Báo cáo : "Sự tập trung hóa báo chí ở các nước tư bản chủ nghĩa" - Pdf 74

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ
***
Đề tài:
Sự tập trung hóa báo chí ở các nước tư bản
chủ nghĩa
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Bùi Tiến Dũng
Nhóm thực hiện : Nhóm 3
Lớp : K50 báo chí
Hà Nội
Tháng 5 – 2008
…….o0o……...
Mục lục
Nội dung
Chương I: Khái quát về tập trung hóa báo chí
1. Khái niệm về tập trung hóa báo chí
2. Quá trình tập trung hóa báo chí
2.1. Theo X.I. Bê - lốp
2.2. Theo khái niệm
3. Nguyên nhân dẫn đến tập trung hóa báo chí
4. Những biểu hiện của tập trung hóa báo chí
Chương II: Tập đoàn báo chí
1. Khái niệm về tập đoàn báo chí
2. Nguyên nhân và dạng thức hình thành các tập đoàn báo chí
3. Những tập đoàn báo chí nổi tiếng trên thế giới
3.1. Rupert Murdoch – huyền thoại của truyền thông thế giới
3.2. Tập đoàn báo chí lớn ở Mỹ
3.3. Tập đoàn báo chí lớn ở Pháp
3.4. Tập đoàn báo chí lớn ở Anh
3.5. Tập đoàn báo chí lớn ở Đức
4. Chủ trương hình thành tập đoàn báo chí ở Việt Nam

Nhóm sinh viên thực hiện:
1. Nguyễn Thu Yến (nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Đóa
3. Trần Thúy Đạt
4. Lữ Thị Hoa
5. Đỗ Thị Thu Hường
6. Trịnh Vân Khanh
7. Nguyễn Phương Mai
8. Nguyễn Vy Linh
9. Nguyễn Thị Diễm Linh
10. Phí Hương Ly
11. Nguyễn Thanh Tam
12. Dương Phương Thảo
13. Lê Thị Trang
14. Nguyễn Huyền Trang (8/6/1987)
15. Đồng Thị Thùy
16. Nguyễn Thị Tươi
17. Lưu Thị Vân
Chương I: Khái quát về tập trung hóa báo chí
1. Khái niệm tập trung hóa báo chí:
Hiện nay, vẫn có những quan điểm khác nhau về khái niệm tập trung hóa và tập
trung hóa báo chí. Theo từ điển Tiếng Việt thì từ “tập trung” có nghĩa là dồn lại, tụ họp ở
1 nơi, hoặc là dồn sức lực, trí tuệ, hướng hoạt động vào việc gì” (trang 1444 Đại từ điển
Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, NXB ĐHQG TPHCM, 2007). Còn tập trung hóa thì được
hiểu như quá trình dồn lại, tụ hợp lại tại một nơi, một điểm. Hay nói cách khác hiểu một
cách đơn giản nhất thì tập trung hóa báo chí là quá trình tích tụ các cơ quan báo chí lại
với nhau, tập hợp lại thành một cơ quan to nhất.
Theo Pierre Albert trong cuốn “Lịch sử báo chí” thì cho rằng: “Quá trình tập trung
hóa là quá trình mà các báo có số lượng phát hành lớn hơn nuốt hoặc loại bỏ với các báo
có số lượng phát hành thấp hơn để củng cố địa vị của mình”.

- Hướng thôn tính, thâu tóm khi các tập đoàn công nghiệp – tài chính mua lại các
phương tiện thông tin đại chúng. Điều này cho phép các giới kinh doanh lớn vận động
hành lang cho các quyền lợi của mình trong quá trình chuẩn bị đưa ra các quyết định
quan trọng của nhà nước và hình thành công luận theo hướng cần thiết. Ngoài ra điều
này còn cho phép đạt được tình hình ổn định về tài chính của toàn bộ tập đoàn và giảm
phần nào mức độ lệ thuộc của các phương tiện thông tin đại chúng và những đơn đặt
hàng quảng cáo. Về phương diện này, ví dụ có ý nghĩa là các cơ sở báo chí của những
hiệp hội ấy sát nhập vào cơ cấu nhà nước, để tạo thành những hiệp hội báo chí chuyên
ngành đóng vai trò tích cực trong quá trình tự điều chỉnh của báo chí. Chẳng hạn, tạp chí
Tín hiệu là ấn phẩm của Hội công nghiệp và cục thông tin của quân đội Mỹ. Hiệp hội
các nhà báo của công nghiệp dầu lửa cũng hoạt động mạnh…Một ví dụ tiêu biểu nữa là
tập đoàn báo chí News Corportion và các hoạt động thôn tính các công ty khác của tập
đoàn này.
