MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP
VỤ BAO THANH TOÁN TẠI VIỆT NAM
3.1. ĐỊNH HƯỚNG
Đối với nền kinh tế nước ta, định hướng phát triển dịch vụ bao thanh toán
nằm trong định hướng chiến lược phát triển dịch vụ ngành ngân hàng. Với quy mô
nhỏ của luận văn, tác giả xin nêu một số định hướng phát triển dịch vụ theo cả
chiều rộng lẫn chiều sâu của ngành ngân hàng trong giai đoạn từ 2006 đến 2010
nằm trong chiến lược phát triển dịch vụ của ngành ngân hàng cụ thể như sau:
[3]
- Phát triển dịch vụ ngân hàng gắn liền với tăng cường năng lực cung cấp dịch vụ ngân hàng trên cơ sở đổi
mới toàn diện và đồng bộ hệ thống ngân hàng (NHNN và các NHTM), đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, mở cửa thị trường tài chính trong nước và tự do hoá thương mại dịch vụ tài chính.
- Bảo đảm an toàn và hiệu quả hoạt động của từng NHTM, toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng truyền thống, đồng thời chủ động mở rộng các dịch
vụ ngân hàng mới dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực tài chính, quản
lý của NHTM.
- Phát triển dịch vụ ngân hàng là nội dung quan trọng trong chiến lược kinh doanh của các NHTM và là mục
tiêu trong chính sách quản lý, giám sát của NHNN. Các NHTM chủ động nghiên cứu và triển khai các dịch vụ ngân
hàng theo nhu cầu thị trường, không trái với pháp luật và phù hợp với năng lực của NHTM. Liên kết và hợp tác
trong nghiên cứu và phát triển, kinh doanh dịch vụ ngân hàng, nhất là các dịch vụ ngân hàng mới là cơ sở để nâng
cao chất lượng, hiệu quả kinh tế và cải thiện năng lực cung ứng dịch vụ của hệ thống ngân hàng.
- Chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng phải hướng tới mở rộng khả năng "cung" dịch vụ ngân hàng của hệ
thống ngân hàng, đồng thời góp phần kích "cầu" về dịch vụ ngân hàng của nền kinh tế. Nâng cao năng lực cạnh
tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên cơ sở bảo đảm:
(i) Môi trường hoạt động ngân hàng thông thoáng, an toàn và hấp dẫn;
(ii) Khuôn khổ thể chế hoàn chỉnh và phù hợp với thông lệ quốc tế;
(iii) Uy tín và thương hiệu của NHTM;
(iv) Nhân lực có trình độ cao;
(v) Công nghệ kỹ thuật hiện đại;
(vi) Quản trị ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế;
(vii) Tài chính của các NHTM lành mạnh.
bạch, hạn chế bao cấp và chống độc quyền cung cấp dịch vụ ngân hàng để từng
bước phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng thông thoáng, cạnh tranh lành mạnh, an
toàn hiệu quả. Từng bước tự do hoá gia nhập thị trường và khuyến khích các NHTM
cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ, uy tín, thương hiệu thay vì dựa chủ
yếu vào giá cả dịch vụ và mở rộng màng lưới.
- Từng bước nâng cao uy tín và thương hiệu của hệ thống ngân hàng Việt Nam trên thị trường tài chính quốc
tế. Đến năm 2010, hệ thống ngân hàng Việt Nam phấn đấu phát triển được hệ thống dịch vụ ngân hàng ngang tầm
với các nước trong khu vực ASEAN về chủng loại, chất lượng và có khả năng cạnh tranh quốc tế ở một số dịch vụ.
Bảng 3.1. Lộ trình phát triển dịch vụ ngân hàng giai đoạn 2006 - 2010
Loại dịch vụ ...... Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
1. Nâng cao chất lượng và đa dạng
hoá dịch vụ ngân hàng truyền
thống
2. Triển khai rộng rãi các dịch vụ
ngân hàng mới/mở rộng (bao thanh
toán)
- Thẻ thanh toán, séc cá nhân và
công cụ thanh toán không dùng tiền
mặt khác
- Dịch vụ ngân hàng điện tử
- Sản phẩm phái sinh tiền tệ, lãi
đây, tác giả xin đưa ra một số kinh nghiệm phát triển bao thanh toán sau một thời gian
ngắn triển khai phương thức này tại Việt Nam.
