Đánh giá hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng - Pdf 74

Đánh giá hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu t
đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân
hàng công thơng Hai Bà Trng
1. Kết quả đạt đợc:
Kể từ khi có sự ra đời của hai Pháp lệnh Ngân hàng, Ngân hàng công thơng
Hai Bà Trng đã có những đổi mới quan trọng và nay là một Ngân hàng thơng mại
có uy tín với khách hàng, không chỉ duy trì một thị phần thanh toán lớn mà còn
gặt hái đợc những kết quả tích cực trong hoạt động cho vay theo dự án đầu t nói
chung và đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng.
Một mặt, Ngân hàng công thơng Hai Bà Trng đã mở rộng nhiều loại hình
cho vay mới nh: cho vay theo hạn mức, cho vay với lãi suất u đãi, cho vay đồng
tài trợ... Mặt khác Ngân hàng không ngừng cải tiến đơn giản hoá các thủ tục cho
vay, đặc biệt là ở khâu tổ chức thực hiện thẩm định. Việc quan tâm đúng mức tới
cả sản phẩm và các dịch vụ cung cấp kèm theo của Ngân hàng đã tạo nên sức hút
đặc biệt đối với các khách hàng. Trong số đó, bao gồm những Tổng công ty lớn
nh: Tổng Công ty than Việt Nam, Tổng Công ty dệt may, Tổng Công ty bu chính
viễn thông... Nh vậy chất lợng của công tác thẩm định dự án đầu t đã đợc đảm bảo
bởi sức hút này, đồng thời còn thể hiện qua những số liệu về hoạt động cho vay
theo dự án đầu t đã phân tích ở trên.
Cùng với việc tăng doanh số cho vay các dự án đầu t trung dài hạn, hạn chế
gia tăng nợ quá hạn mới, rõ ràng là công tác thẩm định đã ngày càng đợc nâng
cao về mặt chất. Sở dĩ nh vậy bởi vì ban lãnh đạo Ngân hàng đã nhận thấy thẩm
định không có vai trò chỉ là lớp hình thức bề ngoài của hoạt động cho vay và đầu
t. Kết quả thẩm định phải và đã là căn cứ quan trọng để ra quyết định cho vay, quy
định cả thời gian, khối lợng của khoản vay cùng các điều kiện kèm theo. Kết quả
thẩm định cũng đợc xem xét trên nhiều chiều, giúp chủ đầu t đánh giá một cách
khách quan hơn tính hiệu quả của dự án, có thể t vấn về mặt pháp lý.
Để thu đợc kết quả khả quan này ngân hàng đã xúc tiến hàng loạt những
đổi mới mang tính trọng yêú đối với hoạt động thẩm định.
Về tổ chức thẩm định:
Ngân hàng công thơng Hai Bà Trng tiến hành phối hợp chặt chẽ với các