- Các công ty thông tin đại chúng hùng mạnh mua lại các xí nghiệp công nghiệp
không có liên quan đến hoạt động kinh doanh, biên tập – xuất bản hoặc hoạt động phát
thanh – truyền hình. Nếu như trước kia các tờ - rớt báo chí mua lại các cánh rừng và các
xí nghiệp sản xuất giấy hoặc ký kết các thỏa thuận đối tác với các xí nghiệp ấy thì giờ
đây những tờ - rớt ấy xâm nhập vào khắp nơi: từ công nghiệp rừng xenluylô- giấy cho
đến các ngành dịch vụ, hoạt động kinh doanh giải trí, xâm nhập vào những ngành điện tử
mới nhất và vật lý hạt nhân. Trên cùng một mức độ đó có thể phác họa kiểu hoạt động
như vậy của phương tiện thông tin đại chúng thông qua ví dụ về tập đoàn “The New
York Times Corporation” cùng với các các tổ chức và các hang con của nó. Tập đoàn ày
có những cánh rừng của mình ở Canada, có những xí nghiệp xenluylô –giấy, các nhà
xuất bản, các mạng lưới phát thanh và truyền hình, các tổ chức của những giới chuyên
gia máy tính và các lập trình viên…
- Cải tổ cơ cấu các tổ chức thông tin đại chúng độc quyền, phân phối lại các luồng
thông tin trên các kênh thông tin. Người ta thấy hiện tượng các luồng thông tin kinh
doanh được chuyển sang các hãng tin chuyên biệt và các máy tính chuyên biệt. Chẳng
hạn nguồn thu chủ yếu của hãng tin Reuters không phải từ những người đặt mua thông
tin quốc tế, mà là từ hoạt động đưa tin về các hoạt động của sở giao dịch trong những

 Sự sát nhập của AOL và TIME WARNER
· Ngày 11/2/2000 : AOL và Time Warner chính thức sát nhập và mang tên AOL
TIME WARNER (A-T)
· Vào thời gian AOL và Time Warner hợp nhất, giá cổ phiếu của AOL tăng cao do
sự bùng nổ của các công ty dotcom. Tập đoàn sáp nhập AOL Time Warner hiện có 135
triệu khách hàng; chỉ riêng AOL đã thu hút thêm được 1,3 triệu khách hàng mới trong
năm 2001. Tuy nhiên, sau khi bong bóng Internet xẹp xuống, giá cổ phiếu của hãng này
đã giảm rất mạnh
· Công việc thống nhất hoạt động kinh doanh của hai công ty cũng có rất nhiều khó
khăn. Có một khoảng cách văn hoá kinh doanh lớn giữa hai công ty bởi AOL mới có
thời gian hoạt động 20 năm, trong khi Time Warner đã có thâm niên tới 78 năm, với
những ấn phẩm báo chí uy tín từ Fortune tới Sports Illustrated. Đã có những lời kêu ca,
phàn nàn từ phía các phóng viên của Time và CNN tỏ ý lo lắng việc xiết chặt chi phí
hoạt động có thể ảnh hưởng tới chất lượng các bài báo.
· Năm 2001, sau khi sát nhập, hoạt động kinh doanh của tập đoàn này rất ảm đạm.
Cổ phiếu của AOL TIME WARNER đã giảm 9% mặc dù lợi nhuận trước thuế đã tăng
20%, đạt 2.5 tỷ $.
· Tính riêng trong quý I/2001, A-T lỗ 1.8 tỉ $. Nguyên nhân chính gây ra sự thất bại
này là do doanh thu quảng cáo của hãng giảm sút tới 14%.
· Ngay việc sáp nhập AOL và Time Warner cũng đã có nhiều khó khăn. Với số vốn
210 tỷ USD, giờ đây tập đoàn AOL Time Warner đã lớn gấp đôi đối thủ cạnh tranh lớn
nhất của mình là Viacom với số vốn gần 100 tỷ USD. Hai tổng hành dinh cách nhau hơn
320 km: tổng hành dinh của AOL ở miền bắc Virginia, hiện là văn phòng điều hành của
ông Case, và tổng hành dinh của Time Warner tại Manhattan là văn phòng của ông
Levin. Tổng số nhân viên của tập đoàn hiện lên tới 90.000 người.
