BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM - Pdf 75

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM
I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM
1. Thị trường tiền tệ
1.1. Quá trình hình thành thị trường tiền tệ Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam gắn liền với quá
trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trước năm 1986, hệ thống ngân
hàng Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của nền kinh tế tập trung bao cấp. Toàn bộ hệ
thống ngân hàng đều hoạt động theo cơ chế một cấp, Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) ra đời năm 1951 thực hiện chức năng phát hành tiền tệ, điều tiết cung cấp
tiền tệ và được giúp đỡ bởi các ngân hàng thương mại quốc doanh như Ngân hàng
Nông nghiệp, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư phát triển và ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam. NHNN Việt Nam thời gian đó không chỉ đơn thuần thực
hiện chức năng quản lý nhà nước mà nó còn trực tiếp tham gia vào các hoạt động
kinh tế với tư cách như một Ngân hàng thương mại (NHTM). Giai đoạn này, thị
trường tiền tệ của Việt Nam là thị trường đóng cửa với đối tượng được phục vụ
chính là các xí nghiệp và cơ quan Nhà nước. Mối quan hệ ngân hàng và khách
hàng không dựa trên cơ sở kinh tế mà chủ yếu theo cơ chế hành chính mệnh lệnh.
Bắt đầu từ cuối những năm 1980, hệ thống Ngân hàng Việt Nam được cải cách
và cơ cấu lại. Hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời với những loại hình ngân hàng
mới trước đây chưa từng có. Nhưng phải đến năm 1994, các ngân hàng thương mại
ngoài quốc doanh mới thực sự thể hiện hoạt động thông qua việc nắm giữ một phần
các tài sản của hệ thống ngân hàng.
Bảng 3: Quy mô phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Các ngân hàng 1990 1994 2002
Ngân hàng thương mại quốc
doanh
4 4 6
Ngân hàng thương mại cổ
phần
0 36 48

ngắn hạn, nơi mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín
phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác”.
Điều 70 Luật các tổ chức tín dụng cũng quy định: “Tổ chức tín dụng được
tham gia thị trường tiền tệ do NHNN tổ chức, bao gồm thị trường đấu giá tín phiếu
kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường có giá ngắn hạn
khác theo quy định của NHNN”.
Như vậy, có thể hiểu thị trường tiền tệ do NHNN tổ chức bao gồm các thị
trường sau: Thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc; Thị trường nội tệ liên ngân hàng;
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng; Thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Thị trường tín phiếu kho bạc: được triển khai thí điểm từ tháng 12/1994. chính
thức đi vào hoạt động năm 1995. Thành viên tham gia ngoài các NHTM, ngân
hàng liên doanh; các chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn có các công ty tài chính,
công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư – gọi chung là các tổ chức tài chính
trung gian. Người mua là các tổ chức tài chính trung gian, người bán là Bộ tài
chính (Kho bạc Việt Nam, giá mua là lãi suất qua đấu thầu, hình thức mua là ở
dạng ghi sổ hay dạng chứng chỉ tín phiếu.
Cho đến nay, dưới hình thức đấu thầu tín phiếu kho bạc. Kho bạc Nhà nước đã
thu được hàng ngàn tỷ đồng. Việc đấu thầu qua NHNN đã tiết kiệm được một
khoản chi phí rất lớn cho ngân sách Nhà nước so với việc chi cục kho bạc trực tiếp
bán tín phiếu kho bạc.
Từ đầu năm 2000, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nước đã hoạt
động thường xuyên hơn góp phần hoàn thiện thị trường tài chính ở nước ta. Đến
ngày 20/10/2000 có 47 thành viên tham gia thị trường này. Tuy nhiên hoạt động
của thị trường này vẫn còn kém sôi động.
Từ ngày 21/2/2000 – 25/9/2000 đã tổ chức được 30 phiên đấu thầu, có 111
lượt thành viên dự thầu tức là bình quân mỗi phiên chưa có tới 4 thành viên. Mặc
dù đây là thị trường đấu thầu lãi suất, song mỗi phiên rất ít người bán và người
mua. Điều này cho thấy sự kém hấp dẫn của thị trường tín phiếu kho bạc. Tổng kế
hoạch đấu thầu của 30 phiên là 4450 tỷ đồng, bình quân gần 150 tỷ đồng/phiên.
Tổng số tiền tín phiếu kho bạc nhà nước đã trúng thầu, đã bán được, tiền nộp vào

