PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC
GIANG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của Công ty May Đức Giang
Công ty May Đức Giang là một doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán độc lập
thuộc Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam - Bộ Công Nghiệp Nhẹ. Tên giao dịch
quốc tế : DUCGIANG GARMENT COMPANY viết tắt là DUGACO. Trụ sở giao
dịch 59 Thị trấn Đức Giang- Gia Lâm - Hà Nội.
Công ty có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng tại ngân hàng công thương
khu vực Chương Dương và Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam. Quá trình hình
thành và phát triển của công ty được tóm tắt như sau:
Công ty May Đức Giang tiền thân là Xí nghiệp may Đức Giang được thành
lập vào ngày 2 tháng 5 năm 1989 theo quyết định số 102 CNn/TCLD của Bộ Công
Nghiệp Nhẹ. Vào thời điểm này nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Các đơn vị kinh tế cơ sở thực hiện
quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, từ đó vai trò của các tổng công ty và liên
hiệp các xí nghiệp không còn như trước. Để thích ứng với cơ chế mới các cơ quan
này phải sắp xếp lại tổ chức và tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật cùng số lao động
dôi dư để hình thành đơn vị sản xuất kinh doanh mới. May Đức Giang là một đơn
vị ra đời trong bối cảnh ấy.
Cơ sở vật chất ban đầu của xí nghiệp là trạm vật tư May Đức Giang thuộc
liên hiệp các xí nghiệp may gồm 5 nhà kho, 2 dãy nhà cấp 4 trên diện tích đất 18
000 m
2
máy móc thiết bị có 132 máy khâu Liên Xô và số máy cũ đã thanh lý của
May 10, May Thăng Long và của liên hiệp các xí nghiệp may điều cho. Tổng giá
trị của số tài sản này là 265 triệu đồng, không có vốn lưu động. Về lao động, theo
danh sách ban đầu là hơn 40 người được điều từ các phòng ban của liên hiệp và số
nhân viên coi kho của trạm vật tư May Đức Giang. Song trên thực tế khi xí nghiệp
đi vào hoạt động chỉ còn 28 người và chủ yếu là nhân viên coi kho.
Thời gian đầu, xí nghiệp chỉ sản xuất những mặt hàng kỹ thuật trung bình,
yêu cần sản xuất kinh doanh của công ty và bổ sung cho các đơn vị liên doanh của
mình.
Hiện nay, công ty May Đức Giang có một khu sản xuất liên hoàn trên diện tích 4,5 ha, tổng số cán bộ công
nhân viên trong công ty gần 3000 người, tổng số vốn kinh doanh trên 70 tỷ đồng, năng lực sản xuất mỗi năm trên 7
triệu áo sơ mi quy đổi. Sản phẩm chủ yếu là áo sơ mi cao cấp, áo Jacket, quần Jean, quần âu các loại. Thị trường
xuất khẩu gồm 22 nước trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hông Công, Khối EU, Trung Cận Đông,
Bắc Mỹ. Hệ thống tiêu thụ trong cả nước có 39 đại lý ở các tỉnh và thành phố ngoài ra đơn vị còn có 4 đơn vị liên
doanh tại các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Thái Bình giải quyết việc làm cho hơn 3000 lao động tại các
địa phương.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty liên tục tăng trưởng, năm tăng trưởng cao nhất là
171,6% (1994) Năm 2000, 2001 mặc dù gặp không ít khó khăn do sự biến động của thị trường thế giới và tác động
tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nhưng công ty đã hoàn thành tốt kế hoạch của Tổng Công Ty Dệt
May Việt Nam giao cho
- Doanh thu đạt 83233785000 , tăng 1,3 lần so với năm 2000
- Về giá trị sản suất công nghiệp đạt 62,7 tỷ đồng tăng 15,1 % so
với năm 2000 và gấp 78,18 lần so với năm 1990
- Kim ngạch xuất khẩu đạt 7665 ngàn đô tăng 16,4% so với năm
2000 và gấp 212 lần so với năm 1990
- Về giá trị sản suất công nghiệp đạt 62,7 tỷ đồng tăng 15,1 % so
với năm 1998 và gấp 78,18 lần so với năm 1990
- Kim ngạch xuất khẩu đạt 7665 ngàn đô tăng 16,4% so với năm
1998 và gấp 212 lần so với năm 1990
- Thu nhập bình quân 1 người / 1 tháng 1071000đ tăng 12,3% so
với năm 1998 và gấp 27 lần so với năm 1990
Với sự phát triển đi lên bằng chính sức lực của mình công ty đã được Đảng
và Nhà Nước tin tưởng chọn là một trong những nơi tham quan của các nguyên thủ
quốc gia đến thăm Việt Nam, được các tổ chức trong nước tặng thưởng các danh
hiệu cao quý sau đây:
- Danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
- Huân chương lao động hạng nhất
động có chất lượng cũng như sắp xếp lao động sao cho hợp lý. Có như vậy, đồng
vốn đầu tư mới có thể được sử dụng hiệu quả đồng thời đảm bảo cho công ty tồn
tại và phát triển khi mà sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt.