· Tháng 5/2002, ông Ted Turner (phó chủ tịch) quyết định ra đi, gây nhìêu xáo trộn
trong hoạt động kinh doanh của tập đòan. Chủ tịch AOL TIME WARNER Steve Case
cũng thôi giữ chức và tổng giám đốc điều hành Dick Parsons sẽ thế chỗ.
· Báo chí đưa tin rằng Time Warner đã đàm phán căng thẳng trong suốt cả năm qua
về tương lai của AOL, không loại trừ cả khả năng bán tống bán tháo toàn bộ gánh nặng

đầy thuyết phục.
• Thôn tính, thâu tóm: đây là quá trình tập trung hóa diễn ra bằng cách một
công ty hoặc một tập đoàn lớn mua lại các công ty khác và củng cố công ty ban đầu
thành những tập đoàn báo chí hùng mạnh.
Ví dụ: quá trình thâu tóm các công ty khác của tập đoàn báo chí News
Corporation – Rupert Murdoch:
Ông trùm truyền thông Rupert Murdoch sinh ngày 11/3/1931 tại Melbourne,
Australia. Trước đây, nhà tài phiệt này đã từng học ở Đại học Oxford danh tiếng và làm
việc cho tờ Daily Express trong hai năm. Năm 1952 ông trở về Australia và thừa kế tờ
The Adelaide News của Keith Murdoch, cha ông. Đó là một tờ báo tỉnh lẻ hạng hai. Mục
tiêu của ông lúc bấy giờ là mang tờ Tin tức Adelaide vươn ra khỏi thị trấn Adelaide. Kể
từ đó, cuộc đời của Rupert Murdoch luôn gắn liền với những thành công mang tầm quốc
tế, ông từng bước sở hữu hết tờ báo này đến tờ báo khác ở khắp mọi nơi: ở Sydney là tờ
Mirror, ở London là các hãng News of the World và the Sun, ở New York là tờ New York
Post.
Năm 1954-1965: mua tờ The Sunday Times, Tạp chí Perth và New Ideas.
Năm 1963: sở hữu Wollonggong Win4 TV. Sau đó, ông mua thêm Kênh 9 của đài
truyền hình Sydney.
Năm 1977: Mua thời báo New York Post với giá 30 triệu USD, đến năm 1988 bán
sang tay để có tiền mua đài truyền hình và cuối cùng lấy lại vào năm 1993. Murdoch đã
vào thị trường truyền thông Mĩ bằng cách mua tờ San Antonio News (1973), ngay sau
đó sáng lập tờ National Star.
Năm 1979, Murdoch thành lập News Corporation trên đất Úc và bắt đầu thu mua
những tờ báo và tạp chí hàng đầu London (Anh) và New York (Mĩ), cũng như thu mua
nhiều tập đoàn truyền thông khác.
Năm 1985, Murdoch nhập quốc tịch Mỹ để có thể dễ dàng mua các đài truyền hình
Mỹ hơn. Cũng trong năm này, ông đã sở hữu 50% hãng phim 20
th
Century Fox.
Năm 1986: Ông tiếp tục mua hãng MetroMedia, hãng này sở hữu 7 đài truyền hình

20) và một phần hệ thống truyền hình trả tiền BskyB (năm 1990).
Vào năm 1993, News Corp mua 63,6% cổ phiếu của công ty Star TV có trụ sở tại
Hồng Kông với giá 525 triệu USD. Kênh truyền hình vệ tinh này hiện đang giúp các
chương trình của News Corp đến với trên 300 triệu người xem trên 53 quốc gia toàn thế
giới với tham vọng tiến vào thị trường truyền thông Trung Quốc, bởi đây là kênh truyền
hình vệ tinh phát khắp khu vực châu Á. Ông trùm truyền thông Rupert Murdoch rất tâm
đắc với kế hoạch này, đặc biệt là khả năng chương trình sẽ trở thành đòn bẩy cho hãng
phim Twentieth Century Fox của tập đoàn thâm nhập vào thị trường châu Á rộng lớn.
