THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG SÔNG NHUỆ - Pdf 74

THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG SÔNG NHUỆ
2.1 Vài nét về tình hình hoạt động của NHCT Sông Nhuệ
2.1.1 Khái quát về quá trình hoạt động
Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Incombank) được thành lập từ năm
1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Là một trong bốn Ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất tại Việt Nam,
Incombank cú tổng tài sản chiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống ngân
hàng Việt Nam. Nguồn vốn của Incombank luôn tăng trưởng qua các năm, tăng
mạnh kể từ năm 1996, đạt bình quân hơn 20%/ năm, đặc biệt có năm tăng 35% so
với năm trước.
Hiện nay, Ngân hàng Công thương Việt Nam là 1 doanh nghiệp nhà nước
hạng đặc biệt, đã và đang hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước
Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ Hà Tây có trụ sở chính tại số 10 Đường
Ngô quyền – Thành phố Hà Đông – Tỉnh Hà Tây. Với tư cách là chi nhánh cấp 1
trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam thì nhiệm vụ cũng như sự phát triển
của chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ không tách rời nhiệm vụ và sự
đi lên của ngành. Nhận thức rõ vai trò của mình, trong những năm qua, mặc dù
gặp rất nhiều khó khăn và thách thức nhưng Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ
đã hoạt động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của ngành, của địa phương
để tự vươn lên, thích nghi và đứng vững trong thị trường . Để làm được điều này ,
ban Giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên của chi nhánh đã không ngừng
nâng cao kiến thức , phẩm chất, đạo đức, tổng kết kinh nghiệm , khắc phục những
mặt chưa được, tận dụng những lợi thế trong kinh doanh . Với những nỗ lực đó,
lượng khách hàng quan hệ với chi nhánh ngày càng được mở rộng,vốn huy động
luôn đáp ứng nhu cầu của mọi thành phần kinh tế trong sản xuất kinh doanh và đầu
tư phát triển. Nhiều dự án , công trình do chi nhánh đầu tư và cho vay đã đem lại
hiệu quả thiết thực , góp phần vào tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ; giải quyết
công ăn việc làm, hoàn thành tốt các mục tiêu , nhiệm vụ của ngành, của Đảng và
Nhà nước, của địa phương. Do vậy, uy tín của chi nhánh ngày một tăng lên.
Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ Hà Tây luôn thực hiện phương châm

• Đội ngũ cán bộ trẻ nên ít kinh nghiệm; hiểu biết xã hội còn hạn chế tác
phong giao dịch , quảng bá thương hiệu còn lúng túng
• Các sản phẩm còn chưa đa dạng, tiến độ triển khai dịch vụ mới còn chậm,
các sản phẩm khi mới triển khai đôi khi còn trục trặc .
• Hệ thống kênh phân phối sản phẩm của chi nhánh còn ít, sản phẩm còn
nghèo nàn, chưa đa dạng và tiện ích chưa cao. Đặc biệt nguồn nhân lực có
chất lượng cao của Chi nhánh cũng như của ngành để đáp ứng nhu cầu quản
trị ngân hàng hiện đại còn yếu và còn thiếu
• Các Tổ chức tín dụng thành lập mới trên địa bàn ngày càng nhiều, các
NHTM như Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp cũng
mở rộng mạng lưới và nâng cấp chi nhánh trực thuộc Hội sở chính.
2.1.3. Tình hình hoạt động của Ngân hàng
2.1.3.1. Công tác huy động vốn
Năm 2006 nguồn vốn huy động tăng trưởng nhanh so với những năm trước đây,
đạt 423,508 tỷ đồng, bằng 118% kế hoạch NHCT giao và tăng 120,5 tỷ đồng so với
đầu năm. Trong đó:
- Tiền gửi của các đơn vị, tổ chức kinh tế :155,064 tỷ đồng, chiếm 36,6%.
- Tiền gửi tiết kiệm : 249 tỷ đồng, chiếm 59%
- Kỳ phiếu và chứng chỉ tiền gửi : 19 tỷ đồng, chiếm 4,4%
- Tiền gửi bằng VND : 335 tỷ đồng, chiếm 79%
- Tiền gửi ngoại tệ quy VND : 88 tỷ đồng, chiếm 21%
.
Một số biện pháp chủ yếu trong công tác huy động vốn là:
- Thực hiện khá tốt chính sách khách hàng, chính sách lãi suất; đa dạng hoá
nhiều hình thức gửi tiền về kỳ hạn, mức lãi suất
- Tăng cường công tác tiếp thị, chăm sóc khách hàng- kể cả đối với tổ chức
kinh tế và dân cư; thực hiện chính sách khuyến mại bằng tiền và bằng hiện vật đối
với người gửi tiền; khai thác tiềm năng lợi thế của khách hàng
- Trang bị khá đầy đủ phương tiện làm việc và kịp thời đáp ứng nhanh chóng
khi khách hàng đến giao dịch.