2.1.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật :
Hiện nay công ty đã xây dựng được 2 toà nhà cao 3 tầng phục vụ cho việc
điều hành sản xuất kinh doanh, 9 xí nghiệp may với 2081 máy may công nghiệp
và các loại máy chuyên dùng tiên tiến do Nhật Bản, Mỹ, Cộng Hoà Liên Bang
Đức sản xuất như hệ thống giác sơ đồ trên máy vi tính, 4 máy thêu điện tử, dây
chuyền giặt mài ....Ba kho nguyên phụ liệu, phụ tùng cùng ban cơ điện sẵn sàng
phục vụ các nhu cầu phát sinh ở các xí nghiệp sản xuất. Xí nghiệp bao bì có nhiệm
vụ cung cấp đủ bao gói để hoàn thiện sản phẩm nhập kho, đội vận tải với các loại
xe chuyên dùng sẵn sàng lên đường đáp ứng đúng thời hạn giao hàng.
2.1.2.3 Khả năng tài chính
Hiện nay, công ty có tổng số vốn là 72959170000 (đồng) trong đó tài sản lưu
động và đầu tư ngắn hạn chiếm 58,05%, tài sản cố định và đầu tư dài hạn chiếm
41,95%. Đây là cơ cơ cấu vốn chưa hợp lý bởi vì các khoản phải thu của công ty
chiếm tỷ trọng khá lớn (80,68%) trong tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm
46,84% trong tổng tài sản. Điều đó có nghĩa là công ty đang bị chiếm dụng vốn
quá nhiều. Cơ cấu về nguồn vốn của công ty được coi là khá hợp lý, nợ ngắn hạn
chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nợ phải trả, trong khi đó nợ dài hạn chiếm tỷ trọng
cao ( 59,95%) trong tổng nợ. Tuy nhiên nếu hạ thấp được hơn nữa tỷ trọng nợ phải
trả và nâng cao tỷ trọng vốn chủ sở hữu thì tốt, công ty sẽ an toàn và bớt phụ
thuộc hơn.
2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
2.1.3.1 Đặc điểm về quy trình công nghệ
Quy trình sản xuất của công ty có đối tượng chế biến là vải được cắt và may
thành các chủng loại mặt hàng khác nhau, kỹ thuật sản xuất các cỡ vải của mỗi
chủng loại mặt hàng có mức độ khác nhau, phụ thuộc vào số lượng chi tiết của
loại hàng đó. Do mỗi mặt hàng, kể cả kích cỡ của mỗi mặt hàng có yêu cầu sản
xuất riêng về loại vải, về thời gian hoàn thành cho nên tuỳ từng chủng loại mặt
bộ phận là, rồi chuyển sang bộ phận KCS của xí nghiệp để kiểm tra xem sản
phẩm có đảm bảo chất lượng theo yêu cầu không . Khi đã qua bộ phận KCS thì tất
cả các sản phẩm được chuyển đến phân xưởng hoàn thành để đóng gói, đóng kiện.
2.1.3.2 Đặc điểm tổ chức quản lý
Là đơn vị hạch toán kinh tế, kinh doanh độc lập, Công Ty may Đức Giang có
quản lý theo hai cấp. Cấp công ty ( phía trên ) và các Xí nghiệp thành viên (phía
dưới )
- Tổng giám đốc : Là đại diện pháp lý của công ty, chịu trách nhiệm cao nhất
trước pháp luật và cấp trên về mọi hoạt động của công ty.
