Một số giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng - Pdf 29

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
LỜI NÓI ĐẦU
Một ngân hàng muốn phát triển vững mạnh thì trước hết cần phải có
chất lượng tín dụng lành mạnh, tăng trưởng tín dụng cao. Tuy nhiên khi xem
xét sự phát triển của các ngân hàng thì vấn đề an toàn cũng cần được quan
tâm và coi trọng. Cạnh tranh càng khốc liệt thì chúng ta lại càng cần phải đề
cao việc bảo đảm an toàn cho các ngân hàng. Bởi một khi có một ngân hàng
đỗ vỡ thì sẽ kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy các
ngân hàng trong nước cần phải tìm cho mình những biện pháp bảo đảm an
toàn và hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải. Một trong những cách để
nâng cao độ an toàn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng đó là bảo
đảm tiền vay. Đây là biện pháp mà các ngân hàng khi cho vay thường áp
dụng. Chính bởi tầm quan trọng của việc bảo đảm tiền vay đối với hoạt động
của ngân hàng nên em đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao chất
lượng của hoạt động bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngân hàng Công
thương khu vực II Hai Bà Trưng ” để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong quá trình thực tập tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai
Bà Trưng.
Kết cấu chuyên đề gồm ba phần như sau:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về bảo đảm tiền vay : trình bày về
những vấn đề lý luận chung trong bảo đảm tiền vay.
Chương II: Thực trạng hoạt động bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngân
hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng.
Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai
Bà Trưng.
Lª Kim Chi – Líp TCDN 44C
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
BẢO ĐẢM TIỀN VAY

vay”.
Như vậy, bảo đảm tiền vay là việc dùng tài sản hay uy tín của một cá
nhân, tổ chức để bảo đảm cho một khoản vay. Khi bên đi vay không thực hiện
đúng nghĩa vụ trả nợ của mình thì ngân hàng sẽ coi bảo đảm tiền vay là nguồn
thu hồi khoản nợ đã cho vay.
1.1.2. Vai trò của bảo đảm tiền vay
Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế mang
tầm quan trọng ví như hệ thống mạch máu trong cơ thể. Do đó một nền kinh
tế phát triển khi và chỉ khi có một thị trường tài chính nói chung và một hệ
thống ngân hàng nói riêng hoạt động vững mạnh. Song có một thực tế hiển
nhiên là rủi ro luôn luôn tồn tại song hành và thường trực trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại, gây tác động mạnh và ảnh hưởng sâu
sắc đến toàn bộ nền kinh tế. Và theo thống kê thì trong hoạt động của ngân
hàng thương mại, rủi ro tín dụng chiếm một tỷ trọng lớn và cũng chính doanh
thu từ hoạt động tín dụng là một trong những nguồn thu chủ yểu của ngân
hàng.
Bàn về rủi ro tín dụng các nhà chuyên môn lý giải đó là sự xuất hiện
của những yếu tố không bình thường trong quan hệ tín dụng, gây hậu quả xấu
đến hoạt động của ngân hàng như thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến thu nhập
của ngân hàng, rộng hơn nữa là tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Thông
thường rủi ro tín dụng được thể hiện dưới hình thức chính là rủi ro mất vốn và
rủi ro đọng vốn: rủi ro mất vốn là việc ngân hàng cho vay nhưng không thu
hồi được nợ hoặc chỉ thu hồi được một phần, còn rủi ro đọng vốn là khách
hàng chậm trễ trong việc trả nợ khi khoản nợ đến hạn. Cho nên có thể nói rủi
ro tín dụng chính là nỗi ám ảnh và mối đe dọa hàng đầu của các ngân hàng
thương mại. Chính vì thế an toàn vốn là sự cần thiết khách quan, quyết định
Lª Kim Chi – Líp TCDN 44C
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
s thnh bi ca mt ngõn hng, l nn tng cho s phỏt trin hot ng kinh

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
doanh hay tiêu dùng. Giúp khách hàng mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh, hoặc đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng của dân cư.
Ngoài ra,nếu đối với ngân hàng bảo đảm tiền vay là nguồn thu nợ thứ
hai thì trên phương diện nền kinh tế bảo đảm tiền vay góp phần tạo ra môi
trường kinh doanh tiền tệ ổn định, phát triển thị trường trên cơ sở có sự ràng
buộc trách nhiệm giữa các bên, chia sẻ rủi ro. Đó chính là sự bảo đảm ở tầm
vĩ mô.
Tóm lại, bảo đảm tiền vay đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với
các ngân hàng thương mại, khách hàng vay vốn và đối với toàn bộ nền kinh
tế, đặc biệt trong việc tạo lập quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, giúp các
tổ chức tín dụng phòng ngừa và hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn vốn trong
hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên bảo đảm tiền vay chỉ là biện pháp phòng vệ
khi gặp sự cố trong thực hiện hoạt động tín dụng chứ không phải là nguyên
tắc cấp tín dụng và việc vận dụng linh hoạt các biện pháp bảo đảm tiền vay là
một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với cán bộ ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi
ro, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng phát triển, nâng cao uy tín của ngân
hàng và tăng cường sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
1.1.3. Đặc trưng của bảo đảm tiền vay
Nhìn chung, bất kỳ tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịch
đều có thể dùng làm bảo đảm. Tuy nhiên, dưới góc độ của người cho vay
(ngân hàng thương mại) thì bảo đảm tiền vay phải thể hiện được các đặc trưng
sau:
Thứ nhất, giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị món vay:
Bởi vì, việc thực hiện các phương thức cho vay có bảo đảm không chỉ
nhằm đảm bảo nguồn thu nợ mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc ràng
buộc trách nhịêm vật chất, thúc giục người vay phải sử dụng hiệu quả vốn vay
để trả nợ đúng hạn và chỉ khi trả được hết nợ cho ngân hàng thì người đi vay
Lª Kim Chi – Líp TCDN 44C

bảo đảm tín dụng có hiệu lực khi và chỉ khi nó có đầy đủ các đặc trưng trên.
Lª Kim Chi – Líp TCDN 44C
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
1.2. Nội dung các hình thức bảo đảm tiền vay
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà tính chất hoạt động của
các doanh nghiệp ngày càng đa dạng và hết sức tinh vi thì để thực hiện mục
tiêu phát triển là mở rộng tín dụng gắn với hạn chế rủi ro, đòi hỏi các ngân
hàng thương mại phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp bảo đảm tiền vay,
chấp nhận nhiều loại tài sản bảo đảm và vận dụng các hình thức đó một cách
linh hoạt, thích ứng với điều kiện của từng khách hàng. Mà muốn vận dụng
hiệu quả các hình thức bảo đảm tiền vay thì việc nắm chắc những nội dung
của các hình thức bảo đảm tiền vay là một đòi hỏi tất yếu, khách quan. Vì vậy
chúng ta sẽ đi sâu xem xét từng hình thức bảo đảm cụ thể sau:
1.2.1. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản
1.2.1.1. Thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn
Thế chấp là việc bên đi vay dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc
giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên
cho vay và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Với hình
thức này người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu (hoặc
sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam
kết.
Tuy nhiên không phải bất cứ một loại tài sản nào cũng có thể đem đi
thế chấp mà nó phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định tùy thuộc vào quy
định của pháp luật. Trong thực tế, trừ các ngân hàng, các công ty tài chính có
thể nắm giữ nhiều chứng khoán, còn doanh nghiệp thì tài sản chủ yếu là hàng
hoá và tài sản cố định. Trong đó, nhiều tài sản khi trở thành đảm bảo cho các
khoản tài trợ của ngân hàng vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động, những
tài sản này khách hàng không thể cầm cố. Và giá trị của tài sản loại này
thường lớn nên doanh nghiệp có thể vay ngân hàng với quy mô lớn. Hơn nữa,

