LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ TẠI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP Y TẾ.
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ.
1.1.1. Khái niệm về đơn vị sự nghiệp y tế.
Công việc khám chữa bệnh đã có từ khi xã hội loài người xuất hiện, ban đầu
chỉ là những thầy lang, thầy phù thuỷ, với những phương thức chữa bệnh rất đơn
sơ và mang nặng tính chất mê tín. Bệnh viện chỉ thực sự phát triển từ cuối thế kỷ
XIX do có sự trợ giúp của các ngành khoa học khác, nó có tổ chức và hệ thống
hoàn chỉnh. Đến ngày nay thì bệnh viện chở thành một đơn vị không thể thiếu và
vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Theo quan điểm hiện đại bây
giờ cho rằng: “Đơn vị y tế là một cơ sở y tế trong khu trong khu vực dân cư, là một
bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là
chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, là trung
tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu sinh xã hội học”.
Như vậy theo cách hiểu trên thì đơn vị sự nghiệp y tế là một hệ thống, một
phức hợp và một tổ chức động.
- Đơn vị y tế là một hệ thống lớn bao gồm: ban giam đốc, các phòng nghiệp
vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.
- Đơn vị y tế là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan chằng
chịt từ khám bệnh, chuẩn đoán, điều trị, chăm sóc….
- Là một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang
thiết bị, thuốc cần để chuẩn đoán điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện
hoặc hồi phục sức khoẻ hoặc người bệnh tử vong.
Đơn vị y tế có 3 loại:
+ Đơn vị y tế công hay còn gọi là đơn vị sự nghiệp y tế. Đây là đơn vị y tế
do Nhà nước quản lý, mọi sự hoạt động của nó phụ thuộc vào đường lối phát triển
của Nhà nước.
+ Đơn vị y tế tư là đơn vị y tế do tư nhân đứng ra tổ chức thành lập như: Các
phòng khám tư, bệnh viện tư,... Hoạt động của nó một phần phải nằm trong khuôn
khổ chung của mọi bệnh viện và một phần năm dưới sự chỉ đạo của tư nhân.
+ Đơn vị y tế công, tư đây là loại hình Bệnh viện do có sự kết hợp cả hai loại
năng động nhất trong mọi nguồn lực nên việc chăm lo đầy đủ đến con người phải
thông qua việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bằng cách nuôi dưỡng bảo toàn, phát
triển sức lực thông qua việc giáo dục và đào tạo. Có như vậy mới đảm bảo được
nền tảng vững chắc về sự phồn vinh, thịnh vượng, thực hiện được chiến lược phát
triển con người: “Nâng cao dân trí đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Mặt khác trong hai mục tiêu lớn của chiến lược con người là khai thác và
phát huy cao độ năng lực lao động, chất sám, tạo môi trường phát triển có trọng
dụng nhiều nhân tài. Nhưng để đạt được điều đó đòi hỏi phải có sức khỏe, sức
khoẻ là tiền đề để tạo ra trí thức cho con người. Thật vậy, ngành y tế với chức năng
chăm sóc, bảo vệ và nâng cao thể lực của nhân dân nên có một vị trí hết sức quan
trọng trong việc phát triển nguồn lực để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã
hội.
Chiến lược chăm sóc sức khoẻ của tổ chức y tế Thế giới đến năm 2000 là:
“Không có một công dân nào lại không được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe”. Đầy
cũng là một nội dung cơ bản của chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
ta.
Như vậy, sự nghiệp y tế có vai trò hết sức quan trọng trong việc chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ nhân dân ta. Trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta coi
việc quan tâm đến sự nghiệp y tế là sự nghiệp của toàn xã hội, của toàn dân và tư
tưởng chỉ đạo trong công cuộc thực hiện chiến lược con người cũng là chiến lược
phát triển kinh tế xã hội.
Để nâng cao chất lượng ngành y tế cần phải có sự đầu tư mà trước hết là sự
đầu tư vốn bằng tiền. Vốn đầu tư cho y tế có thể được khai thác dưới nhiều hình
thức khác nhau, song hiện nay ở nước ta chủ yếu vẫn là do nguồn NSNN đài thọ và
nó hình thành nên khoản chi NSNN cho sự nghiệp y tế. Thông qua chi NSNN sẽ có
tác động quan trọng đến việc tổ chức mạng lưới cũng như cơ cấu của ngành y tế, từ
đó sắp xếp cho phù hợp, hướng dẫn quản lý các hoạt động y tế một cách có hiệu
quả. Trong cơ chế thị trường yêu cầu cơ bản của việc thực hiện cơ chế mới là nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho ngành y tế có khả năng chủ động điều hoà, cân đối sử
dụng lực lượng cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí một cách hợp lý có hiệu quả phục
sách xã hội. Các đối tượng khác có nhu cầu phục vụ cao hơn được các cơ sở y tế,
bệnh viện tạo điều kiện thuận lợi phù hợp với khả năng thanh toán của họ.
Quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế là một trong những
công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của xã hội.
Thông qua việc xác định cơ cấu tỷ trọng các khoản chi ở các đơn vị mà Nhà nước
tham gia điều chỉnh hướng dẫn đảm bảo các hoạt động y tế ở các đơn vị sự nghiệp
y tế đi đúng hướng theo đường lối của Đảng và Nhà nước.
Trên đây là một số vai trò chủ yếu của việc quản lý sử dụng kinh phí ở các
đơn vị sự nghiệp y tế. Song các vai trò này phát huy được hay không phụ thuộc rất
lớn vào công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng như hệ thống quản lý
ở các đơn vị sự nghiệp này.
1.2. CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Có 3 nguồn vốn cơ bản:
- Ngân sách do Nhà nước cấp hàng năm.
- Thu viện phí và bảo hiểm y tế do cơ quan Bảo hiểm Y tế thanh toán cho
bệnh viện.
- Thu viện trợ và các khoản khuyên góp.
Đối với các đơn vị sự nghiệp y tế, các nguồn tài chính được lập kế hoạch
cho từng năm trên cơ sở định mức của Bộ Tài chính qui định, định mức do bệnh
viện tự xây dựng đã được cơ quan chủ quản duyệt, và dự báo về khả năng thu.
1.2.1. Nguồn ngân sách do Nhà nước cấp hàng năm.
Hàng năm bệnh viện công nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân
sách của Nhà nước, căn cứ tính theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/ năm
nhân (x) với số giường bệnh kế hoạch của bệnh viện. Số kinh phí này thường đáp
ứng được từ 30 đến 50% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của Bệnh viện.
1.2.2. Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế.
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế được Bộ Tài chính qui định là một
phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho ngành y tế quản lý và sử
dụng. Các nguồn ngân sách này được quản lý tập trung thống nhất tại phòng Tài
chính – Kế toán của bệnh viện theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp do Chính
1.3. NỘI DUNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ.