Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại sở giao dịch ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Pdf 74

Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại sở
giao dịch ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam.
2.1. Bối cảnh chung tác động đến hoạt động kinh doanh
ngoại tệ trong nớc.
2.1.1. Vài nét về thị trờng ngoại hối Việt Nam.
2.1.1.1. Sự ra đời của thị trờng ngoại hối Việt Nam.
Trớc năm 1991, nền kinh tế Việt Nam rất chậm phát triển, vận hành theo
mô hình kế hoạch hoá tập trung. Nhà nớc độc quyền ngoại thơng nên mọi nguồn
thu ngoại tệ đều thuộc sở hữu nhà nớc và tập trung tại ngân hàng nhà nớc. Với
điều kiện nh vậy thị trờng ngoại hối theo đúng nghĩa cha đợc hình thành mà chỉ
tồn tại dới dạng sơ khai. Mặc dù vậy, thời kì này thị trờng ngoại hối cũng đợc chia
thành hai loại: thị trờng có tổ chức và thị trờng tự do.
Thị trờng có tổ chức đợc thành lập nhằm chủ yếu là mua ngoại tệ để thực
hiện mục tiêu tập trung mọi nguồn ngoại tệ vào ngân hàng, phục vụ cho nhu cầu dự
trữ và phát triển của nền kinh tế. Thành viên tham gia chủ yếu là các ngân hàng, xí
nghiệp, công ty quốc doanh và các cá nhân có ngoại tệ. Mọi hoạt động mua bán
đều phải thực hiện theo điều lệ quản lí ngoại hối ban hành kèm nghị định số 161-
HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1988 của hội đồng bộ trởng.
Thị trờng tự do: trong giai đoạn này, thị trờng tự do không đợc pháp luật
thừa nhận. Tại thông t số 33/NH-thị trờng ngày 15 tháng 3 năm 1989 hớng dẫn thi
hành đièu lệ quản lý ngoại hối đã nói rõ: việc lu thông ngoại tệ trong nớc chỉ đ-
ợc thực hiện thông qua Ngân hàng và các tổ chức kinh doanh dịch vụ đợc phép
thu đổi ngoại tệ. Nghiêm cấm việc mua bán trao đổi ngoại tệ trên thị trờng tự do.
Mặc dù vậy thị trờng tự do vẫn mặc nhiên tồn tại và phát triển, đặc biệt là các
thành phố lớn nh: hà nội, hải phòng, sài gòn
Năm 1991 đợc coi là năm đánh dấu sự ra đời của thị trờng ngoại hối chính
thức ở Việt Nam. Ngày 16 tháng 8 năm 1991 ngân hàng nhà nớc ra quyết định số
207/NHQĐ, thành lập trung tâm giao dịch ngoại tệ với t cách là một thị trờng
chính thức. Thị trờng này tồn tại đến năm 1994 thì đợc thay thế bằng thị trờng
ngoại tệ liên ngân hàng bởi quyết định số 203/ NHQĐ của thống đốc ngân hàng

Nam, nhập siêu tăng cao, ớc tính 2,53 tỷ USD, thì thị trờng ngoại tệ lại tơng đối
ổn định, lãi suất USD và EURO ở mức thấp. Đô la mỹ xuống giá trên ba khía
cạnh: lãi suất rất thấp, chỉ bằng 1/4 lãi suất tiền gửi VND cùng kì hạn, tốc độ tăng
giá thấp trong nhiều năm qua, và tăng thấp hơn giá vàng. Trong hai tháng cuối
năm nếu lãi suất tiền gửi VND kì hạn trên 1 năm tới 8,64%/ năm thì lãi suất tiền
gửi USD chỉ có 2,0% đến 2,2%/ năm, cao hơn lãi suất của FED, LIBOR và
SIBOR, do các Ngân hàng thơng mại đang mở rộng cho vay USD các dự án lớn
trong nớc với lãi suất thấp, không phải gửi ra nớc ngoài.
Tỷ giá năm 2002 đợc dự đoán là tăng thấp nhất cũng phải bằng năm 2001,
tức tăng 3,8%-4% lên trên 15550 VND/USD nhng đến giữa tháng 12 năm 2002
chỉ xoay quanh mức 15100-15400 VND/USD.
Tỷ giá biến động nh trên là do hai nguyên nhân:
Về khách quan, năm 2002 các nguồn ngoại tệ tiền mặt chuyển vào Việt
Nam tăng cao. Với trên 2,5 triệu Việt kiều, 310000 ngời Việt Nam đi xuất khẩu
lao động chuyển về nớc trong cả năm ớc tính đạt 2,2 tỷ USD. Gần 2,6 triệu khách
quốc tế đến Việt Nam trong cả năm 2002 chi tiêu tại nớc ta một lợng ngoại tệ rất
lớn. Ngoài ra còn các nguồn ngoại tệ tiền mặt do ngời Việt Nam đi công tác nớc
ngoài theo các dự án mang về, ngời Việt Nam làm việc cho các dự án nớc ngoài
và ngời nớc ngoài làm việc tại Việt Nam Do đó mặc dù năm nay nhập siêu lớn
nhng do nguồn ngoại tệ tiền mặt tăng cao, cộng với lãi suất diễn biến ngợc chiều,
làm hạn chế tình trạng đầu c ngoại tệ và sự dịch chuyển tiền tệ theo hớng ngợc lại
trớc đây: từ USD sang VND.
Về chủ quan, NHNN tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công cụ điều hành tỷ giá
và quản lí ngoại hối.
Tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày giữ ổn định tơng đối, có điều chỉnh
tăng nhẹ phù hợp với diễn biến cung cầu ngoại tệ trong nền kinh tế và trên thị tr-
ờng liên ngân hàng, theo hơng khuyến khích xuất khẩu.
Từ ngày 01 07 2002, NHNN quyết định nới rộng biên độ giao dịch
trong kinh doanh ngoại tệ của các Tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Từ tháng
09 2002, mở rộng đối tợng đợc làm dịch vụ chi trả kiều hối. Từ tháng 04