được nghĩa vụ trả nợ. Theo hình thức này, khi người đi vay không trả được nợ
Lª Kim Chi – Líp TCDN 44C
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
thì ngân hàng được quyền bán tài sản hoặc cho thuê với tư cách là người chủ sở
hữư mà không cần thực hiện các thủ tục tố tụng để nhờ toà án can thiệp.
Thế chấp công bằng (thế chấp thông thường) là hình thức thế chấp mà
trong đó ngân hàng chỉ nắm giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản hoặc
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm cho món vay. Khi người vay
không thực hiện đươc nghĩa vụ trả nợ như trong hợp đồng tín dụng thị ngân
hàng không được tự ý xử lý tài sản mà phải dựa trên cơ sở sự thoả thuận giữa
hai bên hoặc sự can thiệp của toà án.
Hai hình thức này đều có những ưu nhược điểm riêng. Nếu thế chấp
pháp lý một mặt đảm bảo cho ngân hàng trong việc nhanh chóng xử lý tài sản
để thu hồi nợ, thì mặt khác hình thức này lại tốn kém chi phí như chi phí đăng
ký giao dịch bảo đảm, chi phí công chứng... và mỗi khi thay đổi hoặc kết thúc
hợp đồng lại phải tiến hành chuyển giao lại quyền sở hữu hoặc làm lại hợp đồng.
Còn đối với thế chấp công bằng thì thủ tục đơn giản, ít tốn kém nhưng lại khó
khăn cho ngân hàng khi xử lý tài sản bảo đảm.
Căn cứ vào tính chất của bất động sản ta lại có thế chấp toàn bộ và thế
chấp một phần bất động sản:
Thế chấp toàn bộ bất động sản: là hình thức thế chấp mà trong đó các vật
phụ gắn liền với bất động sản đó cũng được tính vào giá trị của tài sản thế chấp.
Thế chấp một phần bất động sản có nghĩa là vật phụ gắn liền với bất
động sản đó không được tính vào giá trị của tài sản thế chấp nếu hai bên
không có thoả thuận riêng. Thế chấp một phần bất động sản xảy ra trong
trường hợp tài sản thế chấp có thể phát mại riêng mà không ảnh hưởng gì đến
quyền lợi của bên nhận thế chấp.
Đối với thế chấp toàn bộ bất động sản thì ngân hàng phải quản lý cả các
vật phụ gắn liền (có thể là nhà cửa, cây quý...), như trên đã nói, điều này

Nu cn c vo tớnh cht qun lý, ti sn cm c c chia ra lm hai
loi: cú ng ký quyn s hu v khụng ng ký quyn s hu. i vi ti
sn khụng ng ký quyn s hu, ti sn phi c chuyn giao cho bờn cú
quyn, ngc li, ti sn cú ng ký quyn s hu thỡ ti sn cú th do bờn cú
ngha v, bờn cú quyn hoc bờn th ba nm gi theo tha thun. Nh vy, v
Lê Kim Chi Lớp TCDN 44C
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
lý thuyết khi tài sản có đăng kí quyền sở hữu thì việc bên nào nắm giữ tài sản
cũng sẽ không ảnh hưởng đến chất lượng tài sản đảm bảo. Mặt khác, vì cầm
cố tài sản là một hình thức của bảo đảm tín dụng bằng tài sản nên bất kì tài
sản cầm cố nào cũng phải thỏa mãn ba điều kiện của tài sản bảo đảm, đó là:
Tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của bên đi vay, tài sản phải có tính thanh
khoản và có giá trị thị trường. Điều này tạo nên tính hiệu lực của hợp đồng
bảo đảm. Khi tài trợ dựa trên bảo đảm bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính
hợp pháp, hợp lệ, an toàn của vật cầm cố như quyền sở hữu của khách hàng,
khả năng chi trả của người cam kết đối với vật cầm cố.
Các hình thức cầm cố tài sản:
Cầm cố tài sản cũng bao gồm cầm cố công bằng và cầm cố pháp lý;
cầm cố trực tiếp và gián tiếp. Nội dung các loại cầm cố này cũng tương tự
như thế chấp.
1.2.1.3. Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng
vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay (là tài sản của khách hàng vay mà giá
trị tài sản được tạo nên bởi một phần hay toàn bộ khoản vay của tổ chức tín
dụng) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó.
Việc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay thường được áp dụng
trong trường hợp ngân hàng cho vay trả góp đối với các khoản cho vay trung
và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền hay cho vay tiêu
dùng. Khách hàng sẽ thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Điều này mang lại