Thị trường nội tệ liên ngân hàng: hoạt động từ tháng 7/1993 với các thành viên
là các NHTMCP, NHNN và nhằm giải quyết mối quan hệ vay mượn giữa các tổ
chức tín dụng. Trong năm 1993 mỗi tuần chỉ có 3 phiên giao dịch diễn ra và các
giao dịch này được tiến hành thông qua NHNN. Như vậy NHNN vừa đóng vai trò
là người tổ chức thị trường vừa đóng vai trò là thành viên thị trường.
Giai đoạn 1993 đến 1998 các thành viên thị trường trực tiếp tiến hành các giao
dịch với nhau và các phiên giao dịch được tiến hành vào tất cả các ngày trong tuần.
Doanh số giao dịch một chiều (đi vay hoặc cho vay) hàng năm trong giai đoạn này
khoảng 80.000 - 140.000 tỷ VND, số dư trung bình trên thị trường khoảng 10.000 -
15.000 tỷ VND.
Bảng 5: Doanh số giao dịch qua trung tâm thị trường liên ngân
hàng
Đơn vị: Tỷ VND, Triệu USD
1993 1994 1995 1996
VND USD VND USD VND USD VND USD
Doanh số 61.9 1.5 80.3 10.5 45.5 24 - 35
Trong đó
vay NHNN
44.9 - 66.3 - 30.5 - -
Các NHTM
vay lẫn
nhau
17 - 14 - 15 - -
Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trong giai đoạn 1998 - 2002 trên thị trường nội tệ liên ngân hàng ngoài các
thành viên cũ như các NHTM, NHTMCP, NHNN còn có các chi nhánh NH nước
ngoài, NH liên doanh. Tổng doanh số giao dịch trên thị trường nội tệ liên ngân
hàng trong giai đoạn này đạt trên 140.000 tỷ VND trong đó các NHTM quốc doanh
thực hiện trên 60% tổng số các giao dịch; các chi nhánh NH nước ngoài, NH liên
doanh thực hiện trên 25% tổng số các giao dịch. (Bảng 6)

của các tổ chức tín dụng

m
Doanh số
mua bán
Với khách
hàng
Trên
Interbank
19
95
100% 87.3% 12.7%
19
96
100% 74.9% 25.1%
19
97
100% 63.3% 36.7%
19
98
100% 89.4% 10.6%
19
99
100% 78.9% 21.1%
20
00
100% 73.9% 26.1%
Nguồn: Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Bảng 8: Tình hình phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng
Đơn vị: tỷ VND

tín dụng còn thiên lệch và tỷ lệ nợ xấu cao.
Các ngân hàng thương mại quốc doanh hiện chiếm 75% - 80% thị phần cho
vay và huy động cũng như tài sản của toàn hệ thống ngân hàng. Phần lớn tín dụng
của các ngân hàng thương mại quốc doanh được phân bổ cho các DNNN và khu
vực nông nghiệp hoặc các ngành thay thể nhập khẩu, khả năng cạnh tranh yếu như:
giấy, xi măng, sắt thép, phân bón, mía đường.
Chất lượng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng thấp, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá
hạn còn cao, mặc dù đã giảm từ khoảng 12,5% năm 1997 xuống còn 5% vào cuối
năm 2002 (tính theo tiêu chuẩn Việt Nam, nếu tính theo tiêu chuẩn quốc tế thì nợ
quá hạn của hệ thống ngân hàng thương mại cao hơn nhiều). Trong khi đó hệ thống
ngân hàng thương mại vẫn chứa đựng nhiều rủi ro. Tỷ lệ vốn tự có còn thấp, mới
đạt 5,9% vào cuối năm 2002 so với mức thông lệ quốc tế 8%. Chương trình xử lý
nợ xấu chưa triệt để và quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng diễn ra còn chậm.
Nợ quá hẹn tiếp tục có nguy cơ phát sinh do tăng cung tín dụng và việc cho vay
theo chỉ định đối với nhiều công trình lớn, hiệu quả kinh tế có thể thấp. Vấn đề "sai
lệch kép" (cả sai lệch về cơ cấu thời hạn và cơ cấu đồng tiền) cũng khá nghiêm
trọng, dễ gây sốc cho hệ thống do tình trạng đô la hoá cao, lãi suất đã (gần như) thả
nổi, trong khi hiệu lực điều tiết của các công cụ chính sách tiền tệ còn thấp. Năng
lực quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại nhìn chung còn nhiều bất cập.
Đây cũng là cản trở lớn cho sự phát triển lành mạnh của thị trường tín dụng.
Thị trường tín dụng ưu đãi tồn tại song song với thị trường tín dụng thương
mại nhưng ranh giới giữa hai thị trường này chưa được tách bạch. Việc thành lập
Quỹ Hỗ trợ phát triển là nhằm tách bạch hoạt động cho vay chính sách với hoạt
động cho vay thương mại. Tuy nhiên, hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển có nhiều
tác động ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của thị trường tín dụng, đặc biệt
trong việc hình thành lãi suất tín dụng thương mại hợp lý, cũng như việc kiểm soát
hữu hiệu cung tiền tệ.
Bên cạnh thị trường tín dụng chính thức, ở nước ta còn tồn tại thị trường tín
dụng phi chính thức, chủ yếu ở địa bàn nông thôn. Mặc dù quy mô thị trường là
không lớn nhưng phạm vi hoạt động rộng và có những tác động nhất định đến thị