của các Ngân hàng thơng mại đối với nền kinh tế ở cả 02 trung tâm lớn này đến
thời đỉểm tơng tự chỉ có 2,51 tỷ USD. Nh vậy cung ngoại tệ lớn hơn cầu, chênh
lệch trên 3,32 tỷ USD đợc các Ngân hàng thơng mại đầu t trên thị trờng tiền gửi
và chuyển đầu t cho vay ở địa phơng khác.
2.1.2. Công tác quản lí ngoại hối và điều hành tỷ giá.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, công tác quản lí ngoại hối đợc
đánh giá là lĩnh vực nhạy cảm và có nhiều biến động. Lĩnh vực này thu hút không
chỉ cá tổ chức cá nhân, các doanh nghiệp trong nớc mà còn là sự qun tâm của các
doanh nghiệp, nhà đầu t, các Chính phủ nớc ngoài có quan hệ kinh tế với Việt
Nam, các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc đang có kế hoạch gia
nhập. Nguyên nhân kà do: quản lí ngoại hối mà nội dung của nó gồm các chính
sách liên quan dến ngoại tệ trong các lĩnh vực tỷ giá, vay nợ nớc ngoài, kiều hối,
chuyển ngoại tệ của cá nhân ra nớc ngoài Đó cũng là vấn đề liên quan trực tiếp
đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, quyền lợi của cá nhân, đặc biệt trong
giai đoạn mở cửa, hội nhập, khi các mối quan hệ với nớc ngoài đã trở thành yếu tố
không thể thiếu trong đời sống kinh tế, xã hội.
Theo xu hớng chung của quản lí kinh tế trong cơ chế thị trờng, công tác
quản lí ngoại hối trong thời gian qua đã thực sự hớng vào mục tiêu: giảm sự can
thiệp bằng các công cụ hành chính, tự do hoá kinh doanh theo pháp luật. Đặc biệt
trong năm 2002 công tác này đã tạo các tác động thuận chiều cho việc thực hiện
các mục tiêu của chính sách tiền tệ với những nội dung cơ bản :
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản chính sách: do nền kinh tế có
nhiều biến động phức tạp, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực
nên đã xuất hiện yêu cầu phải sửa đổi hệ thống văn bản chính sách về quản lí
ngoại hối. Từ năm 1999 đến nay, hầu hết các chính sách về quản lí ngoại hối đã đ-
ợc đổi mới với năm nghị định của chính phủ, nhiều quyết định của thủ tớng chính
phủ và văn bản hớng dẫn của NHNN và đều phù hợp với yêu cầu và sự phát triển
của thị trờng ngoại hối trong nớc. Trong năm 2002 chính sách quản lý ngoại hối
tiếp tục đợc đổi mới với một số nội dung chính:
Giảm tỷ lệ kết hối từ 40% xuống 30%.

đào tạo sau đại học, hơn một nửa đợc đào tạo ở
nhỏ tới kinh doanh ngoại tệ của NHTM. Cụ thể nh : sự ra đời của các liên
minh tiền tệ khu vực hay sự xuất hiện của các đồng tiền chuẩn quốc tế khác bên
cạnh đồng USD. Một ví dụ rõ ràng gần đây nhất là sự ra đời của đồng EURO -
đồng tiền chung của 11 nớc trong liên minh châu Âu từ ngày 1/1/99. Kim nghạch
thơng mại của 15 nớc trong châu Âu chiếm tới 21% tổng kim nghạch thơng mại
thế giới, so với Mỹ là 19,6%. Nh vậy vai trò độc tôn của USD trong thơng mại
quốc tế chắc chắn bị ảnh hởng. Với tiềm lực kinh tế mạnh và ổn định của châu
Âu, đồng EURO sẽ trở thành một đồng tiền dự trữ của thế giới và là một trong
những đồng tiền chủ yếu trong thanh toán, có vị trí "ngang ngửa" với đồng USD
của Mỹ và đồng JPY của Nhật. Các ngân hàng trên toàn cầu đều bị ảnh hởng trực
tiếp của sự kiện này. Các nhà kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng cần phải tính
toán lại cơ cấu dự trữ ngoại tệ, cải tiến thiết bị, đào tạo nhân viên thích ứng với
điều kiện mới này.
Kim ngạch xuất khẩu tăng trởng
Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế , tận dụng những lợi thế so sánh
của quốc gia trong xuất khẩu và khai thác những u thế từ bên ngoài trong nhập
khẩu để phát triển kinh tế xã hội . Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng
nhanh qua các năm . Trong giai đoạn 1990 - 1997 , kim ngạch xuất khẩu tăng
trung bình trên 20% năm . Nhu cầu nhập khẩu cũng tăng rất nhanh . Có những
kỳ , việc đáp ứng ngoại tệ cho thanh toán nhập khẩu khiến cho một số ngân hàng
phải lao đao .
Do ảnh hởng của khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới , năm 1999
kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam tăng trởng chậm lại . Song với chủ trơng
của nhà nớc ta khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất , kinh
doanh hàng xuất khẩu , cải cách thủ tục xuất nhập khẩu , cải cách hệ thống thuế
XNK ... cùng với xu hớng hội nhập kinh tế Việt Nam trong khu vực và thế
giới , hoạt động xuất nhập khẩu của nớc ta sẽ có những chuyển biến tích cực và
tăng trởng mạnh trong tơng lai.
Đầu t nớc ngoài gia tăng .

nam 1.
Trụ sở của Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông nghiệp
Việt nam đặt tại số 2 đờng Láng hạ, Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Sở giao dịch là đơn vị phụ thuộc, có con dấu để hoạt động kinh doanh theo
Điều lệ, Quy chế và theo uỷ quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt nam. Sở giao dịch có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp của
Ngân hàng Nông nghiệp, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Ngân
hàng Nông nghiệp và chịu trách nhiệm cuối cùng về các nghĩa vụ do sự cam kết
của Sở giao dịch trong phạm vi uỷ quyền.
Điều hành trực tiếp mọi hoạt động của Sở là Giám đốc, giúp việc Giám đốc
có một số Phó giám đốc, trong đó có một Phó giám đốc thờng trực do Giám đốc
phân công
Nhiệm vụ của Sở giao dịch
- Quản lý vốn nội, ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của Ngân hàng Nông nghiệp.Cân đối
điều hoà vốn ngoại tệ trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp. Chấp hành quy chế
về dự trữ bắt buộc, trạng thái ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nớc.
- Đầu mối thực hiện thanh toán quốc tế, quản lý tài khoản tiền gửi ngoại tệ của các
đơn vị thành viên tại Sở giao dịch và của Ngân hàng Nông nghiệp tại các ngân
hàng khác.
- Đầu mối kinh doanh trên thị trờng liên ngân hàng trong và ngoài nớc.
- Phát triển và quản lý hệ thống ngân hàng đại lý của Ngân hàng Nông
nghiệp.
- Huy động vốn:
+ Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, + Khai thác và
nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các tổ
chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nớc và nớc ngoài bằng đồng
Việt nam và ngoại tệ;
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng và thực hiện các
hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng Nông nghiệp;
- Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn uỷ thác của chính phủ và các tổ chức kinh tế,

