Chất lượng giấc ngủ và yếu tố liên quan ở bệnh nhân sau phẫu thuật ổ bụng tại khoa ngoại tổng hợp bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên năm 2017 - Pdf 74

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LÊ THỊ VÂN

CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT Ổ BỤNG TẠI KHOA
NGOẠI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG
THÁI NGUYÊN NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LÊ THỊ VÂN
CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT Ổ BỤNG TẠI KHOA
NGOẠI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG
THÁI NGUYÊN NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Chuyên ngành: Thạc sỹ Điều dưỡng

thuật bị ảnh hưởng bởi các yếu tố phương pháp phẫu thuật, dùng thuốc giảm đau,
đau, lo lắng, và yếu tố mơi trường trong phịng bệnh. Trong đó, yếu tố đau sau phẫu
thuật là ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng giấc ngủ của người bệnh, yếu tố thứ
hai ảnh hưởng là yếu tố mơi trường phịng bệnh.


LỜI CẢM ƠN

Với lịng thành kính và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các
Thầy trong Ban Giám hiệu, cô giáo chủ nhiệm, cùng các giảng viên Trường Đại học
Điều dưỡng Nam Định đã hết lịng nhiệt tình truyền thụ kiến thức và ln hỗ trợ,
giúp đỡ tơi trong q trình học tập và nghiên cứu tạiTrường.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Hồng Long –Phó Giám
Đốc Đào tạo Điều Dưỡng- Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec là người thầy đã
trực tiếp dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tận tình cho tơi để tơi hồn
thành luận văn này.
Tơi xin trân trọng cảm ơn Thầy, cô trong Ban giám hiệu và khoa Điều dưỡng
Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã động viên, giúp đỡ, dành thời gian cho tôi
học tập và nghiên cứu. Chân thành cảm ơn các anh chị đồng nghiệp những cộng tác
viên đã giúp đỡ tơi trong q trình thực hiện nghiên cứu.
Tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo bệnh viện và các nhân
viên y tế trong khoa Ngoại Tổng hợp bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên
đã giúp đỡ tơi trong q trình thu thập số liệu.
Tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, chồng, con đã tạo điều kiện và
luôn ở bên tôi, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc và động viên tơi trong suốt thời
gian làm nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2017
Tác giả



Nummeric Rating Scale

CLGN

Chất lượng giấc ngủ

BN

Người bệnh

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TH

Tiểu học

WHO

Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)


MỤC LỤC


2.5.1. Công cụ thu thập số liệu : ...................................................................... 20
2.5.2. Tiến hành nghiên cứu ............................................................................ 22
2.6. Các biến số nghiên cứu. ............................................................................... 23
2.7. Phương pháp phân tích số liệu. .................................................................... 27
2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ................................................................... 27
2.9. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số. .................... 27
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 28
3.1. Đặc điểm chung cuả đối tượng nghiên cứu .................................................. 28
3.3.1. Đặc điểm nhân khẩu học ....................................................................... 28
3.1.2. Đặc điểm về bệnh và phương pháp điều trị ............................................ 29
3. 2. Thực trạng các yếu tố ................................................................................. 31
3.2.1. Chất lượng giấc ngủ của người bệnh ..................................................... 31
3.2.2. Mức độ đau sau phẫu thuật .................................................................... 32
3.2.3. Yếu tố mơi trường phịng bệnh .............................................................. 33
3.2.4. Mức độ lo lắng sau phẫu thuật ............................................................... 33
3.3. Mối liên quan giữa các yếu tố với chất lượng giấc ngủ. ............................... 34
3.3.1. Mối tương quan giữa các yếu tố loại phẫu thuật, thuốc giảm đau, thuốc an
thần, đau, yếu tố môi trường, lo lắng với chất lượng giấc ngủ ......................... 34
3.3.2. Mối tương quan giữa các yếu tố đau sau phẫu thuật, yếu tố mơi trường
phịng bệnh, lo lắng với chất lượng giấc ngủ. .................................................. 35
3.3.3. Mức độ ảnh hưởng của các biến đau, yếu tố môi trường, lo lắng với chất
lượng giấc ngủ đêm đầu tiên sau phẫu thuật .................................................... 36
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN ................................................................................... 39
4.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu. ................................................... 39
4.2. Chất lượng giấc ngủ .................................................................................... 40
4.3. Đau sau phẫu thuật ở người bệnh sau phẫu thuật ổ bụng. ............................. 41
4.4. Yếu tố môi trường. ...................................................................................... 42
4.5. Lo lắng sau phẫu thuật ................................................................................. 43