3.2. KINH NGHIỆM
Trước khi đi sâu vào nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bao thanh toán của các nước trên thế
giới, tác giả xin quay trở lại tên tuổi một số ngân hàng đầu tiên đạt được những thành công nhất
định trong lịch sử phát triển bao thanh toán.
[23]
Sự phát triển bao thanh toán tại các ngân hàng trên thế giới bắt nguồn từ sự
hình thành và phát triển bao thanh toán của các ngân hàng Mỹ vào những năm 1930.
Ngân hàng đầu tiên tham gia vào nghiệp vụ bao thanh toán và đến nay vẫn duy trì
dịch vụ này đó là Ngân hàng Trust Company of Georgia (nay là Trust Company
Bank), khởi nghiệp vào năm 1939. Đặt trụ sở ở Atlanta (Mỹ), ngân hàng Trust
Company of Georgia hợp tác kinh doanh với rất nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng
dệt may ở phía Nam và ngân hàng này cũng sớm nhận thấy các doanh nghiệp sử
dụng dịch vụ này chủ yếu của các đơn vị bao thanh toán, có trụ sở tại New York. Để
xây dựng ý tưởng thành lập một văn phòng hoạt động bao thanh toán và thu hút các
khách hàng, ngân hàng đã cử một nhóm chuyên gia tư vấn đến New York để tham
khảo thị trường. Ban đầu, nhóm chuyên gia tư vấn cho rằng bao thanh toán chỉ dành
cho những doanh nghiệp chuyên biệt, nó khác xa so với các hoạt động của ngân
hàng và đưa ra đề xuất rằng ngân hàng không nên cung cấp dịch vụ này.
Sau đó, với nỗ lực nghiên cứu thị trường, không chịu thua cuộc; ngân hàng
Trust Company of Georgia đã sớm trở thành đơn vị bao thanh toán thành công.
Tháng 2-1939, ngân hàng thiết lập một chi nhánh nhỏ và luôn đi cùng với các
doanh nghiệp dệt may để hỗ trợ doanh nghiệp của họ. Trong năm đầu hoạt động,
ngân hàng Trust Company of Georgia đã đạt tổng doanh số bao thanh toán là
1.830.000 đô la Mỹ và vào cuối năm đó, ngân hàng có 31 khách hàng.
Khi ngân hàng có trụ sở tại Atlanta phát triển thêm chi nhánh làm nghiệp vụ
bao thanh toán năm 1939 thì chiến tranh thế giới thứ II đang diến ra khốc liệt ở
châu Âu và các nhà máy dệt may ở Mỹ đang bị kéo vào cuộc chiến. Công việc duy
nhất mà ngân hàng phải làm đó là cung cấp tài chính cho các nhà thầu quân đội, do
khách hàng bao thanh toán của ngân hàng Boston, hầu hết các khách hàng đều là
nhà sản xuất quần áo may mặc. Các nhà tư vấn đã khuyên ngân hàng Boston không
nên sử dụng từ “bao thanh toán”.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, có rất nhiều nhu cầu cấp thiết cần được đáp ứng.
Năm 1945, ngành công nghiệp dệt may thực sự khởi sắc ở New England. Trong
những năm chiến tranh, hầu hết các ngành sản xuất dệt may đều phục vụ cho chiến
tranh, do đó ngành công nghiệp này hầu như không có lãi. Ngân hàng Boston quyết
định cho các nhà bao thanh toán vay mà sau đó đến lượt họ lại cho khách hàng của
ngân hàng ở New England vay. Ở vào thời điểm đó lãi suất mà nhà bao toán áp dụng
khá cao, lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng là 1,5%/năm. Các nhà bao thanh
toán áp đặt mức lãi suất là 6% cho khoản tiền ứng trước. Thêm vào đó, ngân hàng
chỉ cho vay những khoản vay an toàn chứ không cho vay những khoản vay được
đánh giá là không an toàn.