Trong suốt thập niên 90 của thế kỉ 20, News Corp chiếm thị phần lớn trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền ở cả 3 châu lục. Năm đầu thế kỉ 21, News Corp thành công trong
lĩnh vực kinh doanh Internet với AOL.
Năm 2003: Sau trận “hỗn chiến” với các đối thủ đấu thầu, Murdoch giành quyền
kiểm soát đối với 38% cổ phiếu (trị giá 6,8 tỷ USD) của công ty truyền hình qua vệ tinh
DirecTV.
Trong năm 2005, Rupert Murdoch đã từng chi 580 triệu USD để giành lấy
MySpace trước con mắt tiếc rẻ của những công ty truyền thông khác. Trang web
MySpace.com do InterMix Media sở hữu, mới chỉ hai năm tuổi nhưng chỉ riêng 1 tháng
đã thu hút được 18 triệu lượt người tới để nghe hay xem hàng trăm ngàn nghệ sĩ cho
phép công chúng nghe thử các tác phẩm của họ trước khi chúng xuất hiện tại các cửa
hàng.Sau đó chỉ một năm, Google đã cam kết với News Corp về việc phân chia số tiền
900 triệu USD là doanh số quảng cáo cho 3 năm sau khi thỏa thuận trở thành công cụ
tìm kiếm trên mạng đặc biệt cho trang web MySpace. Cũng trong năm 2005, News
Corporation mua tiếp trang web Scout.com, một trang web thể thao trường học. Và vào
tháng 09/2005, News Corp tiếp tục mua lại IGN Entertainment, một trang web trò chơi
video và giải trí, với giá 650 triệu đôla
Năm 2007: Nhà tài phiệt truyền thông Rupert Murdoch đã thắng trong cuộc chiến
giành quyền kiểm soát đối thủ cạnh tranh của mình là hãng truyền thông Mỹ Dow Jones,
chủ sở hữu của tờ nhật báo nổi tiếng phố Wall. Tin tức cho biết chủ sở hữu News
Corporation sẽ trả 5,6 tỉ USD cho Dow Jones sau khi hai bên đạt được thoả thuận cuối
cùng. Điều quan trọng nhất là ông trùm Murdoch đã thành công trong việc đảm bảo sự

tôn trọng và bảo vệ vị trí của tờ báo.
Theo nhiều chuyên gia phân tích, Rupert Murdoch bỏ ra hơn 5 tỉ USD để mua tờ
báo này bởi bốn bốn mối lợi được xem xét: mở rộng thị phần của tập đoàn ra toàn cầu vì
trước giờ báo của News Corporation chỉ là báo địa phương; nâng cao thanh danh của
vương quốc Murdoch nhờ vào uy tín nghề nghiệp của WSJ trong giới kinh doanh toàn
cầu; tìm thêm lợi tức trên thị trường cổ phiếu và cuối cùng, hưởng lợi từ thị trường
quảng cáo tăng mạnh sau thương vụ thắng lợi này.
Năm 2008: Rupert Murdoch “nhảy” vào tranh giành Newsday cùng hai ông lớn
khác trong ngành kinh doanh truyền thông ở New York. Đây là tờ báo in lớn nhất của
Long Island – hòn đảo ở phía Tây Nam thành phố New York thuộc tập đoàn truyền
thông Tribune.
Tập đoàn truyền thông Tribune, chủ nhân của tờ báo in
Newsday - vừa công bố bản báo cáo tài chính trong năm
2007. Chỉ tính riêng quý tư của năm 2007, tờ báo đã chịu lỗ
78.8 triệu USD. Con số này quả là không tưởng tượng được
nếu đem so với mức lợi nhuận 239 triệu đô cùng kỳ năm
trước đó. Cả năm 2007, Newsday chỉ thu lãi khoảng87 triệu
đô – giảm 594 triệu so với năm 2006.
Ba đại gia được điểm mặt đặt tên trong cuộc chiến
tranh giành Newsday lần này gồm có Rupert Murdoch, chủ tịch tập đoàn News
Corporation, ông chủ của tờ The New York Post; Mortimer B.Zuckerman – nhà kinh
doanh bất động sản và là chủ nhân của tờ The Daily News; James L.Dolan - thành viên
trong tập đoàn gia đình quản lý Cablevision – một kênh truyền hình cáp.