DANH MỤC HÌNH

Hình 1.4.1: The Unpleasant symptoms Model. ...................................................... 14
Hình 1.4.2: Khung lý thuyết .................................................................................. 16


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật ổ bụng là một phẫu thuật rất phổ biến. Khảo sát tại Hoa Kỳ cho
thấy phẫu thuật liên quan đến hệ thống tiêu hóa là một trong ba phẫu thuật thường
gặp nhất [16]. Ở Việt Nam, phẫu thuật ổ bụng chiếm 30% tổng số các loại phẫu thuật
tại thành phố Hồ Chí Minh, tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp chiếm 36,9%. [19]
Thống kê cho thấy, người bệnh sau phẫu thuật ổ bụng sẽ xuất hiện các triệu
chứng khó chịu như đau, buồn nơn, nơn, lo lắng, mệt mỏi…[15]. Trong số các vấn
đề sau phẫu thuật đó, chất lượng giấc ngủ kém xảy ra rất phổ biến với 89% người
bệnh trong giai đoạn sau phẫu thuật có rối loạn giấc ngủ [18].
Nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra, trong giai đoạn sau phẫu thuật, chất
lượng giấc ngủ kém có thể gây ra rất nhiều rối loạn về thể chất và tâm thần như dẫn
đến mệt mỏi, mất tập trung, trầm cảm, tăng lo lắng, khó chịu, tăng đau đớn, ức chế
miễn dịch, chán ăn, táo bón, và thiếu sự tỉnh táo vào ban ngày [25] [44]. Như vậy có
thể thấy nâng cao chất lượng giấc ngủ, phục hồi giấc ngủ tốt cho người bệnh sau
phẫu thuật bụng là nhu cầu rất lớn trong chăm sóc điều dưỡng.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của một số biến số như tuổi, giới, loại phẫu
thuật, thời gian phẫu thuật, đau sau phẫu thuật, tâm lý lo lắng, các yếu tố từ mơi
trường bệnh phịng như nhiệt độ, ánh sáng, phịng đơng người, tiếng ồn…, các hoạt
động chăm sóc/điều trị được tiến hành vào buổi tối trong việc ảnh hưởng tới chất
lượng giấc ngủ [31] [10] [3] [20]. Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu đã công

MỤC TIÊU

1. Đánh giá chất lượng giấc ngủ ở người bệnh sau phẫu thuật ổ bụng tại khoa
Ngoại Tổng hợp, bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2017.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ ở người bệnh sau
phẫu thuật ổ bụng tại khoa Ngoại Tổng hợp, bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái
Nguyên năm 2017


4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về giấc ngủ
Ngủ là một nhu cầu cơ bản cho sự sống còn của con người. Giấc ngủ là điều
cần thiết cho hầu hết sinh vật. Nếu khơng có giấc ngủ cuộc sống không thể tiếp tục
trong hơn một vài ngày và con người dành khoảng một phần ba cuộc sống của mình
cho một giấc ngủ [45].
1.1.1. Định nghĩa giấc ngủ.
Giấc ngủ có thể được định nghĩa là tình trạng hành vi đảo ngược buông thả
khỏi tri giác và không đáp ứng với mơi trường. "Giấc ngủ là một q trình phức tạp,
hoạt động được lập trình bởi nhịp sinh học của con người" và được dựa trên một
chu kỳ sáng - tối. Khi ngủ, người ta thường nằm xuống, không vận động và mắt
nhắm nghiền…[34]
1.1.2. Chất lượng giấc ngủ
* Khái niệm về chất lượng giấc ngủ
Khái niệm chất lượng giấc ngủ là khái niệm khá rộng và khó có thể đo lường
chất lượng giấc ngủ một cách khách quan. Chất lượng giấc ngủ có thể bao gồm các
khía cạnh mang tính định lượng của giấc ngủ như thời gian ngủ, ngủ trễ, số lần tỉnh
giấc…Chất lượng giấc ngủ cũng có thể mang tính định tính, chủ quan như độ sâu
của giấc ngủ [30]. Tuy nhiên, nhìn chung nhiều tác giả thống nhất rằng chất lượng