2.1. Tình hình hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam
Sau 3 năm đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng
khoán Việt Nam, thời gian còn quá ngắn để đánh giá sức sống của một thể chế tài
chính mới như TTCK, song điều ghi nhận được đầu tiên là, mặc dù với quá nhiều khó
khăn trong một môi trường kinh tế vĩ mô chưa hoàn toàn thuận lợi, trước những thử
thách của một thể chế tài chính mới lần đầu tiên xây dựng ở nước ta nhưng TTCK
Việt Nam đã được giữ vững và ổn định, từng bước phát triển. Một điều căn bản là xã
hội Việt Nam đã phần nào làm quen được với sự tồn tại và hoạt động của TTCK.
Về hoạt động niêm yết và giao dịch chứng khoán:
Trong phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28 tháng 7 năm 2000 tại Trung tâm
giao dịch chứng khoán (TTGDCK) chỉ có hai cổ phiếu được niêm yết, đó là cổ
phiếu REE và SACOM với tổng giá trị vốn niêm yết là 270 tỷ đồng. Đến phiên
giao dịch thứ tư ngày 4 tháng 8 năm 2000 có thêm hai cổ phiếu HAPACO và
TRANSIMEX được niêm yết. Cổ phiếu LAFOOCO được niêm yết ngày 11 tháng
12 năm 2001. Trong năm 2001 đã có thêm 5 cổ phiếu được niêm yết và giao dịch
tại TTGDCK: SGH 16/7/2001, CAN 18/10/2001; DPC 26/11/2001; BBC, TRI
26/12/2001. Trong năm 2002, đã có 10 công ty cổ phần được cấp phép phát hành, 1
công ty tăng vốn, và đăng ký niêm yết cổ phiếu cho 11 công ty, nâng tổng giá trị cổ
phiếu niêm yết trên TTCK lên 999,633 tỷ đồng. Tính cho đến tháng 7 năm 2003 thì
tổng giá trị chứng khoán niêm yết là gần 6.600 tỷ đồng bao gồm trên 1.000 tỷ đồng
cổ phiếu của 21 công ty cổ phần và trên 5.500 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ và trái
phiếu ngân hàng Đầu tư và Phát triển. (Nguồn: Tạp chí thị trường chứng khoán Việt
Nam - số 7 tháng 7 năm 2003)
Hiện nay trên thị trường chứng khoán, loại trái phiếu công ty được niêm yết chỉ
có duy nhất một loại trái phiếu đó là trái phiếu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam. Trái phiếu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển được phát hành ngày 26/1/2000 (BID
- 100) và đã chính thức được giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán ngày
15/11/2000. Đây là loại trái phiếu vô danh, kỳ hạn 5 năm, lãi suất 6,5%/năm trả trước
và được điều chỉnh hàng năm nhưng vẫn đảm bảo mức lãi suất tối thiểu là 6,5%.
Thời gian đầu TTGDCK chỉ thực hiện giao dịch 3 phiên 1 tuần, từ tháng