Mùa thu năm 2007, Newsday đã từng báo cáo mức phát hành ấn phẩm mỗi tuần đạt
khoảng 387.000 tờ - đứng thứ 10 trong top những tờ báo in bán chạy nhất trong cả nước
(và là mức cao nhất dành cho một tờ báo chỉ phục vụ nhu cầu thông tin cho người đân ở
vùng ngoại ô chứ không hẳn trong nội vi thành phố). Trong khi đó, The Daily News và
The New York Post lần lượt chiếm vị trí thứ năm và sáu với số lượng phát hành ở mức
tương đương nhau, vào khoảng 681.000 và 667.000 tờ. Điểm mạnh của The Daily News
nằm ở số ấn phẩm phát hành dành riêng cho ngày Chủ nhật đạt 726.000 tờ năm 2007.

giá đồng loạt 1 xu.)
- Vận động cho những mục đích, những lợi ích chung của xã hội, đặc biệt là tầng
lớp người nghèo.
Đây chính là những điều căn bản mà các tập đoàn báo chí lớn trên thế giới hiện nay
vẫn thường ứng dụng trong chiến lược kinh doanh của mình. Hay nói cách khác nó là
những biểu hiện đầu tiên của quá trình tập trung hóa báo chí.
Những điều kiện tiền đề dẫn đến sự tập trung hóa báo chí có thể kể đến là:
• Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật:
- Những tiến bộ khoa học kỹ thuật thời bấy giờ như: 1925: sự phát triển của
máy truyền ảnh (bélinographe) được sử dụng rộng rãi trong việc truyền ảnh đi xa. Điện
thoại xuất hiện trong những năm 1880 rồi cũng được sử dụng rộng rãi trước đó làm thay
đổi sâu sắc cung cách làm báo. In ty-pô vẫn là phương thức in phổ biến của báo chí song
lỹ thuật in hélio và ốp – xét tiến bộ rất nhanh. Hai kỹ thuật này chủ yếu để in các tạp chí.
Tiến bộ của hélio(in ảnh chìm) càng phân biệt rõ nhật báo với những báo khác, nhất là
kỹ thuật này cho phép in màu đẹp. Mỗi nhà in báo giờ đây bao gồm những xưởng
chuyên khắc ảnh, in ảnh; phần minh họa bằng tranh ảnh tăng lên rất nhiều trên các trang
báo. Sự chuyển biến này, đã khởi đầu từ hồi đầu thế kỷ, làm biến đôi bộ mặt các báo, sự
hấp dẫn của báo không còn chỉ ở phần “đọc”.
- Thời kỳ này việc đòi hỏi ấn hành nhật báo hay báo chí định kỳ đòi hỏi
những phương tiện kỹ thuật và nguồn nhân lực lớn đến mức chỉ có những cơ sở báo chí
cỡ lớn mới đảm đương nổi. Từ những máy in quay đầu tiên cho đến máy in linô, ngành
in liên tục có những tiến bộ mới, tốc độ in báo rất nhanh mặc dù mỗi số báo có số trang
càng ngày càng tăng. Những vật tư đắt tiền và cồng kềnh đòi hỏi số tiền đầu tư, cả động
sản và bất động sản lớn.
• Những khó khăn về kinh tế:
- Sự tập trung hóa báo chí diễn ra còn do những cạnh tranh càng ngày càng
được đẩy nhanh qua các cuộc khủng hoảng kinh tế. Tiền sụt giá ở phần lớn các nước
buộc báo phải tăng giá bán, tự nhiên số người mua báo giảm đi và chỉ có những cơ sở
lớn, vững mạnh mới chống chọi lại được. Ví dụ: ở Nhật năm 1917 báo bán 10xu, tăng
lên 15 xu vào năm 1919, 20 xu năm 1920, 25 xu năm 1925, 30 xu năm 1936, 40 xu năm

hội. một chủ nhân mạng lưới truyền hình không thể phục vụ hơn 35% số khán giả trên
cùng một địa bàn ấy và chỉ có quyền sở hữu một đài phát(có thể tối đa là hai ở một số
nước) cho một tầng lớp xã hội). Đã có sự cho phép các đài phát thanh trên sóng cực ngắn
phát lại các chương trình phát sóng trên các đài phát thanh sóng trung.…. Nói một cách
khác, pháp luật đã ủng hộ, đồng tính, mở đường cho tập trung hóa phát triển nhanh,
mạnh tất yếu dẫn đến dự hình thành các tập đoàn báo chí hùng mạnh ở các nước TBCN.