NREM). [6]
* Giấc ngủ NREM
Giấc ngủ NREM được đặc trưng bởi sự giảm các hoạt động sinh lý, giấc ngủ
trở nên sâu hơn; nhịp thở nhịp tim chậm xuống, huyến áp giảm nhẹ. Giấc ngủ
NREM được chia thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: là khoảng thời gian ngủ lơ mơ, là giai đoạn chuyển từ trạng thái thức
sang trạng thái ngủ, sóng điện não và hoạt động của cơ chậm xuống.
Giai đoạn 2: là giai đoạn ngủ nông, mắt ngừng chuyển động, các cơ bắp giãn
mềm, nhịp tim chậm và nhiệt độ cơ thể giảm xuống.
Giai đoạn 3 và 4: Được gọi chung là giai đoạn sóng chậm có đặc trưng là các
sóng chậm (sóng delta), huyết áp giảm, nhịp tim chậm, thân nhiệt giảm xuống thấp
hơn, cơ thể bất động, giấc ngủ sâu hơn, khơng có chuyển động mắt, giảm hoạt động cơ.


6

* Giấc ngủ REM.
Trái với giấc ngủ NREM, giấc ngủ REM là loại giấc ngủ khác biệt, có đặc
điểm là các hoạt động của não và các chức năng sinh lý giống như lúc thức. Khoảng
90 phút sau khi bắt đầu ngủ, người bình thường sẽ có giai đoạn ngủ REM đầu tiên
trong đêm. Nhịp thở trở nên nhanh hơn, không đều và nông, mắt chuyển động
nhanh theo các hướng khác nhau, cơ tay, chân biểu hiện liệt tạm thời. Nhịp tim,
huyết áp tăng. Dấu hiệu đặc trưng nhất của giấc ngủ REM là giấc mơ. Khoảng 6090% số người được đánh thức trong giấc ngủ REM cho biết mình đang mơ. Giấc
mơ trong giấc ngủ REM là mơ hồ và khơng gắn với thực tế. Giấc mơ có thế xảy ra
trong giấc ngủ NREM nhưng hình ảnh rõ ràng và gắn với thực tế.
1.1.4. Cấu trúc của giấc ngủ[6] .
Những nghiên cứu về giấc ngủ chỉ ra rằng ở người trưởng thành cần ngủ từ
7-9 giờ mỗi ngày, thanh thiếu niên cần khoảng 9.5 giờ, trẻ càng nhỏ thì thời gian
ngủ trong một ngày càng nhiều. Nói chung trẻ em cần khoảng 16 giờ ngủ mỗi ngày.
Những yếu tố không kém phần quan trọng như số lượng giờ ngủ là sự đan xen hợp

Chức năng của giấc ngủ là để phục hồi cơ thể trong thời gian không hoạt
động để đủ chức năng sinh học được đảm bảo, chẳng hạn như để phục hồi năng
lượng, để sửa chữa não và các mô cơ và trao đổi chất mà cho phép tăng tỷ lệ phân
chia tế bào và tổng hợp protein mà là điều cần thiết cho chữa bệnh và phục hồi từ bệnh
tật. Trong kết luận, người bệnh sau khi nhận được phẫu thuật lớn báo cáo chất lượng
của giấc ngủ kém, dẫn đến những hậu quả tiêu cực lớn cả tâm lý và sinh lý [41]
Về sinh lý, các tài liệu cho thấy chất lượng giấc ngủ kém tăng cường dị hóa,
suy giảm tổng hợp tế bào, và giảm chức năng miễn dịch [23]. Hơn nữa, chất lượng
giấc ngủ kém ở người bệnh cũng góp phần quan trọng làm giảm chữa bệnh do sự
gia tăng phản ứng stress và nó làm cho người bệnh dễ bị nhiễm trùng và phục hồi
chậm [29] [34]. Kết quả là, chất lượng giấc ngủ kém xảy ra trong các giai đoạn hậu
phẫu góp phần làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và làm chậm các vết thương của quá
trình chữa bệnh.