trong hoạt động tín dụng.
Ngân hàng Nhà nớc Việt nam đã ban hành nhiều chủ trơng, chính sách mới tạo
hành lang pháp lý và tự chủ cho các Ngân hàng thơng mại trong hoạt động kinh
doanh nh: cơ chế điều hành lãi suất thoả thuận, quy chế cho vay theo quyết định
1627/2001/NHNN... theo đó, đối tợng cho vay đợc mở rộng, tạo hành lang pháp
lý rõ ràng, thông thoáng để NHNo&PTNT Việt Nam nói chung và Sở giao dịch
nói riêng mở rộng hoạt động tín dụng.
Ngay từ đầu năm 2002, Ban lãnh đạo NHNo&PTNT Việt Nam đã xác định rõ
mục tiêu chiến lợc kinh doanh, phê duyệt đề án mở rộng kinh doanh giai đoạn
2002-2005 của các chi nhánh trên địa bàn Hà nội đã thúc đẩy hoạt động kinh
doanh mở rộng thị phần của các chi nhánh trong hệ thống NHNo&PTNT Việt
Nam.
Tỷ giá USD/VND tăng nhẹ ở mức kiểm soát đợc, quan hệ cung cầu ngoại tệ
trên thị trờng bớt căng thẳng, lợng ngoại tệ mua vào tăng, đảm bảo cân đối nguồn
ngoại tệ đáp ứng nhu cầu của toàn hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam.
Khó khăn
Cạnh tranh giữa các Ngân hàng thơng mại trên địa bàn Hà nội ngày càng
gay gắt, đặc biệt là cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về thị phần cho vay đối với
khách hàng có uy tín. Lãi suất huy động vốn nội tệ có xu hớng liên tục tăng, trong
khi lãi suất cho vay tăng chậm, chênh lệch lãi suất hai đầu ngày càng co hẹp.
Tình trạng thiếu vốn VND diễn ra phổ biến trong các Ngân hàng thơng
mại, một số điểm NHNo&PTNT Việt Nam mất cân đối vốn VND, gây khó khăn
cho việc thực hiện dự trữ bắt buộc và khả năng thanh toán của hệ thống
NHNo&PTNT Việt Nam.
Lãi suất ngoại tệ USD trên thị trờng tiền tệ quốc tế duy trì ở mức thấp,
trong thời gian dài vừa gây khó khăn cho công tác huy động vốn ngoại tệ USD,
vừa giảm lợi nhuận của nguồn vốn đầu cơ ra nớc ngoài, ảnh hởng đến tình hình tài
chính của toàn bộ hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam.
Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2002
a. Kết quả thực hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của tổng giám đốc

động hợp lý, giả Là Sở giao dịch đầu mối nhận điều hoà vốn nội, ngoại tệ cho các
chi nhánh trong toàn hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam. Đến 31/12/2002 có 90
chi nhánh mở tài khoản ngoại tệ và thực hiện thanh toán, tăng 04 chi nhánh so với
năm 2001. Khối lợng giao dịch trên tài khoản tăng nhanh: Doanh số điều vốn
ngoại tệ năm 2002 đạt 2.012 triệu USD, giảm 288 triệu USD so với năm 2001;
doanh số điều hoà vốn nội tệ năm 2001 đạt 127.972 tỷ đồng tăng 22 tỷ đồng so
với năm 2001.
Thực hiện hạch toán các nghiệp vụ của Sở giao dịch đầu mối nh: quản lý
cân đối và hạch toán vốn quỹ của NHNo&PTNT Việt Nam; Hạch toán các nghiệp
vụ hoạt động thị trờng mở, thị trờng liên Ngân hàng; Đầu mối tiếp nhận, quản lý ,
thanh toán vốn vay các dự án vay vốn nớc ngoài; Tập trung và thực hiện hạch toán
các lệnh chuyển tiền liên hàng toàn quốc; quản lý tài khoản NOSTRO, tài khoản
tiền gửi ngoại tệ của các chi nhánh đảm bảo kịp thời, chính xác, an toàn.
Kết quả kinh doanh của Sở giao dịch
Huy động vốn.
Bảng 01: Tình hình huy động vốn giai đoạn 2000 2002
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số
tiền
Tỷ
trọng

1113
66%
34%
Cơ cấu vốn theo thành
phần kinh tế.
Tiền gửi của dân c.
Tiền gửi của tổ chức kinh tế.
656
1003
39,54%
60,46%
838
1389
38%
62%
1279
1961
39%
61%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2000 2002)
Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2002 đạt 3.240 tỷ đồng tăng 1025 tỷ
đồng so cuối năm 2001, tốc độ tăng trởng 46%/năm và đạt 108,6% kế hoạch cả
năm 2001. Trong đó:
Tiền gửi không kỳ hạn 1.179 tỷ đồng, chiếm 36% trong tổng nguồn vốn huy
động; tăng 161 tỷ đồng (tăng 15,8%) so với đầu năm.
Tiền gửi có kỳ hạn 2.061tỷ đồng, chiếm 64% trong tổng nguồn vốn; tăng
872 tỷ so với cuối năm 2001 trong đó nguồn vốn có kì hạn từ 12 tháng trở lên
tăng nhanh và chiếm 51,3% trong tổng nguồn vốn, tăng nhanh hơn nguồn vốn
không kì hạn. tuy vậy Sở giao dịch vẫn duy trì đợc tỷ trọng nguồn vốn tiền gửi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status