Công việc kinh doanh của Boston tăng trưởng chậm nhưng vững chắc. Năm
1973, doanh số bao thanh toán của ngân hàng đạt mức cao nhất so với thời điểm
trước đó là 1 tỷ đô la Mỹ. Năm 1988 ngân hàng này đã đạt doanh số 3.7 tỷ đô la.
Cuối chiến tranh thế giới thứ hai, đến năm 1965, Trust Co. of Georgia và First
of Boston chỉ đơn thuần là những ngân hàng tham gia vào cung cấp dịch vụ bao
thanh toán. Vào năm 1963, Vụ quản lý tiền tệ đẫ thay đổi quyết định cho phép các
ngân hàng quốc doanh được phép cung cấp dịch vụ bao thanh toán. Rất nhiều ngân
hàng muốn chen chân vào lĩnh vực này, nhưng rồi cuối cùng họ cũng thất bại và thị
trường dịch vụ bao thanh toán diễn ra một loạt các vụ mua lại công ty.
Tuy nhiên, có thể thấy ngay những ngân hàng đầu tiên tham gia cung cấp dịch
vụ bao thanh toán trên thế giới đã triển khai công cuộc nghiên cứu về thị trường rất
kỹ lưỡng và có những phương án linh hoạt để có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng,
đảm bảo duy trì hoạt động theo đúng quy định của chính phủ trong thời chiến, thời
bình và vẫn đạt được những thành tựu lớn lao trong lĩnh vực này.
Đối với một số khu vực và quốc gia trên thế giới, trong những năm gần đây,
hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng ở các nước châu Âu có sự cải thiện rõ rệt.
Điển hình là thị trường bao thanh toán của Ba Lan, một thị trường vốn được coi là
Lebanon 0 10 22 35 41 53
Malaysia 585 842 610 718 730 805
Oman 30 36 29 10 8 9
Philippines 0 0 0 0 0 0
Saudi Arabia 0 150 100 50 0 0
Singapore 2.100 2.480 2.600 2.435 2.600 2.970
South Korea 115 85 55 38 32 20
Sri Lanka 99 115 110 102 128 162
Taiwan 3.650 4.511 7.919 16.000 23.000 26.090
Thailand 1.268 1.240 1.274 1.425 1.500 1.910
United Arab Emirates 0 0 0 37 145 0
Total Asia 69.865 76.078 69.850 89.096 111.614 126.968
(Nguồn: Factor Chain International, 2006)
Bảng thống kê doanh số hoạt động bao thanh toán ở các quốc gia châu Á là
thành viên của FCI cũng đã tham gia tích cực vào thị trường bao thanh toán toàn
thế giới trong đó phải kể đến Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore và
Đài Loan với doanh số bao thanh toán chiếm đến hơn 80% doanh số bao thanh
toán trong khu vực…Yếu tố đáng mừng này cũng là những con số đáng suy nghĩ,
trong khi Việt Nam đã đi sau rất nhiều so với các nước láng giềng.
Sau một thời gian đi vào triển khai sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới này, có
thể thấy bên cạnh những lợi thế các ngân hàng thương mại Việt Nam có được khi
bắt đầu cung cấp loại hình dịch vụ mới này, đó là một loạt những khó khăn mà các
NHTM phải đối mặt. Đây là những khó khăn chung đối với ngành ngân hàng khi
tung một sản phẩm dịch vụ mới ra thị trường. Bao thanh toán đến với Việt Nam
khá muộn, do đó quãng thời gian ngắn áp dụng loại hình dịch vụ này cũng chưa đủ
để có thể đưa ra nhiều bài học rút ra từ thực tế hoạt động. Tuy nhiên, kinh nghiệm
của các quốc gia trên thế giới cho thấy việc phát triển thành công loại hình dịch vụ
mới phụ thuộc rất nhiều vào những yếu tố luôn được nhắc tới đó là: con người,
công nghệ và vốn….; đó chính là những yếu tố cơ bản để các NHTM Việt Nam
học hỏi và nghiên cứu:
trường hợp điển hình để các NHTM Việt Nam học hỏi kinh nghiệm.
