Tài liệu Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 86


phát triển thị trờng chứng khoán Việt nam

mục lục I- Sự ra đời của thị trờng chứng khoán ở Việt Nam
I.1. Những yếu tố cần thiết cho sự hình thành thị trờng chứng khoán ở
Việt Nam
I.2. Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh

II- Sự phát triển của TTCK Việt Nam
II.1. Diễn biến của TTCK Việt Nam từ 2002 đến nay
II.2. Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

III- Đánh giá chung về TTCK Việt Nam trong năm 2006
III.1. Một số nhận xét
III.2. Về cơn sốt giá chứng khoán đang diễn ra từ đầu tháng 4 năm 2006

IV- Một số vấn đề đặt ra sau 5 năm hoạt động của TTCK Việt Nam
IV.1.Về thị trờng phi tập trung (OTC)
IV.2. Tăng hàng hoá cho TTCK
IV.3. Ra đời các tổ chức đánh giá tín nhiệm
IV.4. Hoàn thiện khung pháp lý về TTCK
IV.5. Hội nhập thị trờng vốn khu vực và thế giới
IV.6. Quyết tâm của Chính phủ

Phụ lục

Một số khái niệm


hệ thống ngân hàng. Rủi ro này nếu để tích tụ lại sẽ tác động dây truyền đến hệ
thống tài chính và nền kinh tế nói chung.
Trong bối cảnh đó, việc ra đời thị trờng chứng khoán nh một kênh quan
trọng huy động nguồn vốn dài hạn cho đầu t phát triển và làm cho lu chuyển
vốn có tính thanh khoản cao trở nên cấp bách. Chuyên đề này giới thiệu tổng
quát về quá trình hình thành và phát triển của thị trờng chứng khoán ở Việt
Nam, nêu ra những điểm còn hạn chế, rút ra một số bài học kinh nghiệm, và
những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển TTCK ở Việt Nam trong thời
gian tới.
I- Sự ra đời của thị trờng chứng khoán ở Việt Nam
I.1. Những yếu tố cần thiết cho sự hình thành thị trờng chứng khoán ở
Việt Nam
Công việc chuẩn bị cho sự ra đời của thị trờng chứng khoán (TTCK)
Việt Nam đợc bắt đầu từ năm 1991 1992 bởi Ban Phát triển Thị trờng Vốn
thuộc Ngân hàng Nhà nớc. Năm 1996, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc đợc
thành lập nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để mở cửa TTCK, và Trung tâm
CIEM, Trung tõm Thụng tin T liu
2

Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) đầu tiên đã mở cửa ngày 20 tháng 7 năm
2000 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Sở dĩ phải mất 8 năm chuẩn bị với vài lần đình hoãn thị trờng chứng
khoán Việt Nam mới có thể khai trơng đợc là do có sự thiếu tin tởng ở thành
công của hình thức hoạt động kinh doanh chứng khoán tại thời điểm thị trờng
vốn trong nớc cha phát triển và trong bối cảnh xảy ra cuộc khủng hoảng tiền
tệ khu vực Đông Nam á (1997 1998). Lý do khiến nhiều ngời không mặn
mà với việc thành lập thị trờng chứng khoán tựu trung ở mấy điểm:
- Thị trờng chứng khoán chủ yếu giao dịch cổ phiếu của các công ty cổ
phần, mà tại thời điểm đó Việt Nam hầu nh cha có mấy công ty cổ phần có
đủ uy tín để đợc niêm yết cổ phiếu trên TTCK; liệu có sa vào tình trạng có

