá trình sản xuất hay sinh sống. Vì vậy mà hình thức bảo
đảm bằng thế chấp là rất phổ biến.
Đảm bảo bằng thế chấp cho phép ngời nhận tài trợ vẫn đợc sử dụng tài sản của
mình để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy mà hao mòn
trong quá trình sử dụng tài sản sẽ làm giảm giá trị của tài sản. Hơn nữa, do vẫn
còn nằm trong tay khách hàng nên ngân hàng không thể kiểm soát đợc hoàn toàn
tài sản bảo đảm, khách hàng có thể lợi dụng phân tán tài sản, gây tổn thất đối với
tài sản, làm thiệt hại đến giá trị của tài sản gây tổn thất cho ngân hàng. Do đó, khi
thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp ngân hàng phải xem xét kỹ vật
thế chấp, các mô tả vật thế chấp phải đợc ghi trong hợp đồng bảo đảm.
Khi cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, thì việc định giá tài sản thế chấp
là một vấn đề khá phức tạp. Về nguyên tắc việc định giá tài sản thế chấp phải theo
giá thị trờng, mà giá cả thị trờng thì lại luôn biến động, khó xác định chính xác đ-
ợc biên độ giao động của giá. Trong khi đó, nếu định giá cao hơn giá thị trờng có
thể sẽ dẫn đến khi phát mại tài sản thế chấp( hoặc chuyển quyền sở hữu cho ngân
hàng) trong trờng hợp khách hàng không trả đợc nợ , không thu hồi đủ nợ gốc, lãi
Vũ Thị Thành Lâm 11 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
- Tài sản hình thành trong tơng lai là động sản hình thành sau thời gian ký
kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố nh hoa lợi, lợi tức,
tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận
- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
Các tài sản cầm cố trên chủ yếu là những tài sản gọn nhẹ, dễ quản lý, ít chịu
ảnh hởng của yếu tố môi trờng tự nhiên. Ngân hàng thờng yêu cầu cầm cố những
tài sản này khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài sản bảo đảm là không an
toàn cho ngân hàng vì nó thờng là những tài sản dễ bán, dễ chuyển nhợng và khó
kiểm soát đợc việc bán, chuyển nhợng hay không. Các tài sản có thể cầm cố đợc
thờng phong phú hơn các tài sản đem thế chấp và thờng an toàn hơn vì ngân hàng
đợc nắm giữ tài sản của khách hàng và tài sản lại có khả năng chuyển đổi thành
tiền cao. Ngân hàng sẽ đợc u tiên thanh toán từ tiền bán tài sản cầm cố sau khi trừ
chi phí bảo quản và bán đấu giá.
Khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng cầm cố, ngân hàng cần phải kiểm tra tính
hợp lệ, hợp pháp, an toàn của vật cầm cố nh quyền sở hữu của khách hàng, khả
năng chi trả của ngời cam kết đối với vật cầm cố, giá trị thị trờng khi phát mại
để đảm bảo an toàn và giảm tổn thất từ tài sản bảo đảm.
1.4.1.2. Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay
dùng tài sản hình thành từ tiền vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
chính khoản vay đó đối với Tổ chức tín dụng (TCTD). Trong đó tài sản hình thành
từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản đợc tạo nên bởi một
phần hoặc toàn bộ khoản vay của TCTD. Thực chất đây cũng là hình thức bảo
đảm bằng cầm cố hay thế chấp tài sản. Nhng tài sản bảo đảm trong trờng hợp này
đợc hình thành sau khi khoản vay đã đợc chấp nhận, khi thực hiện hợp đồng đảm
bảo thì tài sản bảo đảm cha đợc hình thành. Do đó, để áp dụng hình thức cho vay
này thì khách hàng vay và cả tài sản hình thành từ vốn vay phải đáp ứng một số
điều kiện cụ thể nh:
Vũ Thị Thành Lâm 13 Lớp Ngân hàng 43B
nh: Bên bảo lãnh phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo
Vũ Thị Thành Lâm 14 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
quy định của pháp luật. Đồng thời phải có tài sản đủ điều kiện để tham gia bảo
đảm tiền vay nh đã nói ở trên. Để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, bên bảo lãnh phải
cầm cố, thế chấp tài sản tại ngân hàng.
Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản thờng đợc ngân hàng áp dụng với hầu
hết các khách hàng vì mục tiêu an toàn của ngân hàng nhằm hạn chế tổn thất cho
khoản vay đã phát ra. Tuy nhiên, còn một số bộ phận khách hàng khác, mà ngân
hàng không áp dụng biện pháp này vì họ không tiềm ẩn rủi ro cao, ngân hàng sẽ
sử dụng hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, hay thực ra là có bảo
đảm nhng bằng chính bản thân khách hàng, còn gọi là bảo đảm đối nhân.
1.4.2. Đảm bảo đối nhân hay cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
Ngân hàng không phải lúc nào cũng yêu cầu khách hàng vay phải có tài sản
bảo đảm nhất là đối với những khách hàng có uy tín, khách hàng truyền thống.
Hình thức đảm bảo này chính là đảm bảo đối nhân, tức là ngân hàng cho khách
hàng vay dựa trên chính uy tín của khách hàng hoặc có sự đảm bảo bằng uy tín và
khả năng tài chính của ngời thứ ba. Nh vậy có hai biện pháp cho vay trong hình
thức bảo đảm thứ hai này. Đó là:
1.4.2.1. Bảo đảm bằng uy tín của khách hàng vay.
Ngân hàng thờng áp dụng biện pháp cho vay này đối với các khách hàng có uy
tín, làm ăn thờng xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng
nợ nần, dây da, có phơng án sản xuất kinh doanh hiệu quả, dự án khả thi và phù
hợp với các qui định của pháp luật, hay những khách hàng truyền thống, quan hệ
lâu dài với ngân hàng mà không tồn đọng nợ quá hạn; hoặc những khoản cho vay
theo chỉ định của Chính phủ. ở đây có thể hiểu uy tín của khách hàng bao gồm cả
uy tín về thanh toán và uy tín về tiềm lực tài chính. Các khách hàng có tiềm lực
tài chính trên thị trờng thờng là những doanh nghiệp lớn, làm ăn có hiệu quả và
xác suất không trả nợ vay là rất thấp. Nhng ngân hàng thờng quan tâm hơn đến uy
tín về thanh toán của khách hàng hơn. Đối với những khách hàng rất đúng hạn
Thực chất việc cho vay này cũng là một hình thức cho vay không có tài sản bảo
đảm nhng thông qua ngời thứ ba, cũng có thể coi là con nợ của ngân hàng.
Tóm lại, căn cứ vào năng lực tài chính của khách hàng vay, tính khả thi và hiệu
quả khoản vay và tình hình thực tế, ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng một hoặc
Vũ Thị Thành Lâm 16 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
một số biện pháp bảo đảm tiền vay trên đây. Tuy nhiên, trong bất kỳ trờng hợp
nào thì ngân hàng cũng đều phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Do đó,
ngân hàng và khách hàng cần tìm hiểu kỹ mỗi u, nhợc điểm của các biện pháp để
giúp cho quá trình ra quyết định đợc thuận lợi và đúng đắn.
1.5. Xử lý tài sản bảo đảm.
Khi yêu cầu tài sản bảo đảm là ngân hàng muốn chắc chắn có nguồn thu nợ thứ
hai khi mà nguồn thu nợ chính từ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng
không trả đợc. Do đó, khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay, hoặc bên bảo lãnh
không đợc thực hiện thì tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại ngân hàng sẽ đợc xử
lý để thu hồi nợ. Việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ đợc thực hiện theo phơng thức đã
thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng trong hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng
bảo đảm đợc thực hiện trớc đó. Trong trờng hợp không xử lý đợc tài sản theo ph-
ơng thức đã thoả thuận thì ngân hàng có quyền chủ động lựa chọn áp dụng một
hoặc một số các phơng thức xử lý tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ:
- Bán tài sản bảo đảm: ngân hàng có thể bán tài sản bảo đảm trực tiếp cho ngời
mua trên thị trờng.
- Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ đợc đảm
bảo: Lúc này tài sản bảo đảm sẽ thuộc sở hữu của ngân hàng thay vì không thu
hồi đợc khoản vay của khách hàng.
- Uỷ quyền bán đấu giá tài sản cho trung tâm bán đấu giá hoặc doanh nghiệp
bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
- Uỷ quyền hoặc chuyển giao cho tổ chức có chức năng mua bán tài sản để bán
- Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên
bảo lãnh: là việc ngân hàng trực tiếp nhận khoản tiền hoặc tài sản mà bên thứ ba
hồi lại với giá trị lớn hơn ban đầu. Có thể hiểu, hiệu quả kinh tế là phạm trù phản
ánh trình độ và khả năng đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh
tế xã hội nhất định với chi phí nhỏ nhất nhằm thu đợc kết quả cao nhất. Ngân
hàng thơng mại cũng chỉ là một doanh nghiệp kinh doanh nên cũng mong muốn
có đợc hiệu quả trong bất kỳ hoạt động nào của mình, đặc biệt là trong hoạt động
tín dụng và công tác bảo đảm tiền vay. Khi quyết định cho vay ngân hàng luôn
mong muốn sẽ thu hồi đợc cả gốc và lãi đúng hạn. Để đạt đợc điều này thì ngân
Vũ Thị Thành Lâm 18 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
hàng cần phải làm tốt các khâu kiểm tra trớc khi ra quyết định cho vay. Công tác
thực hiện bảo đảm tiền vay cũng là một trong những khâu mà ngân hàng mong
muốn đạt đợc hiệu quả cao nhất. Bởi vì, công tác bảo đảm tiền vay mà đạt hiệu
quả tốt sẽ giúp ngân hàng tránh đợc tổn thất lớn khi rủi ro tín dụng xảy ra. Đồng
thời cũng sẽ làm cho khách hàng có trách nhiệm hơn đối với khoản vay, có ý chí
chi trả nợ cao hơn, hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng đầy đủ và đúng hạn.
Nh vậy, hiệu quả bảo đảm tiền vay phản ánh những khoản mà ngân hàng cho
khách hàng vay, đợc bảo đảm bằng các hình thức thích hợp sẽ trở về ngân hàng
đúng hạn và đầy đủ cả gốc và lãi. Do đó, hiệu quả của công tác bảo đảm tiền vay
có ảnh hởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nếu thực hiện
không tốt rất có thể sẽ là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng trong việc thu hồi
nợ vay, dẫn đến khả năng mất vốn, với mức độ tổn thất lớn sẽ gây mất khả năng
thanh toán của ngân hàng đối với khách hàng gửi tiền. Và do đó, sẽ làm giảm uy
tín đối với khách hàng gây tâm lý rút tiền hàng loạt, ngân hàng có thể bị dẫn đến
chỗ phá sản. Mà hoạt động ngân hàng mang tính xã hội hoá cao nên nó cũng ảnh
hởng tới toàn bộ hệ thống nền kinh tế. Chính vì vậy đòi hỏi ngân hàng khi thực
hiện công tác bảo đảm tiền vay phải chú trọng đến vấn đề đạt đợc hiệu quả.