- Thứ ba, đó là vấn đề về nguồn vốn huy động để triển khai loại hình dịch vụ
mới này; huy động tối đa các nguồn vốn trong nước và ngoài nước để đáp ứng nhu
cầu tín dụng của nền kinh tế, đồng thời khuyến khích các tổ chức và cá nhân tích
luỹ tài sản, đầu tư và gửi tiền vào ngân hàng bằng VND trên cơ sở bảo đảm lợi ích
kinh tế của người gửi tiền và nâng cao chất lượng của dịch vụ huy động vốn. Đa
dạng hoá các phương thức và hình thức huy động vốn bằng VND và ngoại tệ hấp
dẫn với các thủ tục và điều kiện giao dịch thuận tiện. Đẩy mạnh huy động các
nguồn tiền nhàn rỗi và các khoản tiết kiệm của công chúng hiện đang tồn tại dưới
dạng vàng và ngoại tệ thông qua các hình thức huy động hấp dẫn và các biện pháp
bảo đảm hợp lý giá trị tiền gửi của khách hàng. Trong đó, chú trọng các nguồn tiền
gửi và tiết kiệm của khách hàng; tiền gửi, tiền vay trên thị trường liên ngân hàng,
đồng thời đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá; dịch vụ tài khoản; tiếp nhận vốn uỷ
thác (trong và ngoài nước); quản lý tài sản. Đây cũng là bài học kinh nghiệm ở
Singapore, một trong những quốc gia có bao thanh toán phát triển nhất trong khu
vực Đông Nam Á.
Trên đây là một số kinh nghiệm và định hướng cho phát triển dịch vụ bao
thanh toán trong thời điểm hiện tại và cho thời gian tới. Để phấn đấu với mục tiêu
mà Nhà nước ta đề ra trong chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng trong đó bao
thanh toán chỉ là một trong số rất nhiều loại hình dịch vụ mà hệ thống ngân hàng
Việt Nam đang hướng tới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả xin đưa
ra một số giải pháp phát triển chung về dịch vụ ngân hàng và một số giải pháp để
phát triển loại hình dịch vụ bao thanh toán.
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH
TOÁN TẠI VIỆT NAM
Để có thể hoàn thiện và phát triển một nghiệp vụ ngân hàng mới như bao thanh toán, cần phải có tổng hợp
một số giải pháp tổng thể: giải pháp vĩ mô và vi mô; trên cơ sở đó đánh giá những giải pháp cụ thể để phát triển
nghiệp vụ đó dưới nhiều khía cạnh
3.3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách đối với hoạt động bao thanh toán
- Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế, chính sách và các văn bản đối với hoạt động bao thanh toán
hàng bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ, ngoại trừ các dịch vụ về lĩnh vực tài chính ngân hàng. Quy chế đưa ra khái niệm
“hợp đồng bán hàng” chỉ đơn thuần là các hợp đồng cung cấp hàng hoá, tức là trước mắt chỉ cho phép thực hiện bao
thanh toán đối với các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá. Trong tương lai, khi Việt Nam
chính thức trở thành thành viên của WTO, quy định này sẽ trở nên không thể bao quát hết vì cùng với quá trình hội
nhập và phát triển nhanh của ngành tài chính ngân hàng, các dịch vụ tài chính, ngân hàng tại Việt Nam sẽ đa dạng
hoá rất nhanh và kết hợp linh hoạt, khó lường.
o Cải cách hệ thống kế toán ngân hàng trong hạch toán các nghiệp vụ bâothnh toán phù hợp chuẩn mực kế toán
quốc tế. Hoàn thiện các chính sách, văn bản qui phạm pháp luật, các chuẩn mực về công nghệ ngân hàng để tạo điều
kiện cho các NHTM lựa chọn được công nghệ phù hợp và đồng bộ trong toàn hệ thống ngân hàng.
o Rà soát hệ thống phí bao thanh toán để có sự điều chỉnh phù hợp, bảo đảm minh bạch, cạnh tranh lành mạnh,
tránh các khoản thu phí bất hợp lý của NHTM đối với khách hàng và hạn chế hiện tượng tiêu cực trong hoạt động
ngân hàng.