toán, kiểm toán, t vấn pháp luật đã có sự phát triển nhất định;
- Đã xuất hiện hàng hoá cho thị trờng chứng khoán. Bên cạnh một số
công ty cổ phần làm ăn có hiệu quả, có đợc thơng hiệu trên thị trờng, Nhà
nớc đã có chủ trơng cung cấp một lợng trái phiếu cần thiết để tạo nguồn
hàng ban đầu cho TTCK. Tiến trình cổ phần hoá DNNN, nơi nắm giữ tuyệt đại
bộ phận vốn đầu t trong công nghiệp đã đạt đợc sự nhất trí cao và đợc cam
kết với các tổ chức tài chính quốc tế nh một nỗ lực của Việt Nam trong định
hớng hội nhập với kinh tế thế giới. Đây sẽ là sự bảo đảm cho hoạt động của
TTCK sau khi ra đời;
- Đã có đội ngũ chuyên viên quản lý và thực hiện các hoạt động giao dịch
chứng khoán hàng ngàn ngời đợc đào tạo từ nhiều nguồn kinh phí, trong đó
kinh phí từ nguồn viện trợ ODA chiếm tỷ trọng đáng kể.
I.2. Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh
Với tất cả những tiền đề và trở ngại trên, sau khi tham khảo ý kiến rộng
rãi của các chuyên gia trong nớc và nớc ngoài, tìm hiểu mô hình hoạt động
cũng nh quá trình hình thành và phát triển của TTCK ở nhiều quốc gia, Chính
phủ đã quyết định thử nghiệm xây dựng thị trờng chứng khoán Việt Nam với
qui mô và mức độ giao dịch rất hạn chế giúp công chúng làm quen với hình thức
đầu t mới nhằm mục tiêu dài hạn tạo nên sự đa dạng trong hoạt động đầu t.
Hình thức đầu tiên của TTCK Việt Nam đợc lựa chọn là một Trung tâm giao
dịch chứng khoán khiêm tốn đặt tại thành phố Hồ Chí Minh.
Trong 3 tháng đầu, TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh hoạt động cầm chừng hai
ngày một phiên, thời gian giao dịch từ 9 giờ đến 11 giờ vào các buổi sáng thứ
hai, thứ t, thứ sáu với 5 Cty cổ phần tham gia, trong đó chỉ có một công ty đến
từ phía Bắc (Công ty Cổ phần giấy Hải Phòng: HaPhaCo (HAP). Trị giá cổ
phiếu giao dịch mỗi phiên cha tới 1 tỷ đồng. Trái phiếu Chính phủ, loại hàng
hoá mà ban đầu dự định làm nòng cốt cho TTCK, cũng tham gia tha thớt, thậm
chí đóng băng do vẫn duy trì các phiên đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nớc
phạm vi hẹp với sự tham gia chủ yếu của các ngân hàng th
ơng mại quốc doanh

thuận lợi nh đã nêu, nhng công tác quản lý hoạt động giao dịch chứng khoán
đã đợc thực hiện tốt, thể hiện ở tình trạng ổn định trong kinh doanh trên thị
trờng, không có những trục trặc lớn xảy ra tại các phiên giao dịch.
Bên cạnh những thành công bớc đầu, hoạt động giao dịch chứng khoán
sau năm đầu tiên cũng bộc lộ những nhợc điểm nh sau:
- Do nhu cầu mua chứng khoán lớn trong khi hàng hoá trên thị tr
ờng còn
quá ít nên giá chứng khoán tăng cao (sau một năm tăng hơn 20 lần). Hiện tợng
giá chứng khoán tăng cao liên tục mà không có ai bán ra thể hiện sự lệch lạc
trong cán cân cung, cầu cổ phiếu. Giá chứng khoán tăng nhanh trong năm giao
dịch đầu tiên có yếu tố không lành mạnh do các hoạt động cầm cố ngân hàng
(vay ký quĩ) và bán khống (vay chứng khoán của công ty chứng khoán để bán
CIEM, Trung tõm Thụng tin T liu
5

lúc cao , sau đó mua lại để trả khi giá xuống). Để hạn chế tiêu cực nảy sinh, Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nớc đã đa ra các biện pháp can thiệp nh khống chế
biên độ dao động giá cổ phiếu, khống chế lợng cổ phiếu mỗi ngời nắm giữ
trong mỗi phiên giao dịch (không quá 200 chứng khoán/ngời). Tuy nhiên, biện
pháp cơ bản nhất để giảm tình trạng mất cân đối cung, cầu trên TTCK là tăng
hàng cho thị trờng này. Tại thời điểm mở cửa TTCK, có hơn 20 Tổng công
ty Nhà nớc đủ tiêu chuẩn niêm yết trên TTCK nhng không ra niêm yết vì ngại
công khai thông tin.
- Thiếu sự gắn kết giữa thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp (trong khi
Nghị định 48/NĐ qui định công ty muốn phát hành chứng khoán ra công chúng
phải đợc kiểm toán, thì Nghị định 44/NĐ về cổ phần hoá DNNN lại không
ràng buộc điều này). Trên thực tế có công ty cổ phần phát hành cổ phiếu ra công
chúng không phải để tăng vốn mà là huy động thêm vốn để trả nợ (!);
- Lãi suất trái phiếu không đợc hình thành theo thị trờng mà do Ban tổ
chức chỉ đạo đã hạn chế tính khách quan, năng động của thị trờng. Nhiều phiên

