TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ HỖ TRỢ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ
1.1Khái quát về dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế:
1.1.1Khái niệm:
Dịch vụ HTĐTNT là một khái niệm rất quen thuộc ở nhiều nước trên thế
giới, đặc biệt là ở các nước phát triển. Tuy nhiên ở nước ta, khái niệm này còn khá
mới mẻ. Mặc dù chúng ta đang từng bước thực hiện dịch vụ HTĐTNT nhưng cũng
chưa có văn bản chính thức nào đưa ra khái niệm này một cách rõ ràng. Chính vì
vậy, xung quanh vấn đề này có một số quan điểm khác nhau. Dưới đây xin đề cập
hai quan điểm nổi bật.
Quan điểm phổ biển nhất coi Dịch vụ HTĐTNT là những dịch vụ công trong
lĩnh vực thuế, do cơ quan thuế đảm nhận và cung cấp miễn phí cho công chúng và
các ĐTNT.
Theo quan điểm này, Dịch vụ HTĐTNT bao gồm công tác tuyên truyền,
giáo dục pháp luật thuế cho tất cả các ĐTNT cũng như các tầng lớp dân cư; đồng
thời giải đáp các vướng mắc về thủ tục, chính sách thuế để các ĐTNT thực hiện
đúng luật. Chủ thể cung cấp các dịch vụ này là cơ quan thuế, đối tượng nhận dịch
vụ là các ĐTNT và công chúng có quan tâm. Những người tiêu dùng dịch vụ này
không phải trả phí.
Quan điểm khác cho rằng Dịch vụ HTĐTNT chính là dịch vụ tư vấn trong
lĩnh vực thuế và kế toán nhằm giúp cho các ĐTNT trong quá trình chấp hành pháp
luật thuế của Nhà nước.
Với quan điểm này, phạm vi của dịch vụ HTĐTNT rộng hơn nhiều, nó
không chỉ giới hạn trong lĩnh vực thuế mà mở rộng sang cả lĩnh vực tài chính kế
toán. Nội dung các hoạt động hỗ trợ tập trung vào việc cung cấp dịch vụ tư vấn và
các dịch vụ khác trong lĩnh vực kế toán, thuế, tài chính theo yêu cầu của ĐTNT.
Chủ thể cung cấp dịch vụ này thường là các doanh nghiệp thuộc khu vực tư. Người
tiêu dùng dịch vụ này phải trả phí.
Như vậy, mỗi quan điểm trên đề cập đến một khía cạnh và có những điểm
không thống nhất. Theo chúng tôi, để đưa ra một khái niệm chính xác và đầy đủ về
Dịch vụ HTĐTNT cần xuất phát từ những thuật ngữ cụ thể.
Theo “Từ điển Tiếng Việt” (NXB Đà Nẵng 1998) :
- Đối tượng vi phạm pháp luật thuế:
+ Do không nắm vững chế độ, chính sách.
+ Đối tượng vi phạm pháp luật thuế do cố tình.
Các ĐTNT có ý thức chấp hành pháp luật thuế khác nhau cần có phương
pháp tuyên truyền, tư vấn, hướng dẫn khác nhau. Đặc biệt với các đối tượng cố
tình vi phạm pháp luật thuế thì ngoài tuyên truyền, hướng dẫn còn phải chú trọng
tới việc nâng cao ý thức thực hiện nghĩa vụ thuế.
*Phân loại lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh:
Theo tiêu thức này, có 4 nhóm ĐTNT chính:
- Doanh nghiệp sản xuất, xây dựng.
- Doanh nghiệp vận tải.
- Doanh nghiệp thuộc lĩnh vực lưu thông, phân phối.
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Mỗi lĩnh vực hoạt động thường có các đặc điểm sản xuất, kinh doanh khác
nhau dẫn đến việc xác định các căn cứ tính thuế cũng khác nhau nên cần có các
hướng dẫn, trợ giúp theo từng lĩnh vực cụ thể.
*Phân loại theo thời gian hoạt động:
- Doanh nghiệp mới thành lập.
- Doanh nghiệp đã hoạt động nhiều năm.
Đối với các doanh nghiệp mới thành lập thường cần được hướng dẫn nhiều
hơn, chi tiết, tỉ mỉ hơn.
*Phân loại theo hình thức sở hữu:
- Doanh nghiệp Nhà nước.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.1.3 Nội dung và các hình thức thực hiện dịch vụ HTĐTNT:
Xét về mặt nội dung, dịch vụ HTĐTNT có thể được chia thành các hoạt
động: tuyên truyền về pháp luật thuế và hỗ trợ ĐTNT.
1.1.3.1 Tuyên truyền về pháp luật thuế:
Công tác tuyên truyền, giáo dục về pháp luật thuế là nhiệm vụ của cán bộ