Tất cả những nguyên nhân trên chính là những tiền đề quan trọng để dẫn đến sự tập
trung hóa báo chí và sự hình thành nên các tập đoàn báo chí.
4. Những biểu hiện của tập trung hóa báo chí
- Quá trình giản bớt số lượng của những tờ báo độc lập:
+ Cả hai xu hướng phát triển theo chiều dọc và liên kết, bành trướng theo chiều
ngang của các tập đoàn báo chí đều dẫn tới một kết cục chung là tình trạng tập trung,
độc quyền ngày càng tăng. Nếu như vào năm 1892, “chuỗi mắt xích” đầu tiên ra đời ở
Mỹ với sự góp mặt của 5 tờ báo, thì ngày nay, 50 tập đoàn lớn đang kiểm soát hầu hết
các phương tiện truyền thông đại chúng của nước Mỹ. Theo một nghiên cứu của tờ The
Washington Post, trong những năm tới, chắc chắn toàn bộ báo chí Mỹ sẽ tập trung trong
12 tập đoàn lớn nhất. Ở các nước châu Âu, tình trạng cũng diễn ra tương tự. Nhiều tờ
báo nhỏ hoặc là đóng cửa, hoặc là trở thành bộ phận của các công ty lớn. Nhiều tờ báo
nổi tiếng cũng không thể tồn tại độc lập mà đã phải bán lại cho các tập đoàn xuyên quốc
gia.
+ Năm 1999, ở Mỹ trong tổng số 1489 tờ báo hằng ngày thì chỉ có 269 tờ nghĩa là
18% là những tờ báo độc lập còn lại thì đều thuộc quyền ở hữu của các tập đoàn báo chí.
Tổng số các tờ báo hàng ngày cũng tiếp tục giảm. Năm 1998 đã có 20 tờ báo hằng ngày
đóng cửa, tính đến tháng 2/1999 chỉ còn 1489 tờ báo. Trong 10 năm trở lại đây đã có
153 tờ báo hằng ngày chấm dứt tồn tại.Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc này
cũng phải kể đến sự thâu tóm của các tập đoàn báo chí đối với các tờ báo độc lập.
- Sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn báo chí lớn:
Tỉ lệ tài chính trong những phương tiện truyền thông đại chúng chính
Lượng tiền mặt khổng lồ cho các
hoạt động sáp nhập và thôn tính

ngành truyền hình, báo chí và điện ảnh như Ruppert Murdoch, Chủ tịch kiêm Tổng giám
đốc News Corp; Gerald Levin, Chủ tịch Hãng American Online (AOL) Time Warner;
Thomas Middelhoff, đứng đầu Tập đoàn Bertelsmann; hay Jean - Marie Messier, Chủ
tịch Vivendi Universal, đã và đang tiến hành cái gọi là “cuộc chạy đua bành trướng
khổng lồ” bằng cách mua lại, sáp nhập, thôn tính các công ty nhỏ hơn không đủ sức cạnh
tranh. Bỏ ra hàng tỷ Đôla Mỹ, các ông chủ này, phần lớn là người Mỹ, đã đẩy nhanh
những sự tập hợp mới trong những ngành chiến lược và do vậy, đã tương đồng hoá trên
toàn hành tinh việc xuất bản âm nhạc, các chương trình truyền hình và cả những bộ phim
truyện dài trực tiếp xuất xưởng từ Hollywood. Quyền lực chi phối của các tập đoàn này
gần như mọi mặt của đời sống văn hoá.
Ví dụ như: Công ty Điện lực General Electric năm 1986 đã mua mạng truyền hình
Mỹ NBC; Công ty Viễn thông khổng lồ Mỹ AT&T năm 1999 đã nắm quyền kiểm soát
hệ thống truyền hình “cáp” TCI, rồi đến năm 2004 là mạng Mediaone. Từ năm 1995,
Tập đoàn Viacom đã thôn tính Công ty Điện ảnh Paramount, và Hãng Truyền hình CBS;
Walt Disney đã mua các hãng TV, ABC, Tập đoàn Time Warner đã hợp nhất với Turner
Broadcasting; Tập đoàn Bertelsman và Audiofina đã thành lập Tập đoàn CLT-UFA.
