LỜI MỞ ĐẦU
Sự kiện khủng hoảng tài chính Mỹ diễn ra từ giữa năm 2007 kéo dài cho đến nay
đã tác động nghiêm trọng tới nền kinh tế của hàng loạt quốc gia trên thế giới. Phạm vi
ảnh hưởng và mức độ thiệt hại về kinh tế của cuộc khủng hoảng này là rất lớn, đặc biệt
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng như hiện nay. Nền kinh tế
Việt Nam nói chung cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp
của nó. Tại sao một cuộc khủng hoảng tại Mỹ lại có thể tạo ra làn sóng ảnh hưởng lớn
như vậy và các quốc gia trên thế giới cần phải đối phó như thế nào nếu một sự kiện
tương tự lại xảy ra trong thời gian tới? Đây chính là nguyên nhân khiến nhóm tác giả lựa
chọn đề tài: “Khủng hoảng tài chính Mỹ và bài học kinh nghiệm cho phát triển thị
trường tài chính Việt Nam” dể nghiên cứu trong quá trình học tập môn Tài chính quốc
tế. Trong khuôn khổ của tiểu luận, nhóm tác giả chú trọng tìm hiểu nguồn gốc dẫn đến
cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và phân tích những giải pháp ứng phó của Chính phủ
Mỹ nhằm ngăn chặn khủng hoảng ngày càng trầm trọng để từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm cho quá trình phát triển thị trường tài chính Việt Nam.
Tiểu luận được kết cấu với 3 chương:
Chương I: Tổng quan chung về khủng hoảng tài chính Mỹ 2008
Chương II: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoàng tài chính Mỹ 2008 và một số tác động
tới thị trường tài chính Việt Nam
Chương III: Bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị nhằm phát triển thị trường tài
chính Việt Nam.
Do đề tài nghiên cứu trên đây là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp nhưng thời gian
nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy, nhóm tác giả rất mong nhận đuợc sự góp ý của các thầy cô giáo, và bất
cứ ai quan tâm đến vấn đề này để đề tài được hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn./
Chương I: Tổng quan về khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008
Năm 2001, nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái sau cuộc khủng hoảng dotcom, thêm
vào đó là việc nước Mỹ lao vào cuộc chiến chống Afghanistan và Irak sau khủng bố
ngày 11 tháng 9. Để khuyến khích dân chúng tiêu thụ, ngân hàng trung ương đã hạ lãi
suất. Từ năm 2003 đến năm 2005, ngân hàng trung ương giảm lãi suất chỉ đạo từ 6%
0,25%, mức lãi suất gần 0 hiếm thấy.
2
Fed còn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua
lại các trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ mà các tổ chức tài chính nước này có và hạ lãi suất
tái chiết khấu.
3
Giữa tháng 12 năm 2008, Fed tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính sách
nới lỏng tiền tệ mặt lượng.
Danh sách các tổ chức lớn bị phá sản hoặc sáp nhập trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008
STT Tên Quy mô Thiệt hại Giải pháp
1 Lehman
Brothers
Tổng tài sản: 639 tỷ USD.
Tổng vốn góp cổ phần: $22490 tỷ
USD.
Số lượng nhân viên: 26200 người.
Là một trong 4 ngân hàng đầu tư lớn
nhất của Hoa Kỳ.
Nợ ngân hàng: 613 tỷ USD.
Nợ trái phiếu: 155 tỷ USD.
Cổ phiếu mất giá trên 90%
vào ngày 15/09/2008
15/09/2008: nộp đơn phá sản
theo chương 1 Luật Phá sản
Mỹ.
Là vụ phá sản lớn nhất trong
lịch sử Hoa Kỳ
2 Merrill
Lynch
Tổng tài sản: 1,02 nghìn tỷ USD.
Là công ty công lớn thứ 20 trên thế
giới và là công ty tài chính lớn thứ 2
về thế chấp tại Mỹ
Thua lỗ (2007): 4,6 tỷ USD
Thua lỗ quý II/2008: 821
triệu USD
07/09/2008: FED kí hợp đồng
bỏ ra 1 tỷ USD hỗ trợ cho
Freddie Mac, đổi lại giành
quyền kiểm soát các cổ phiếu
ưu đãi đặc biệt của công ty
này.
5 Fannie
Mae
Tổng tài sản: 882,5 tỷ USD
Tổng vốn góp cổ phần: 44 tỷ USD
Là tổ chức hàng đầu trong thị trường
thế chấp dưới chuẩn của Mỹ
Thua lỗ (2007): 2 tỷ USD
Thua lỗ quý II/2008: 2,3 tỷ
USD
07/09/2008: cùng với Freddie
Mac bị FED tiếp quản
2
Financial Times: "Fed slashes rates to near zero”
3
"FRB: Speech—Bernanke, The Recent Financial Turmoil and its Economic and Policy Consequences—15 October 2007”
3
Tháng 12 năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã lập ra và giao cho Fed chủ trì chương
trình Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 28 đến 84 ngày
5
MBS - Mortgage backed security
6
CDO - Collateralized debt obligation
4
Một nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng là những yêu cầu của pháp luật
về sự minh bạch hóa và năng lực kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước đã không
bắt kịp với những biến đổi sâu rộng của thị trường trong hơn 20 năm qua.
Trong giai đoạn 2004-2006, cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn chiếm khoảng 21%
tổng các khoản vay cầm cố, tăng so với mức 9% giai đoạn 1996-2004, trong đó chỉ tính
riêng năm 2006 tổng giá trị các khoản vay cầm cố dưới tiêu chuẩn lên đến 600 tỷ USD,
bằng 1/5 giá trị thị trường cho vay mua nhà của Mỹ. Sự phát triển mạnh của hình thức
cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn đi kèm với sự bùng nổ thị trường nhà đất của Mỹ là hệ
quả của việc lãi suất giảm xuống mức thấp kỉ lục, cộng thêm các tiểu chuẩn cho vay nới
lỏng và hội chứng “thích mua nhà” của dân Mỹ.
1.2.3. Bong bóng thị trường bất động sản.
Cùng với việc điều chỉnh giảm lãi suất qua đêm liên ngân hàng để cứu nền kinh
tế khỏi suy thoái, tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo. Điều này kích thích sự phát
triển của khu vực bất động sản và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh
tế. Trong môi trường tín dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay
mạo hiểm, kể cả cho những người nhập cư bất hợp pháp vay. Năm 2005, có tới 28% số
nhà được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không. Năm này, bong
bóng nhà ở này phát triển đến mức cực đại và vỡ. Từ quý IV năm 2005 đến quý I năm
2006, giá trị trung vị của giá nhà giảm 3,3%.Thời điểm đó, tổng giá trị lũy tích các
khoản tín dụng nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ dollar. Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua
nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ. Giá nhà ở giảm nhanh khiến cho các
loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế
chấp (MBS) do các tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá nghiêm trọng. Kết quả là
bảng cân đối tài sản của các tổ chức này xấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ
chức đánh giá đánh tụt.