hàng có thể xử lý tài sản kèm theo bảo lãnh. Để đảm bảo an toàn ngân hàng
không chỉ thẩm định khách hàng mà còn cần phải thẩm định cả bên bảo lãnh
một cách chặt chẽ.
Khi xem xét và quyết định cho vay có tài sản bảo đảm của bên thứ ba,
ngân hàng cần quan tâm đến ba nguyên tắc bảo lãnh sau:
Thứ nhất: bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh một cách tự nguyện và chỉ
được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình.
Lª Kim Chi – Líp TCDN 44C
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
Thứ hai: Trong mỗi lần bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải phát hành thư
bảo lãnh của mình.
Thứ ba: ngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng khả năng tài chính, tình trạng
tài sản và uy tín của bên bảo lãnh.
Trong quá trình bảo lãnh, bên thứ ba (tức người bảo lãnh) phải có trách
nhiệm trả nợ thay cho bên được bảo lãnh nếu như đến hạn thanh toán mà họ
không trả được nợ cho ngân hàng (Nợ ở đây bao gồm cả gốc, lãi và phí khác
nếu có) và bên bảo lãnh cũng phải đôn đốc người đi vay thanh toán nợ cho
ngân hàng. Mặt khác, người bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu ngân hàng kiểm
tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng vay khi cần thiết và khi bên bảo lãnh
đã trả nợ thay cho bên được bảo lãnh thì có nghĩa là họ đã trở thành chủ nợ
trực tiếp, lúc này quan hệ giữa ngân hàng và bên bảo lãnh được chấm dứt.
Tuy nhiên các biện pháp bảo đảm bằng tài sản không phải bao giờ cũng
tối ưu, việc bảo quản cũng như xử lý tài sản đảm bảo diễn ra rất phức tạp và
còn nhiều bất cập. Mặt khác các tổ chức tín dụng chỉ coi nó là một trong
những biện pháp phòng ngừa rủi ro chứ không phải là nguyên tắc cấp tín dụng
và một thực tế hiện nay là tỉ trọng các khoản vay không có bảo đảm bằng tài
sản của khách hàng vay vốn trong doanh số cho vay của các ngân hàng
thương mại lại chiếm ưu thế. Vậy thế nào là biện pháp bảo đảm tiền vay trong
trường hợp không có bảo đảm bằng tài sản? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần

tớn nhim, c im v quy mụ v cht lng hot ng, kh nng ti chớnh
tr n ca khỏch hng vay.
1.2.2.2. Bo lónh bng uy tớn ca bờn th ba
õy l hỡnh thc bo lónh m t chc tớn dng cho vay da trờn uy tớn
ca bờn th ba ch khụng cn ti sn m bo. Bờn th ba õy phi l
nhng t chc ln cú uy tớn nh Chớnh ph hay cỏc on th chớnh tr xó hi.
T chc tớn dng c ch nh cho vay khụng cú bo m i vi
khỏch hng vay thc hin cỏc d ỏn u t thuc chng trỡnh kinh t c
Lê Kim Chi Lớp TCDN 44C
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
biệt, chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước, chương trình kinh tế xã
hội và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng được hưởng chính sách tín
dụng ưu đãi theo quyết định của Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ.
Trách nhiệm của tổ chức tín dụng được cho vay không có bảo đảm theo
chỉ định của Chính Phủ: Đầu tiên tổ chức tín dụng phải thực hiện theo đúng chỉ
thị của Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ và tuân thủ các quy định của
pháp luật trong quá trình xem xét cho vay cũng như các trình tự trong quy trình
tín dụng, kiểm tra việc sử dụng vốn và thu hồi nợ của khách hàng. Sau đó, tiến
hành theo dõi riêng các khoản vay theo chỉ định và báo cáo tình hình sử dụng
vốn vay, khả năng thu hồi nợ và kiến nghị các biện pháp xử lý khi cần thiết.
Chính Phủ sẽ xử lý tổn thất cho các tổ chức tín dụng trong trường hợp
khách hàng vay vốn không trả được nợ do các nguyên nhân sau: Do những
biến cố bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn; Do khách hàng vay vốn là tổ
chức kinh tế bị giải thể theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
hoặc bị phá sản hoặc do Nhà nước thay đổi cơ chế chính sách dẫn đến hoạt
động kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn, không trả được nợ...
Việc quy trách nhiệm cho các bên là rất rõ ràng nên hình thức cho vay
theo chỉ định là khá an toàn song nhìn chung các tổ chức tín dụng không hào
hứng nhiều với loại hình cấp tín dụng này bởi khối lượng tín dụng thường lớn,