8

Cuối cùng, một số nghiên cứu cho thấy chất lượng giấc ngủ kém cũng tăng
nhạy cảm đau, sự tổn thương đến đau đớn và can thiệp quản lý và nó đã được liên
kết với một khả năng yếu hơn đáng kể để thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng
ngày [7] [43]. Hơn nữa, Krenk (2013) cũng nhận định rằng những người bệnh bị rối
loạn giấc ngủ có khả năng giảm đi lại sau phẫu thuật do tăng giấc ngủ ban ngày
[13].
Mặt khác, chất lượng giấc ngủ kém cũng ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của
người bệnh bao gồm cả nhận thức, thiếu hụt bộ nhớ, tâm trạng trầm cảm và ngủ
không tự nguyện trong ngày [38]. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy rằng chất
lượng giấc ngủ kém cũng là yếu tố tích cực kết hợp với trầm cảm (r = 0,31, p

lắng nhiều về các công việc thường ngày như chăm sóc con cái và gia đình trong
thời gian ở viện. Một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự: phụ nữ thức
giấc nhiều lần hơn, tổng thời gian tỉnh giấc trong đêm nhiều hơn và chất lượng giấc
ngủ kém hơn so với nam giới [25].
- Nghề nghiệp: nghề nghiệp có ảnh hưởng đến thói quen giấc ngủ từng
người. Đối với hầu hết người lao động, ngày làm việc có giấc ngủ ngắn hơn những
ngày nghỉ. Nghiên cứu trên nhóm người lao động làm việc theo ca tại Canada, các
nhà khoa học đưa ra kết luận: người lao động làm việc theo ca không bao giờ có
giấc ngủ đủ, rất ít trong số họ thực sự có được giấc ngủ 8 giờ như họ cần. Giấc ngủ
ở những người lao động nặng (như người nông dân hay thợ xây...) cũng sẽ khác với
giấc ngủ của những nhân viên văn phòng, cảnh sát, hoặc bác sĩ.
1.2.2. Tình trạng bệnh
- Loại phẫu thuật: Phẫu thuật cấp cứu, phẫu thuật theo chương trình, phẫu thuật
mở, mổ phiên. Loại phẫu thuật có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giấc ngủ đặc biệt
trên những người bệnh thực hiện đại phẫu cho thấy chất lượng giấc ngủ kém [14] [48].
- Thời gian phẫu thuật: Về mặt lý thuyết, thời gian phẫu thuật kéo dài đi kèm
cùng với thời gian gây mê, các mơ bị hư hỏng nặng hơn. Nó có thể đại diện cho
mức độ nghiêm trọng của phẫu thuật. Vì vậy, nó có thể được giả định rằng chiều dài


10

của thủ tục phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến triệu chứng sau phẫu thuật. Kotzer
(2000) đã chứng minh rằng thời gian phẫu thuật chiếm 13% điểm số đau vào ngày
thứ ba sau khi phẫu thuật [5].
- Đau: 50 – 70% người bệnh với chứng đau mạn tính than phiền về chất
lượng giấc ngủ. Cảm giác đau tăng cường các kích thích đến vỏ não, gây gián đoạn
giấc ngủ. Mặt khác, tình trạng thiếu ngủ lại làm tăng nhạy cảm đau do ức chế tổng
hợp các chất giảm đau nội sinh [37].
Đau sau phẫu thuật được xác định là yếu tố vật lý, liên quan đến tổn thương