+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng chiếm: 33,5%
+ Bảo lãnh khác chiếm: 53,5%
- Quá trình cho vay thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, điều kiện tín dụng- kể
cả kiểm tra giám sát, thẩm định trước trong và sau khi cho vay.
- Thực hiện nghiêm túc, quy định, quy trình về giới hạn tín dụng đối với
khách hàng. Tổ chức nắm bắt phân tích, tổng loại, chấm điểm khách hàng trên cơ
sở đó thực hiện chính sách tín dụng hợp lý. Năm 2006 đã phân tích, phân loại tình
hình sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính của 12 khách hàng, có số dư trên 1 tỷ
đồng, trong đó:
+ Có 7 khách hàng loại BB+
+ Có 2 khách hàng loại BB-
+ Có 2 khách hàng loại BB
+ Có 1 khách hàng loại CC+
- Thực hiện kiểm tra sử dụng tiền vay: 260 món, số tiền: 225 tỷ đồng; bằng:
100% số món, số tiền phải kiểm tra. Khách hàng đã sử dụng đúng mục đích ghi
trong hợp đồng tín dụng.
- Thực hiện chỉ đạo của NHCT Việt Nam về tín dụng là: tăng trưởng tín
dụng lành mạnh, nâng cao chất lượng vốn đầu tư cho vay nên chi nhánh đã duy trì
và đầu tư cho vay ở mức hợp lý, hạn chế được rủi do có thể xảy ra.
- Cơ cấu cho vay chuyển dần theo hướng: tập trung vốn cho các ngành hàng,
mặt hàng, dự án có hiệu quả, giảm dần tỷ trọng cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản; đi đôi với cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chi nhánh chú trọng đầu tư
các dự án, phương án sản phẩm truyền thống của một số địa phương trên địa bàn
tỉnh như: Thành phố Hà Đông, Hoài Đức, Đan Phượng vói mức dư nợ gần 35 tỷ
đồng.
2.1.3.3. Các hoạt động khác
Ngoài những hoạt động nổi bật trên , kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT
Sông Nhuệ còn được thể hiện trong một số các công tác khác như:
• Đảm bảo tuyệt đối kho quỹ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu hợp lý của khách hàng
về tiền mặt cả nội và ngoại tệ

Trên cơ sở những văn bản đó, để các chi nhánh trong hệ thống thực hiện một
cách có hiệu quả nghiệp vụ bảo lãnh, Ngân hàng Công thương Việt Nam lần
lượt ban hành rất nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện như :
• Công văn số 2653/CV-NHCT5 của Tổng Giám Đốc NHCT Việt Nam hướng
dẫn thực hiện quy chế bảo lãnh ngân hàng ngày 30/10/2000.
• Công văn số 2710/CV- NHCT10 về việc hạch toán các khoản thu về bảo
lãnh ngân hàng ngày 06/11/2000.
• Công văn số 1199/CV- MHCT5 của Tổng Giám Đốc NHCT Việt Nam sửa
đổi bổ sung một số điều trong hướng dẫn thực hiện quy chế bảo lãnh ngân
hàng ban hành ngày 25/04/2001.
• Công văn số 1942/CV- NHCT5 của Tổng Giám Đốc NHCT Việt Nam sửa
đổi văn bản hướng dẫn thực hiện quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả
chậm ban hành ngày 14/06/2002.
Ngoài ra có thêm một số điểm khác áp dụng cho hệ thống Ngân hàng Công thương
mà NHCT Sông Nhuệ cần phải thực hiện. Đó là :
• Điều kiện bảo lãnh
Ngoài các điều kiện như trong quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày
26/6/2006 v/v thì NHCT Sông Nhuệ phải thực hiện thêm 2 điều kiện sau:
- Khách hàng phải có trụ sở làm việc hoặc hộ khẩu cùng địa bàn tỉnh, thành
phố với chi nhánh Ngân hàng Công thương bảo lãnh đóng trụ sở. Trường hợp khác
phải được sự đồng ý của Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam.
- Điều kiện với khách hàng đề nghị bảo lãnh là đơn vị hạch toán phụ thuộc
của pháp nhân là doanh nghiệp Nhà nước
+ Đơn vị phụ thuộc phải có giấy uỷ quyền đề nghị được bảo lãnh và cam
kết bảo lãnh của đơn vị chính.
+ Đơn vị chính có quan hệ tiền gửi, tín dụng trong hệ thống Ngân hàng
Công thương. Chi nhánh Ngân hàng Công thương giao dịch với đơn vị chính phải
có văn bản xác nhận về: số dư thực tế tiền gửi, tiền vay, bảo lãnh...
Trường hợp khách hàng đề nghị được bảo lãnh là đơn vị hạch toán kinh tế
phụ thuộc của pháp nhân không phải là doanh nghiệp Nhà nước; đơn vị chính là

- Bảo lãnh hoàn thanh toán
- Các loại bảo lãnh khác.
• Các hình thức bảo lãnh.
- Phát hành thư bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh. Theo yêu cầu của khách hàng
NHCT Sông Nhuệ có thể phát hành thư bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh thông
qua mạng truyền dữ liệu có ký hiệu mật.
- Ký xác nhận bảo lãnh đối với các hối phiếu, lệnh phiếu.
- Các hình thức khác theo qui định của pháp luật.
Khi thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh, cán bộ ngân hàng cần đối chiếu và sử
dụng các quyết định và công văn hướng dẫn trên nhằm đảm bảo hoạt động bảo
lãnh được an toàn và hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status