Nh vy, cht lng bo m tin vay chớnh l thc o phn ỏnh
nhng ti sn m ngõn hng chp nhn lm m bo cho mún vay ca khỏch
hng cú kh nng thc hin ỳng chc nng l ngun thu n th hai cho ngõn
hng hay khụng, cú giỳp ngõn hng bo ton vn khi ri ro xy ra hay khụng.
Rừ rng l hot ng bo m tin vay cú nh hng rt ln n hot
ng ca mt ngõn hng thng mi. Nu thc hin khụng tt rt cú th s l
nguy c tim n ri ro cho ngõn hng trong vic thu hi n vay, dn n kh
nng mt vn, vi mc ln cú th lm gim uy tớn ca ngõn hng gõy tõm
lý rỳt tin hng lot,ngõn hng lõm vo tỡnh trng mt kh nng thanh toỏn v
cú th dn n phỏ sn. Chớnh vỡ vy ũi hi ngõn hng phi khụng ngng
nõng cao cht lng hot ng bo m tin vay ca mỡnh.
Lê Kim Chi Lớp TCDN 44C
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay
1.3.2.1. Các chỉ tiêu định lượng
1.3.2.1.1. Mức độ bảo đảm của tài sản
Đây là chỉ tiêu cho biết mức độ bù đắp vốn của một tài sản đảm bảo
trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình.
Công thức:
H =
Giá trị của khoản vay
Giá trị của tài sản đảm bảo
Khi sử dụng chỉ tiêu này thì phải dự báo được khả năng biến động giá
trị của tài sản trong thời gian cho vay vì giá trị này có thể thay đổi theo thời
gian do nhiều yếu tố. Đồng thời cũng phải dự báo được những chi phí cho
việc bán tài sản đảm bảo.
1.3.2.1.2. Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo trên tổng dư nợ
Công thức:
Tỷ lệ dư nợ có tài sản =

ti sn so vi an ton chung ca ngõn hng.
Ch tiờu n quỏ hn i vi hot ng cho vay cú bo m bng ti sn:
D n quỏ hn cho vay cú bo m bng ti sn
Tng d n cho vay cú bo m bng ti sn
Nu nh t l ny cao chng t cht lng bo m tin vay bng ti
sn l kộm v ngc li. T l ny ch nờn duy trỡ di mc 3% l cú th chp
nhn c.
1.3.2.2. Cỏc ch tiờu nh tớnh
Ngoi mt s ch tiờu mang tớnh nh lng thỡ cht lng bo m tin
vay cũn c th hin qua nhng tiờu thc khụng th lng húa c nhng
cng rt quan trng v cú nh hng ln. õy ch cp n mt s ch tiờu
ch yu:
* Ch tiờu v hao mũn vụ hỡnh ca ti sn th chp: Ti sn th chp
thng l nhng mỏy múc, dõy chuyn cụng ngh...cú tớnh cht cụng ngh
cao v thng b hao mũn vụ hỡnh nhiu, khú d oỏn. Nú cú th lm cho giỏ
tr ca ti sn dựng lm bo m tin vay gim i rt nhiu so vi khi c
nh giỏ ban u v lm cho ngõn hng b thit thũi khi s dng ti sn l
ngun thu n th hai.
* chớnh xỏc ca cỏc giy t liờn quan n ti sn: chớnh xỏc, rừ
rng v tớnh hp phỏp ca cỏc giy t chng nhn s hu hay quyn s hu
Lê Kim Chi Lớp TCDN 44C
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: TS. §Æng Ngäc §øc
hợp pháp đối với tài sản sẽ ảnh hưởng đến việc xử lý tài sản đảm bảo có được
dễ dàng không. Do chất lượng bảo đảm tiền vay phản ánh sự thu hồi các
khỏan vay của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ, nên nếu ngân
hàng không thể thanh lý tài sản đảm bảo thì không thể coi là có được chất
lượng bảo đảm tiền vay cao.
* Chỉ tiêu về khả năng đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng trên
cơ sở tài sản đảm bảo: đương nhiên là ngân hàng chỉ cho vay món vay có giá