chống động kinh, thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc, thuốc chống trầm
cảm ba vòng, thuốc hạ huyết áp, thuốc kháng histamin và corticosteroid.
Nhóm chẹn beta giao cảm có thể làm tăng thời gian thức giấc, giảm giấc ngủ
REM và tăng nguy cơ xuất hiện cơn ác mộng. Hormon tổng hợp và thuốc giãn phế
quản loại beta-agonist có thể gây ra rối loạn lo âu, mất ngủ và thậm trí rối loạn tâm
thần. Các tác nhân co mạch như Dopamine có thể gây kích hoạt vỏ não và giảm
giấc ngủ sóng chậm [40].
Bên cạnh các thuốc có tác dụng điều trị, việc sử dụng các chất kích thích như
rượu, caffein, nicotine...cũng ảnh hưởng nhiều đến giấc ngủ người bệnh.
1.2.3. Yếu tố tâm lý [26] [42]
Lo lắng được xác định là một trong những yếu tố tâm lý liên quan đến các
người bệnh cảm giác căng thẳng về an toàn, lo lắng về kết quả của điều trị, hoặc
kinh tế hậu quả ở những người bệnh sau khi được phẫu thuật ổ bụng. Lo lắng được
tìm thấy là một yếu tố gây gián đoạn giấc ngủ của người bệnh do những khó khăn
trong việc đi vào giấc ngủ. Ở những người bệnh sau phẫu thuật, bằng chứng cho
thấy sự lo lắng có được liên kết với một chất lượng kém của giấc ngủ.
Lo lắng là một trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến giấc ngủ của người
bệnh. Một số lo lắng hay gặp ở người bệnh nội trú như: lo về kết quả hoặc những
tiên lượng xấu về bệnh tật, lo lắng về chi phí điều trị, về người thân, gia đình và
cơng việc khi họ phải nằm viện...Lo lắng làm tăng lượng noradrenaline do tăng hoạt
động của hệ thống thần kinh giao cảm. Điều này dẫn tới giảm giai đoạn thứ 4 của
giấc ngủ NREM, khiến họ khó đi vào giấc ngủ, thức giấc nhiều lần cũng như dễ gặp
ác mộng.


12

Lo lắng tạo nên một vòng luẩn quẩn: lo lắng dẫn đến mất ngủ, khi mất ngủ
BN lại lo lắng về giấc ngủ kém, lo lắng về cảm giác mệt mỏi trong những ngày tiếp
theo. Đó có lẽ là lý do khiến cho vấn đề càng trở nên tồi tệ.

hoặc quá lạnh. [3]
Hoạt động chăm sóc điều dưỡng: những nghiên cứu trong thập kỉ qua cho
thấy các hoạt động chăm sóc ảnh hưởng đến giấc ngủ của người bệnh hơn là tác
động từ môi trường xung quanh. Các công việc như đo dấu hiệu sinh tồn, chăm sóc
vệ sinh, thực hiện thuốc...đơi khi khiến người bệnh khó đi vào giấc ngủ hoặc bị thức
tỉnh giữa đêm.
Tuy nhiên, để đo lường một cách khách quan các yếu tố như tiếng ồn, ánh
sáng,… địi hỏi phải có máy móc, phương tiện đo cho một nghiên cứu kỹ lưỡng. Vì
vậy trong một số nghiên cứu, các yếu tố này được đánh giá dựa trên ý kiến chủ quan
của người bệnh.
1.3. Ứng dụng học thuyết: The Unpleasant Symptom Model [35].
* Cơ sở lý thuyết: The Unpleasant Symptom Model
Học thuyết The Unpleasant Symptom Model được phát triển bởi Lenz và các
cộng sự lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1995, các phiên bản cập nhật sau đó
được trình bày lần thứ hai vào năm 1997, bản sửa đổi này cung cấp một mô tả chính
xác hơn về tính phức tạp và tương tác về trải nghiệm của người bệnh với triệu
chứng.
Học thuyết này bao gồm ba phần: trải nghiệm của người bệnh với triệu chứng,
các yếu tố ảnh hưởng, và tác động đầu ra của triệu chứng (hay hiệu suất của triệu
chứng).
- Trải nghiệm của người bệnh với triệu chứng là nhận thức chủ quan của người
bệnh về mức độ nặng, mức độ ảnh hưởng, thời gian kéo dài và các đặc điểm chất
lượng khác của một triêu triệu chứng, cũng như kiểm tra các yếu tố liên quan ảnh
hưởng đến triệu chứng này.
- Các yếu tố ảnh hưởng được chia làm ba loại:
+ Các yếu tố sinh lý bao gồm chức năng bình thường của cơ thể, mức năng
lượng và các vấn đề bệnh lý, chấn thương.


14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status