Tuy nhiên, để đạt đợc hiệu quả bảo đảm tiền vay đòi hỏi ngân hàng cũng phải
thực hiện tốt rất nhiều công tác khác nh thẩm định khách hàng, xếp hạng tín dụng
khách hàng chuẩn xác, kiểm tra giám sát khách hàng sử dụng khoảnvay và quá
trình bảo quản các tài sản bảo đảm tránh trờng hợp xảy ra tổn thất cũng nh làm tốt
ngân hàng. Nếu cán bộ cố tình đánh giá sai giá trị tài sản bảo đảm sẽ dẫn đến việc
đa ra mức vay cao hơn giá trị thật có, và nó sẽ ảnh hởng rất lớn đến việc xử lý tài
sản bảo đảm sau này khi nghĩa vụ trả nợ không đợc thực hiện. Do đó, cán bộ ngân
hàng đặc biệt là các cán bộ tín dụng, thẩm định, những ngời trực tiếp ra quyết
định vay cần phải có tố chất đạo đức nghề nghiệp để có thể đa ra đợc những quyết
định mang lại hiệu quả kinh tế đối với ngân hàng.
b. Công tác thẩm định tài sản, hệ thống cung cấp thông tin tín dụng của
ngân hàng về khách hàng, bên bảo lãnh và tài sản bảo đảm.
Để đạt đợc hiệu quả trong công tác bảo đảm tiền vay, ngân hàng cũng cần phải
có một qui trình thẩm định tín dụng nói chung và thẩm định tài sản bảo đảm nói
Vũ Thị Thành Lâm 20 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
riêng phù hợp và khoa học. Quá trình thẩm định là rất quan trọng, nó giúp ngân
hàng thấy đợc điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng, những mối quan hệ, khả
năng tiềm ẩn lợi nhuận của khách hàng từ đó giúp ngân hàng có quyết định đầu t
vào khách hàng hay ko. Khi quyết định cho vay, ngân hàng cũng dựa vào những
thông tin đã thẩm định mà sử dụng hình thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản
hay không. Đối với những khoản vay có yêu cầu tài sản bảo đảm thì qui trình
thẩm định tài sản cũng đòi hỏi ngân hàng phải rất cẩn thận, có những đánh giá
đúng mức về giá trị thị trờng của tài sản bảo đảm. Tất cả những yêu cầu này chỉ
nhằm mục đích cuối cùng là có hiệu quả trong công tác bảo đảm tiền vay của
ngân hàng, do đó đòi hỏi phải cẩn thận, khách quan và chính xác.
Tuy nhiên, để có đợc những quyết định đúng đắn và đạt hiệu quả có phần đóng
góp không nhỏ của quá trình thu thập thông tin khách hàng. Nếu nh thông tin về
khách hàng đợc thu thập là chính xác, việc ra quyết định cho vay sẽ có độ an toàn
cao hơn. Do đó, việc xây dựng một hệ thống thu thập và xử lý thông tin khách
hàng là cần thiết đối với ngân hàng. Đặc biệt là trong trờng hợp cho vay không có
tài sản bảo đảm, những thông tin về bản thân khách hàng, hay bên bảo lãnh sẽ
giúp ngân hàng tránh đợc rủi ro khi đa ra quyết định cho vay. Trong trờng hợp
cho vay có bảo đảm bằng tài sản thì việc thu thập thông tin về tài sản bảo đảm
mà ngân hàng không thể kiểm tra đợc thì khả năng gặp phải rủi ro là rất cao, đồng
thời cũng làm cho công tác bảo đảm tiền vay trở nên vô nghĩa. Cũng có nhiều tr-
ờng hợp, khách hàng lợi dụng các khe hở trong qui định về bảo đảm tiền vay để
gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý tài sản bảo đảm khiến cho việc thu
hồi lại gốc và lãi của ngân hàng bị kéo dài, vì thế mục đích của việc sử dụng bảo
đảm tiền vay cũng không đạt đợc. Vì vậy khách hàng mà có năng lực tài chính
tốt, có uy tín, có năng lực kinh doanh và là ngời có t cách đạo đức tốt thì hiệu quả
bảo đảm tiền vay dễ dàng đạt đợc.
2.2.3. Các nhân tố khác
a. Môi trờng pháp lý
Hoạt động bảo đảm tiền vay chịu ảnh hởng rất nhiều bởi môi trờng pháp lý.