phỏp lut to hnh lang an ton cho hot ng cho vay cú bo m, quy nh
mi ch th trong quan h ny phi tuõn th theo phỏp lut, phi thc hin tt
ngha v v bo v quyn li cho h. Nhng nu h thng phỏp lut ban hnh
khụng ng b v cha tht phự hp vi yờu cu ca hot ng bo m tin
vay nh thiu cỏc vn bn di lut v cú nhng vn mõu thun thỡ s nh
hng n cht lng ca hot ng ny. Hin nay, lut v th chp, cm c
cũn nhiu vn cn phi tranh cói, nhiu quy trỡnh th tc cũn thiu cht ch
gõy khú khn cho ngõn hng v c khỏch hng.
1.4.2.2. Cỏc nhõn t v phớa khỏch hng
Trc ht phi núi n vn o c khỏch hng. T cỏch o c
ca khỏch hng cú nh hng khụng nh n hot ng ca bo m tin vay.
Khi khỏch hng n ngõn hng vay vn, h thng cú xu hng che giu
nhng thụng tin khụng tt v mỡnh mong c ngõn hng cho vay. Ngay
c khi ti sn m bo ca h cú vn h cng khụng mun ngõn hng
bit. Nu khỏch hng cú hnh vi c tỡnh la o ngõn hng, cung cp cỏc
thụng tin sai s tht m ngõn hng khụng th kim tra c thỡ ngõn hng s
gp ri ro rt cao ng thi vic m bo tin vay cng khụng cú tỏc dng gỡ
na. Ngõn hng cú th lõm vo tỡnh trng cú ti sn m bo m cng nh
khụng khi ti sn th chp thc cht ó ht giỏ tr hay giy chng nhn s hu
gi mo...Cú nhiu trng hp khỏch hng c tỡnh li dng cỏc khe h ca
phỏp lut c tỡnh chõy , gõy khú khn cho ngõn hng trong vic x lý ti
sn m bo khin vic thu hi n ca ngõn hng b kộo di v nh vy l
mc ớch ca bo m tin vay cng khụng thc hin c.
Lê Kim Chi Lớp TCDN 44C
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Nhõn t th hai t phớa khỏch hng l nng lc ca khỏch hng. Cú
nhng doanh nghip cú vn t cú quỏ ớt, nhim v sn xut kinh doanh ln,
vn vay quỏ nhiu khin doanh nghip khụng cú kh nng t ch v ti chớnh,
b ng trong sn xut kinh doanh, vỡ vy n n hn thiu kh nng thanh