3.3.2. Tăng cường năng lực hoạt động và tài chính làm cơ sở để phát triển bao thanh toán của các NHTM
o Tích cực triển khai thực hiện đồng bộ định hướng và các giải pháp chiến lược phát triển các NHTM đến năm 2010,
trước hết tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án củng cố, chấn chỉnh các NHTMCP và Đề án cơ cấu lại các
NHTMNN.
o Phát triển các kênh phân phối nước ngoài qua các hình thức hiện diện thương mại (chi nhánh, pháp nhân, đơn vị trực
thuộc) của NHTM Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt ở các quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ đầu tư, thương mại lớn
và có tiềm năng phát triển với Việt Nam (Mỹ, EU và Châu Á) để từng bước thâm nhập và cạnh tranh cung cấp dịch
vụ bao thanh toán trên thị trường quốc tế. Mở rộng quan hệ đại lý quốc tế để cung cấp các dịch vụ bao thanh toán
qua biên giới.
o Tăng cường năng lực tài chính:
Xây dựng đề án tăng cường năng lực tài chính (tăng vốn tự có, xử lý các tồn đọng tài chính, chủ yếu là nợ
xấu) của các NHTMNN theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế và lộ trình cổ phần hoá các NHTMNN.
+ Tăng vốn tự có qua nhiều hình thức khác nhau (huy động từ thị trường qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu,
Nhà nước bổ sung và lợi nhuận để lại) và qui mô tài sản có trên nguyên tắc bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo
chuẩn mực quốc tế (8%); nâng cao chất lượng tài sản có (giảm, tỷ trọng tài sản có rủi ro, tăng tỷ trọng tài sản có sinh
lời trong tổng tài sản có);
+ Đẩy mạnh xử lý nợ xấu theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế; Giảm nợ xấu đi đôi với xây dựng cơ chế kiểm
soát, giám sát hữu hiệu chất lượng tín dụng. Thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo thông lệ quốc
khoản của thị trường tiền tệ nói chung.
- Đẩy mạnh triển khai các hoạt động tín dụng trong khuôn khổ các dự án quốc tế, đồng thời tiếp tục thu hút
các nguồn vốn ODA, vay song phương, hỗ trợ tài chính của Chính phủ và các tổ chức nước ngoài để tạo nguồn tài
trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án phát triển quốc gia, phát triển nông nghiệp, nông thôn và các đối
tượng chính sách xã hội qua hệ thống ngân hàng.
- Phát triển nguồn nhân lực: Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và phát triển
nguồn nhân lực để thu hút nhân tài, cán bộ nghiệp vụ và cán bộ quản lý có trình độ
giỏi thông qua xây dựng hệ thống khuyến khích và chế độ quản lý lao động phù hợp.
Xây dựng đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực hoạt động về baot hanh toán của ngân
hàng. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ ngân
hàng, đồng thời nâng cao năng lực quản trị chiến lược, điều hành kinh doanh của các
cấp lãnh đạo NHTM. Các NHTM xây dựng kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực đến năm 2010.
- Các NHTM chủ động xây dựng và triển khai chiến lược kinh doanh. Xây dựng và phát triển thương hiệu,
xây dựng văn hoá kinh doanh ngân hàng văn minh - hiện đại. Đẩy mạnh các hoạt động marketing, tuyên truyền,
quảng bá dịch vụ ngân hàng một cách văn minh nhằm định vị hợp lý dịch vụ ngân hàng trên thị trường.