Thẩm định tài chính phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố: Tổng vốn đầu t và
nguồn vốn, doanh thu và chi phí sản xuất, hiệu quả tài chính, khả năng trả nợ của
dự án. Trong khi tính toán hiệu quả tài chính, ngoài các chỉ tiêu truyền thống nh:
khả năng thanh toán của dự án, lợi nhuận của dự án, Ngân hàng đã áp dụng những
chỉ tiêu tiên tiến hơn là NPV, IRR, giá trị thời gian của dòng tiền đợc đánh giá
đúng mức. Các chỉ tiêu này trên thế giới đã sử dụng từ lâu nhng trớc đây các
NHTM ở Việt Nam không chú ý tới. Bên cạnh đó, việc phân tích dự án ở trạng
thái tĩnh kết hợp với trạng thái động (phân tích độ nhạy) cho cái nhìn tổng thể hơn
về hiệu quả dự án trong tơng lai. Có thể nói hệ thống phơng pháp, chỉ tiêu mà
Ngân hàng sử dụng để thẩm định đã tiến dần hơn tới phơng pháp hiện đại trên thế
giới.
Thẩm định tài chính gắn liền với thẩm định kỹ thuật, thẩm định thị trờng và
khả năng tiêu thụ, so sánh với các dự án tơng tự ... thành một thể thống nhất. Quy
trình thẩm định cụ thể lại đợc chia theo từng loại dự án (dự án sản xuất sản phẩm,
dự án cung cấp dịch vụ). Điều này khiến cho việc xem xét đánh giá các số liệu tài
chính thuộc đầu ra và đầu vào chính xác và thực tế hơn. Trên cơ sở đó, Ngân hàng
xây dựng kế hoạch giải ngân, trả nợ của dự án một cách hợp lý hơn, tạo điều kiện
cho công tác thu hồi, xử lí nợ sau này, nâng cao chất lợng của khoản vay.
Về trang thiết bị thông tin
Ngân hàng công thơng Việt nam là ngân hàng đi đầu trong công tác hiện
đại hoá trang thiết bị, cơ sở vật chất kĩ thuật. Là một chi nhánh quan trọng, Ngân
hàng công thơng Hai Bà Trng đã chú trọng nâng cao chất lợng cơ sơ vật chất,
trang thiết bị hiện đại để phục vụ tốt cho hoạt động ngân hàng của mình. Hoạt
động thẩm định cũng không nằm ngoài sự quan tâm ấy. Cán bộ thẩm định đợc
trang bị máy vi tính nối mạng của hệ thống hoặc nối mạng Internet. Máy vi tính
cài đặt các chơng trình phần mềm chuyên dụng giúp rút ngắn thời gian trong việc
tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế.
Ngoài các dữ liệu mà chủ đầu t cung cấp, cán bộ thẩm định chủ động tìm
kiếm các nguồn thông tin khác nhằm bổ sung, đối chiếu, so sánh... Thông tin đợc
khai thác từ sách báo, từ các cơ quan chuyên ngành, từ các dự án đã qua thẩm

sản xuất kinh doanh của dự án vay vốn. Kết quả thẩm định tài chính dự án đầu t
cha đợc sử dụng nh là công cụ phân tích tài chính hiệu quả nhất để quyết định đầu
t tín dụng.
Trong khi đó, nhiều dự án tuy đã qua thẩm định và phê duyệt cho vay nhng
khi đi vào hoạt động không đem lại hiệu quả nh dự kiến, thậm chí không có khả
năng trả nợ ngân hàng nh thoả thuận, phải xin giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn hoặc
chuyển sang nợ quá hạn. Đây là thực tế không tránh khỏi vì hoạt động của ngân
hàng luôn tiềm ẩn rủi ro, nhng điều cần lu ý là chủ dự án gặp khó khăn trong
thanh toán vì sản phẩm không có đầu ra hoặc chi phí tăng cao so với dự kiến. Để
trả lời cho câu hỏi này, khắc phục những hạn chế nêu trên, trớc hết cần phải tìm ra
nguyên nhân của những hạn chế đó. Sau đây là một số vấn đề đợc coi là nguyên
nhân chính ảnh hởng đến hiệu quả công tác thẩm định ở NHCT-HBT nói riêng và
cũng là vấn đề tồn tại đợc quan tâm ở nhiều ngân hàng hoạt động tại Việt Nam.
a) Nguyên nhân từ phía Ngân hàng.
Đúc kết kinh nghiệm từ quá trình hoạt động, Ngân hàng công thơng Việt
nam đã xây dựng một quy trình thẩm định để áp dụng trong toàn hệ thống, từ
Trung ơng tới địa phơng, song quy trình này cha hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập.
Mẫu báo cáo thẩm định đợc soạn thảo từ lâu nhng các cán bộ thẩm định không
coi là mẫu chuẩn trong tiến hành thẩm định. Vì vậy tính thống nhất, chặt chẽ của
công tác thẩm định cha cao.
Nội dung thẩm định tuy đủ nhng kĩ thuật thẩm định còn khá đơn giản
thậm chí là sơ sài, không đáp ứng đợc những điều kiện kinh doanh thực tế ngày
càng đa dạng và phức tạp. Ví dụ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status