luật và có kinh nghiệm thì sẽ đánh giá về tài sản đảm bảo chính xác hơn và
cũng không bị khách hàng lừa bịp. Hơn nữa cán bộ tín dụng cũng cần phải
nắm bắt về tình hình thị trường để định giá tài sản đảm bảo cũng như khi xử
lý tài sản sẽ không làm cho ngân hàng bị thua thiệt.
* Đạo đức của cán bộ tín dụng : Một người cán bộ tín dụng tốt không
phải chỉ có năng lực cao mà còn cần phải có đạo đức nghề nghiệp. Bởi nếu
không có đạo đức tốt thì cho dù người đó có giỏi đến đâu cũng chỉ là vô dụng,
thậm chí là còn có hại khi người đó sử dụng năng lực của mình để trục lợi cho
bản thân. Nếu người thẩm định cố tình định giá sai, định giá cao hơn giá trị
thật của tài sản thì sẽ làm ngân hàng bị thiệt hại khi phải xử lý tài sản đảm
bảo.
* Thông tin: Thông tin là yếu tố không thể thiếu được và là yếu tố quan
trọng cho việc ra quyết định cho vay cũng như lựa chọn hình thức bảo đảm
tiền vay. Thông tin ở đây là thông tin cả về khách hàng lẫn về tài sản đảm
bảo. Trên cơ sở những thông tin đó người quản lý có thể đưa ra những quyết
định đúng đắn về việc cho vay có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo
đảm, biện pháp quản lý cần thiết để theo dõi thu hồi nợ... Nguồn cung cấp
thông tin có thể từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống. Muốn có thông tin
nhanh, chính xác và toàn diện thì đòi hỏi phải có bộ phận tổng hợp, phân tích
và xử lý thông tin, loại trừ thông tin nhiễu. Chất lượng thông tin ảnh hưởng
đến chất lượng cho vay cũng như hoạt động bảo đảm tiền vay. Nếu chất lượng
thông tin càng cao thì khả năng phòng ngừa rủi ro càng lớn.
* Chiến lược, định hướng cho vay trong từng thời kì và chế độ quản lý,
xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng : Trong mỗi thời kì khác nhau, do ảnh
hưởng của các quy định hay tình hình thị trường cạnh tranh giữa các tổ chức
Lª Kim Chi – Líp TCDN 44C
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
tớn dng m ngõn hng cú nhng mc tiờu, chin lc cho vay thụng thoỏng
hay cht ch. Nu ngõn hng cn y mnh hot ng tớn dng ca mỡnh thỡ

II Hai Bà Trưng là ngân hàng Nhà nước Việt Nam quận Hai Bà Trưng.
Sau khi thực hiện nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của hội
đồng bộ trưởng (nay là Chính Phủ) về tổ chức bộ máy ngân hàng Nhà nước
Việt Nam chuyển sang cơ chế ngân hàng hai cấp, từ một chi nhánh ngân hàng
Nhà nước cấp quận và một chi nhánh ngân hàng kinh tế cấp quận thuộc địa
bàn quận Hai Bà Trưng, trực thuộc ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nội
chuyển thành các chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực I và II quận Hai
Bà Trưng trực thuộc chi nhánh ngân hàng Công thương thành phố Hà Nội
thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam. Từ 1988 đến tháng 4/1993 là chi
nhánh trực thuộc Ngân hàng Công thương thành phố Hà Nội. Thời kỳ này cơ
sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng còn nghèo nàn ,sản phẩm dịch vụ đơn điệu
,kinh doanh đối nội là chủ yếu. Đội ngũ cán bộ ngân hàng được đào tạo trong
cơ chế cũ đông về số lượng nhưng yếu về chất lượng , nhất là kiến thức và
kinh nghiệm kinh doanh trong cơ chế mới . Qui mô hoạt động của ngân hàng
trong thời kỳ này còn nhỏ .
Lª Kim Chi – Líp TCDN 44C
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
T 1/4/1993 n nay : chi nhỏnh ngõn hng Cụng thng khu vc II Hai
B Trng l chi nhỏnh trc thuc ngõn hng Cụng thng Vit Nam theo
quyt nh s 93/NHCT-TCCB ngy 01/04/1993 ca tng giỏm c ngõn hng
Cụng thng Vit Nam v sp xp li b mỏy t chc ngõn hng Cụng thng
trờn a bn thnh ph H Ni theo mụ hỡnh qun lý hai cp ca ngõn hng
Cụng thng Vit Nam, b cp thnh ph, hai chi nhỏnh ngõn hng Cụng
thng khu vc I v II Hai B Trng l nhng chi nhỏnh trc thuc ngõn hng
Cụng thng Vit Nam c t chc hch toỏn kinh t v hot ng nh cỏc
chi nhỏnh ngõn hng Cụng thng cp tnh, thnh ph. K t ngy 01/09/1993,
theo quyt nh ca tng giỏm c ngõn hng Cụng thng Vit Nam, sỏt nhp
chi nhỏnh ngõn hng Cụng thng khu vc I v chi nhỏnh ngõn hng Cụng
thng khu vc II Hai B Trng. Nh vy k t ngy 01/09/1993 trờn a bn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status