Các đờng lối, chủ trơng, chính sách phát triển trong mỗi thời kỳ của Đảng và nhà
Vũ Thị Thành Lâm 22 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
nớc sẽ ảnh hởng đến quyết định sử dụng biện pháp bảo đảm nào, các loại tài sản
có khả năng dùng làm tài sản bảo đảm, cũng nh cơ chế xử lý những tài sản bảo
đảm đó. Nếu nh hệ thống pháp luật về bảo đảm tiền vay càng hoàn thiện, chặt chẽ
sẽ tạo ra hành lang bảo đảm an toàn cho các quyết định của ngân hàng hơn, tránh
việc lợi dụng các kẽ hở pháp luật của khách hàng để lừa đảo ngân hàng. Đồng
thời, các qui định rõ ràng về mức cho vay đối với các loại tài sản, danh mục tài
sản dùng để đảm bảo, hay các qui tắc cần thiết khi thực hiện hợp đồng bảo đảm
tiền vay sẽ giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc ra quyết định cho vay, giảm
bớt thời gian thẩm định hay xác định loại tài sản dùng để đảm bảo.
b. Mức độ an toàn của tài sản bảo đảm
Trong trờng hợp cho vay có bảo đảm bằng tài sản thì tài sản có mức độ an toàn
cao hơn sẽ đợc ngân hàng a chuộng hơn vì độ rủi ro sẽ thấp nên hiệu quả của bảo
đảm tiền vay sẽ cao. Những tài sản có thị trờng tiêu thụ rộng rãi, dễ dàng xác định
quyền sở hữu,sẽ là những tài sản có độ an toàn cao. Những tài sản này sẽ dễ bán
với chi phí thấp, do đó ngân hàng có thể thu hồi đợc vốn nhanh hơn và dễ dàng
hơn.
Nợ quá hạn đối với các hình thức bảo đảm tiền vay
Tổng d nợ cho vay
Chỉ tiêu này cho thấy mức độ an toàn của các hình thức bảo đảm tiền vay.
- Chỉ tiêu cụ thể:
Nợ quá hạn trong cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Tổng nợ quá hạn
Và
Nợ quá hạn trong cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
Tổng nợ quá hạn
Các chỉ tiêu trên phản ánh mức độ an toàn đối với từng hình thức bảo đảm tiền
vay. Nếu các tỷ lệ này cao, chứng tỏ biện pháp bảo đảm tiền vay là không có
hiệu quả.
2.3.2. Các chỉ tiêu định tính
Vũ Thị Thành Lâm 24 Lớp Ngân hàng 43B
Luận văn tốt nghiệp Khoa NH- TC
Ngoài các chỉ tiêu định lợng trên, ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu định
tính sau để đánh giá hiệu quả của bảo đảm tiền vay. Các chỉ tiêu này chủ yếu là
việc ngân hàng tính trớc các rủi ro mà khoản vay đem lại khi mà khách hàng
không trả đợc nợ và khi thanh lý tài sản bảo đảm.
Ngân hàng sẽ phân loại các khoản cho vay theo các mức độ rủi ro khác nhau
tuỳ theo quan điểm của minh. Đó có thể là:
- Đạt tiêu chuẩn: Là khoản vay có bảo đảm tiền vay có chất lợng và không
có nợ quá hạn.
- Cận chuẩn: Là có bảo đảm nhng có biểu hiện một số điểm yếu tín dụng nh
nguồn vốn của ngời vay có biểu hiện không đủ để đáp ứng các cam kết trả nợ
hoặc là trên giấy tờ giá trị tài sản thoả mãn nhng hồ sơ không chắc chắn, khả năng
tiêu thụ tài sản và tình hình phát mại tài sản gặp khó khăn,
- Có vấn đề: Là khoản vay cận chuẩn nhng căn cứ vào thực tiễn và giá trị
hiện tại thấy rằng việc thu đủ nợ là không chắc chắn và đáng ngờ.
- Không thu hồi đợc: Là khoản vay không thể thu hồi đợc hoặc khả năng thu