trở thành thị trờng có sức tăng trởng mạnh nhất ở Châu á. Điều khiến các
chuyên gia nớc ngoài chú ý là nhịp độ lớn mạnh của TTCK Việt Nam diễn ra
trong bối cảnh ngoài nớc thì các nền kinh tế khu vực sa sút, trong nớc thì giao
dịch chứng khoán bị giới hạn trong ba phiên mỗi tuần với những qui định chặt
chẽ về biên độ dao động giá cổ phiếu trong một phiên. Căn cứ triển vọng phát
triển kinh tế Việt Nam, chuyên gia này nhận định: về lâu dài, kinh tế Việt Nam
sẽ vơn tới một TTCK lành mạnh và sôi động. D luận Việt Nam nhìn chung
cũng kỳ vọng vào sự ra đời của TTCK, có báo còn đánh giá quyết định thành lập
TTCK là một trong mời sự kiện kinh tế nổi bật của năm 2000.
II- Sự phát triển của TTCK Việt Nam
II.1. Diễn biến của TTCK Việt Nam từ 2002 đến nay
Từ 01 tháng 3 năm 2002, TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh mở cửa đủ các
ngày trong tuần và áp dụng phơng thức giao dịch thoả thuận đối với cổ phiếu.
Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), và Ngân hàng Đầu t và
Phát triển Việt Nam là những đơn vị tham gia kinh doanh chứng khoán ngay từ
những ngày đầu tiên TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh đi vào hoạt động (Công ty Cổ
phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), vốn điều lệ 43 tỷ đồng; Công ty TNHH
Chứng khoán Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam (BSC), vốn điều lệ 200
tỷ đồng). Ngày 19/6/2002, phòng giao dịch chứng khoán đầu tiên (thuộc công ty
chứng khoán Ngân hàng Đầu t và Phát triển, đợc cấp phép hoạt động.
Tuy nhiên, tình trạng giảm sút của nền kinh tế đã tác động trực tiếp đến
hoạt động của TTCK Việt Nam. Liên tiếp trong hai năm, 2002, 2003 chỉ số
chứng khoán sụt giảm mạnh: từ khoảng 240 điểm vào cuối năm 2001 tụt xuống
còn 183,05 điểm trong phiên giao dịch cuối năm 2002 và 138,19 điểm vào đầu
tháng 11 năm 2003. Giá trị giao dịch chứng khoán có phiên chỉ đạt 80 triệu
đồng (phiên ngày 11/10/2002). Bên cạnh sự trì trệ của thị trờng, đã có cổ phiếu
phải tạm ngừng giao dịch do phát hiện gian lận trong hoạt động của công ty
niêm yết (gian lận hoàn thuế Giá trị gia tăng tại Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ
CIEM, Trung tõm Thụng tin T liu
7

xấp xỉ cuối năm 2001. Năm 2004 chứng kiến sự tăng mạnh giá cổ phiếu của
một loạt công ty: GMD (Công ty CP Đại lý Liên hiệp Vận chuyển), HAP (Công
ty CP Giấy Hải Phòng), SAM (Công ty CP Cáp và Vật liệu viễn thông), AGF
(Công ty CP Xuất nhập khẩu An Giang), BT6 (Công ty CP Bê tông 620 Châu
Thới), GIL (Công ty CP Xuất nhập khẩu Bình Thạnh), TMS (Công ty CP Đại lý
Liên hợp vận chuyển thuộc TCT Hàng Hải VN), VTC (Công ty CP Viễn thông),
CIEM, Trung tõm Thụng tin T liu
8