- Ba phó tổng giám đốc do Tổng giám đốc đề nghị cấp trên bổ nhiệm gồm :
• Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất
• Phó tổng giám đốc điều hành kinh doanh
• Phó tổng giám đốc điều hành xuất nhập khẩu
Các phòng ban chức năng (khối chức năng ) có nhiệm vụ tham mưu
cho ban giám đốc về lĩnh vực mang tính chất chuyên môn hoá gồm :
• Phòng tổ chức hành chính ( văn phòng tổng hợp )
• Phòng tài chính kế toán
• Phòng kế hoạch
• Phòng kỹ thuật
• Phòng xuất nhập khẩu
• Phòng thời trang
• Ban điện
• Ban cơ
• Đội xe
- Các đơn vị thành viên gồm 6 Xí nghiệp may chuyên sản xuất các sản phẩm
may mặc theo chỉ đạo của ban lãnh đạo công ty
Qua mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty cho thấy đó là hình thức tổ chức quản lý theo kiểu trực
tuyến chức năng. Ưu điểm của nó là : Thay vì toàn bộ công việc đều đến tay Tổng Giám Đốc, Giám Đốc giải quyết
chịu trách nhiệm thì nay được chia xẻ bớt cho các phòng ban chức năng gánh vác và chịu trách nhiệm đối với khối
lượng công việc được giao trước tổng giám đốc, giám đốc vì thế sẽ hạn chế được những quyết định sai lầm gây thiệt
thêu
XNmay
9
XNmay
8
XNmay
6
XNmay
4
XNmay
2
Các cửa
hàng đại
lí
Phòng thời
trang
Văn
phòng
tổng hợp
Phòng ISOPhòng tài
chính kế
toán
Phòng kế
hoạch và
đầu tư
Phòng kỹ
thuật
Phòng xuất
nhập khẩu
Qua bảng số liệu trên cho thấy tổng vốn của công ty qua các năm đều có sự tăng trưởng chứng tỏ sự lớn
mạnh của công ty. Năm 2000 là năm công ty tiếp tục đầu tư tiền của vào xây dựng nhà xưởng đầu tư thêm phương
tiện sản xuất làm việc nâng vốn cố định tăng so với năm 1999 là 10.877.206 nghìn đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là
6,54% trong đó việc tăng chủ yếu là do công ty đã đầu tư vào việc mua sắm đổi mới, nâng cấp TSCĐ, chiếm tỷ
XNmay
2
trọng rất lớn là 94,15% trong vốn cố định năm 2000 và chiếm tới 93,18% trong mức tăng lên của vốn cố định. Trong
khi đó các khoản đầu tư tài chính dài hạn và chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng lên không đáng kể, nó chiếm
6,82% trong mức tăng lên đó. Hiện tượng này đã hoàn hoàn chấm dứt vào năm 2001, được thể hiện rõ qua cơ cấu
vốn. Vốn cố định chỉ còn chiếm 41,95% trong tổng vốn kinh doanh và vốn lưu động đã chiếm tới 58,15% tăng
21,73% tương ứng với mức tăng tuyệt đối là 23370403 nghìn đồng so với năm 1999. Việc tăng này chủ yếu là do
các khoản phải thu tăng 26.441.288 nghìn đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 342,04%, và do hàng tồn kho cũng tăng
7.826.249 nghìn đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 18,32% . Trong khi đó tiền mặt lại giảm –4.271.842 nghìn đồng
tương ứng với tỷ lệ giảm là -63,82% so với năm 2000. Kết qủa này cho thấy năm 2000 công ty đã sản xuất và tiêu
thụ được khá nhiều sản phẩm hàng hoá và lượng hàng tồn kho tăng lên không đáng kể so với mức tăng của các
khoản phải thu. Tuy nhiên thực tế cho thấy mặc dù công ty tiêu thụ tốt hàng hoá sản xuất ra nhưng tiền mặt thực sự
thu về nằm trong két lại giảm so với năm 2000 vì doanh thu ( lợi nhuận) tạo được trong quá trình sản xuất kinh
doanh đã nằm hầu hết trong khoản phải thu. Điều này chứng tỏ công ty đang bị chiếm dụng vốn khá nhiều, gây bất
lợi cho công ty trong việc quay vòng vốn. Trên đây là vấn đề mà công ty cần phải giải quyết trong năm 2002 đặc
biệt là khoản phải thu của khách hàng vì nó chiếm tới 93,79% trong tổng số phải thu. Công ty cần có những giải
pháp thật hợp lý làm sao thu được tiền về két, giảm thiểu số tiền trong lưu thông mà không làm ảnh hưởng tới
khách hàng, đối tác. Điều này hết sức quan trọng bởi họ chính là người trực tiếp hoặc gián tiếp tạo công việc làm
cho người lao động là nhân tố tích cực trong chiến lược phát triển của công ty.
b. Cơ cấu nguồn vốn của công ty
Là một doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường, ngoài nguồn vốn do ngân sách cấp. Công ty có
quyền chủ động trong việc huy động các nguồn vốn khác cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn huy động
của công ty chủ yếu là vay ngân hàng. Trong hoạt động này chủ yếu là vay dài hạn và vay ngắn hạn nhưng vay dài
hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn vay ngắn hạn trong tổng số nợ phải trả.
Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn của công ty May Đức Giang
Đơn vị tính : 1000đ