19 TS4 39 5
20 HAS 97 4
21 VTC 33 7
Tổng cộng 2624 334
Nguồn: www.vcbs.com.vn
Thời gian đầu khi thị trường mới đi vào hoạt động, các công ty niêm yết đều
đã cố gắng để đáp ứng các quy định do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề ra. Tuy
nhiên, do chưa có thói quen trong môi trường hoạt động của TTCK, nên đa số các
công ty niêm yết chỉ chú trọng vào thông tin định kỳ và thông tin phải cung cấp
theo yêu cầu, chưa chủ động cung cấp kịp thời thông tin liên quan tới hoạt động
của công ty.
Việc lưu ký chứng khoán đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch chứng khoán
tại TTGDCK. Các thành viên lưu ký đều tuân thủ các quy định về lưu ký chứng
khoán của UBCKNN và TTGDCK. Hiện nay, hoạt động của các thành viên lưu ký
nước ngoài chưa đáng kể do người nước ngoài đầu tư còn ít vào TTCK Việt Nam.
Trong thời gian đầu, TTGDCK Tp Hồ Chí Minh, chỉ giao dịch 3 phiên/một
tuần; từ 1/3/2002 nâng lên 5 phiên một tuần, đồng thời nghiên cứu cải tiến quy
trình thanh toán, giảm thời gian thanh toán từ 4 xuống còn 3 ngày theo thông lệ
quốc tế. TTGDCK đã chủ động thực hiện việc cung cấp thông tin kịp thời thông
qua các công ty chứng khoán tới người đầu tư, đến nay đã thực hiện cung cấp
thông tin trực tuyến (on-line) thay cho việc cung cấp thông tin tại sàn thông qua đại
diện giao dịch của các công ty chứng khoán.
Biên độ dao động giá chứng khoán là một trong những biện pháp được áp
dụng nhằm ổn định thị trường và bảo vệ các nhà đầu tư trong thời kỳ hoạt động ban
đầu của TTCK, và điều đó được thể hiện qua việc điều chỉnh biên độ theo tình hình
thực tế thị trường. Thời gian đầu, TTGDCK áp dụng biên độ dao động giá ± 2%
sau đó tăng lên ± 7% và ±3%. Từ 20/5/2003 TTGDCK đã áp dụng một số giải pháp
kỹ thuật như: hạ thấp lô giao dịch cổ phiếu, tăng từ 1 lên 2 lần khớp lệnh trong
phiên giao dịch, bổ sung lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh (ATO), giảm tỷ lệ ký
quỹ tối thiểu xuống 70%. Việc áp dụng các giải pháp trên bước đầu có tác dụng thu

Tháng 11 năm 2003 là một trong những giai đoạn VN-index có tốc độ tăng
trưởng cao nhất và tạo ra được ảnh hưởng rõ nét nhất trong 40 tháng thành lập và
hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chỉ trong vòng 5 tuần, VN-index
đã tăng hơn 27%. Xét về quy mô, giá trị giao dịch của các chứng khoán (chỉ tính
giao dịch cổ phiếu) trong tháng 11/2003 lớn hơn gấp gần 3 lần so mức trung bình
10 tháng đầu năm 2003 và gần xấp xỉ quy mô giao dịch trung bình của hai năm
2001 và 2002. Yếu tố căn bản khác biệt tạo nên đợt tăng trưởng tháng 11/2003 là
sự phục hồi mạnh mẽ của sức cầu. Đợt tăng trưởng này cũng kéo về cho thị trường
những nhà đầu tư “lạc lối” do mải đuổi theo giá vàng, giá USD và lãi suất trong
năm 2003. Trong năm 2002 và nửa đầu năm 2003, nhiều nhà đầu tư đã chấp nhận
bán cổ phiếu vì nhiều lý do, trong đó có lý do là tìm cách xoay vòng vốn.
Về hoạt động của các công ty chứng khoán:
Cho đến tháng 7/2003, Uỷ bán chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã cấp
giấy phép hoạt động kinh doanh cho 12 công ty chứng khoán trong đó có 5 công ty
cổ phần và 7 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Tình hình hoạt động của
các công ty chứng khoán (trong số 12 công ty chứng khoán hiện nay có 2 công ty
mới bắt đầu hoạt động, đó là công ty chứng khoán Mê Kông - MSC triển khai hoạt
động từ tháng 2/2003, công ty chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh - HSC triển
khai hoạt động từ tháng 4/2003 và công ty chứng khoán Ngân hàng Đông Á -
EABS mới được phép tháng 5/2003) được thể hiện qua những nôi dung sau:

Trích đoạn Kinh nghiệm đa dạng hóa các công cụ thị trường tài chính Kinh nghiệm phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status