3.3.3. Hoàn thiện và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng; xây dựng phần mềm
quản lý bao thanh toán
Vấn đề hoàn thiện và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng để hệ thống có thể
đáp ứng cho quá trình áp dụng và triển khai bao thanh toán không phải là công việc
đơn giản có thể thành công trong một sớm một chiều, mà nó đòi hỏi phải có một sự
đầu tư thích đáng trong cả quá trình liên tục và lâu dài. Tuy nhiên, trước hết hệ
thống các NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt 5 giải pháp sau đây:
Thứ nhất, đẩy mạnh liên doanh, liên kết và hợp tác với các tổ chức trong nước
và nước ngoài về kinh doanh, nghiên cứu và phát triển công nghệ kỹ thuật ngân
hàng, sản phẩm bao thanh toán để nhanh chóng tiếp cận với các công nghệ, quản
trị và dịch vụ ngân hàng mới phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Tranh thủ
sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của các tổ chức quốc tế để hiện đại hoá công nghệ
ngân hàng và xây dựng phần mềm hay nhập khẩu công nghệ phát triển và quản lý
dịch vụ bao thanh toán
quan trọng của từng cấp quản lý. Các NHTM cần phải xây dựng và hoàn thiện cơ
chế kinh doanh mới để nâng cao năng lực quản trị điều hành. Cơ chế kinh doanh
phải được hoàn thiện một cách đồng bộ, có nghĩa là các cơ chế quyết sách kinh
doanh, cơ chế kích thích, cơ chế ràng buộc bên trong ngân hàng, cơ chế cân bằng
lợi ích phải được hoàn thiện. Các cơ chế này phải được hình thành và thống nhất
quản lý trong các ngân hàng từ trung ương đến địa phương, từ các chi nhánh cấp1
đến các chi nhánh cấp 4 của các ngân hàng và trong nội bộ từng chi nhánh. Cụ thể:
Thứ nhất, cơ chế quyết sách kinh doanh: trong nội bộ từng NHTM có các chi
nhánh ở các cấp khác nhau, thực hiện hạch toán độc lập một cách tương đối nên
chừng mực nào đó được độc lập trong quyết định kinh doanh để phát huy quyền tự
chủ của mình. Các NHTM vừa hoạt động trong cơ chế thị trường, vừa phải thể
hiện vai trò to lớn của mình đối với nền kinh tế. Do đó, các quyết sách kinh doanh
vừa phải thể hiện ý chí chủ đạo kinh doanh tập trung cao độ, vừa phát huy được
quyền chủ động sáng tạo và tính tự chịu trách nhiệm trong quyết sách kinh doanh
của từng cấp, đồng thời định hướng kinh doanh cho thời gian dài kết hợp với cụ
thể hóa từng thời kỳ ngắn. Các chính sách này phải được thống nhất từ trên xuống
dưới để biến thành hiện thực, chứ không phải hình thức. Quyết sách đúng đắn và
phát huy hiệu quả cao phải thể hiện sự kết hợp trí tuệ của tập thể với tính quyết
đoán của người giám đốc điều hành để thống nhất thực hiện.
Thứ hai, cơ chế kích thích: thực hiện ý chí kinh doanh và mục tiêu lợi ích
ngày càng cao, các NHTM phải xây dựng được cơ chế kích thích như: quy chế thi
đua, khen thưởng, phát huy sáng kiến, trên cơ sở hiệu quả kinh tế và mục đích kinh
doanh của từng chi nhánh để làm động lực thúc đẩy cán bộ nhân viên thực hiện tốt
định hướng kinh doanh của mình. Quy chế thi đua vừa phải khêu gợi được tính tích
cực, vừa phải thể hiện tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân, từng tập thể để đảm
bảo lợi ích chung của NHTM. Trên cơ sở quy chế, thực hiện phát động phong trào
thi đua trong từng thời kỳ. Ví dụ: theo mục tiêu kinh doanh hay chiến lược kinh
doanh, các NHTM xây dựng các quy chế kích thích cán bộ công nhân viên thực
hiện nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ cho vay, các loại dịch vụ ngân hàng trên
cơ sở lấy mục tiêu và hiệu quả làm thước đo để thực hiện việcthi đua, khen thưởng