SAV (Công ty CP Hợp tác Kinh tế và Xuất nhập khẩu), và sự tham gia niêm yết
của Công ty TNHH xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô miền Bắc (NKD),
một thơng hiệu mạnh trong ngành chế biến thực phẩm. Cổ phiếu NKD chính
thức giao dịch từ phiên 15/12/2004. Qua 4 phiên giao dịch, cổ phiếu NKD đã ở
trong top 10 cổ phiếu có giá cao nhất.
Mặc dù hoạt động kinh doanh chứng khoán đã sôi động trở lại trong năm
2004, nhng đến cuối năm 2004 trên sàn giao dịch của TTCK Việt Nam mới
có 26 công ty tham gia niêm yết cổ phiếu với tổng giá trị giao dịch trên 132
triệu USD, chiếm tỷ trọng 0,4% GDP, trong khi tỷ trọng này phải đạt 10 15%
GDP nh mục tiêu đặt ra đến năm 2010 thì TTCK mới thực sự là một kênh huy
động vốn đầu t có ý nghĩa.
TTCK Việt Nam tiếp tục sôi động trong năm 2005. Bên cạnh cổ phiếu
của GMD vẫn giữ mức giá cao nhất (trên 50.000 đ/cp), giá cổ phiếu của Cty
Kinh Đô đã có mức tăng kỷ lục: trong vòng 7 tháng lên sàn, giá cổ phiếu NKD
đã tăng từ 27.000 đ/cp tại phiên đầu tiên, lên 39.200 đ/cp (phiên 01/8/2005), trở
thành cổ phiếu có giá trị cao thứ hai.
Thông tin về việc Trung Quốc thúc đẩy các DNNN lớn tham gia huy
động vốn trên TTCK đã tác động đến các nhà hoạch định chính sách của Việt
Nam. Giữa tháng 2/2005 Nhà nớc cho phép Công ty CP Sữa Việt Nam
(Vinamilk, VNM) bán bớt 15% cổ phần Nhà nớc trị giá 182,7 tỷ đồng theo
hình thức đấu giá tại TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh. Phiên đấu giá cổ phần nhằm

(Công ty Thuỷ sản 4).
Đến cuối năm 2005, chỉ số Việt Nam - Index đạt mức 309,26, tăng 21,7
điểm, tăng 30% so với cuối năm 2004, một mức tăng kỷ lục cho đến thời điểm
đó. Tại phiên giao dịch ngày 17/10/ 2005, chỉ số VN- Index tăng tới 16 điểm (+
2,01%) với tổng giá trị giao dịch 25 tỷ đồng; trị giá giao dịch trái phiếu lên tới
215 tỷ đồng; giá hầu hết các cổ phiếu đều tăng. Tính đến cuối năm 2005, cổ
phiếu có giá tăng cao nhất là cổ phiếu của Công ty CP Đại lý liên hiệp vận
chuyển (Gemadept, GMD). Tại phiên giao dịch cuối năm 2005, giá cổ phiếu
GMD đạt mức kỷ lục: 70.000 đ/CP, tăng gấp 7 lần chỉ sau 4 năm niêm yết trên
TTCK. Với sự tham giao dịch cổ phiếu của Công ty cổ phần Kinh Đô Miền
Nam (KDC, vốn đăng ký 250 tỷ đồng) và Công ty CP Gạch ngói Nhị Hiệp
(NHC, Tỉnh Bình Dơng), đến cuối năm 2005, số lợng thành viên của
TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh đã lên tới 31, tăng 5 Công ty so với cuối năm 2004.
Trong đợt chia cổ tức tháng 12/2005, phần lớn các Công ty CP lấy mức
sàn 1%/ tháng. Cổ tức của Vinamilk, Bảo Minh là 15 16%/năm; Công ty
Giống cây trồng miền Nam (SSC) 20%. Cổ tức của đơn vị kinh doanh khó khăn
nh Đờng Biên Hoà cũng đạt 18%/năm.
Mặc dù chỉ số chứng khoán tăng cao nhng hoạt động của TTGDCK Tp.
Hồ Chí Minh duy trì đợc sự ổn định, tạo đợc niềm tin cho nhà đầu t. Trong
cả năm, chỉ có một lần UBCK phải can thiệp hành chính, đó là quyết định tạm
dừng giao dịch cổ phiếu của Công ty Cơ khí xây dựng Bình Triệu (BTC) từ
CIEM, Trung tõm Thụng tin T liu
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status