Năm 2000, Tập đoàn AOL tuyên bố hợp nhất với Time Warner. Còn Vivendi và Canal
Plus, một tập đoàn tư bản Pháp đã hợp nhất với Seagram, trở thành Mỹ hoá và là tập
đoàn truyền thông lớn thứ hai thế giới. Rupert Murdoch đã len chân vào ngành Truyền
hình phải trả tiền theo yêu cầu tại Italia và Đức.
Năm 2004, tính theo doanh số, trên thế giới có 7 tập đoàn truyền thông lớn được
xếp hạng như sau: AOL Time Warner: 38 tỷ USD; Vivendi Universal: 27 tỷ USD;
News Corporation: 25,5 tỷ USD; Walt Disney: 25 tỷ USD (Bao gồm hãng ABC
Network, Disney Channel, Walt Disney Pictures, Infoseck...) Viacom: 23 tỷ USD;
Comcast: 19 tỷ USD (Bao gồm CBS, MTV, Paramount....)
- Sự tập trung quyền lực báo chí vào tay một số ít nhân vật:
+ Quá trình tiến công vào các phương tiện thông tin đại chúng đã dẫn đến sự tập
trung tất cả các mạng lưới báo chí vào tay một số ít nhân vật. Theo tính toán của các
chuyên gia Mỹ thì có 50 tập đoàn lớn đang kiểm soát hầu hết các phương tiện thông tin
đại chúng ở Mỹ: 20 tập đoàn trong số đó nắm một nửa tổng số các tờ báo trên cả nước, 4

hàng chục tờ báo, 2 đài phát thanh và 5 đài truyền hình. Ngoài ra tập đoàn này còn có cổ
phần trong một loạt công ty điện ảnh, các tổ chức thăm dò công luận, các mạng lưới
truyền hình, bao gồm cả truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh ở 35 nước. Cũng tương
tự như vậy, tập đoàn “Capital city communication” trước đây đã từng sở hữu 40 ấn phẩm
định kỳ, 12 đài phát thanh và 7 đài truyền hình, thì đến nay đã mua lại dãng truyền hình
“BBC”. Điều này đã đem lại cho tập đoàn này thêm 12 đài phát thanh và 5 đài truyền
hình cộng với hệ thống cung cấp các chương trình của mình cho 1596 đài phát thanh và
214 đài truyền hình nữa. Qua các con số trên ta có thể phần nào hiểu được bàn tay của
các tập đoàn đã bao phủ gần như toàn bộ nền báo chí của một nước và bắt đầu vươn ra
các nước khác, các châu lục khác. Sự thịnh vượng của đế chế báo chí Rupert Murdoch
cũng là một bằng chứng rõ nét cho sự thống trị của các tập đoàn báo chí đến với nền
truyền thông.
+ Những tập đoàn báo chí lớn thường xuyên bắt tay với những tổ chức ngân hàng
độc quyền quốc gia hoặc xuyên quốc gia. Chính sự bắt tay, xâm nhập lẫn nhau về quyền
lợi giữa giới tư bản công nghiệp và các phương tiện thông tin đại chúng đã đem lại
những khoản lợi nhuận chưa từng thấy trước đây. Một nghiên cứu của giáo sư Piter
Phillips, trường Đại học Sonoma cho thấy 118 người là thành viên hội đồng quản trị của
10 tập đoàn báo chí lớn nhất nước Mỹ cũng đồng thời có mặt ở hội đồng quản trị của
288 tập đoàn kinh tế khác. Trong khi các tập đoàn The tribune, New York Times và
Gannett đều có thành viên ở hội đồng quản trị của tập đoàn Pepsi, thì Coca Cola và J.P.
Morgan lại có đại diện chia xẻ ghế hội đồng quản trị của cả NBC và Washington Post.
Thực tế này cho thấy sự liên kết rất chặt chẽ giữa các tập đoàn báo chí với các tập đoàn
kinh tế. Điều này khiến cho các trùm truyền thông này dễ dàng mua lại lại sáp nhập với
các công ty hoặc các tờ báo mà họ muốn qua việc sử dụng những mối quan hệ chính trị
cũng như thương mại của mình trong việc đạt được những ấn phẩm, hay công ty mà họ
muốn có.

Trích đoạn Tập đoàn báo chí lớn của Đức: Những động thái cởi mở của nhà nước: Các bước chuẩn bị của các tờ báo có triển vọng trở thành tập đoàn báo chí:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status