CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG - Pdf 75

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ
TIỀN LƯƠNG
I. Quản lý lao động và tiền lương trong doanh nghiệp.
1. Cơ sở lý luận chung về quản lý lao động.
1.1. Khái niệm quản lý lao động
Quản lý lao động là hoạt động quản lý lao động con người trong một tổ chức
nhất định trong đó chủ thể quản trị tác động lên khách thể bị quản trị nhằm mục
đích tạo ra và đảm bảo lợi ích chung của cả tổ chức. Trong nền kinh tế thị trường,
các doanh nghiệp được đặt trong một bối cảnh cạnh tranh quyết liệt. Vì vậy, để có
thể tồn tại, cạnh tranh và phát triển, doanh nghiệp phải thường xuyên tìm cách
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong đó công việc quan trọng phải quan
tâm hàng đầu là quản trị lao động. Những việc làm khác sẽ trở nên vô nghĩa nếu
công tác quản lý lao động không được chú ý đúng mức, không được thường xuyên
hoàn thiện và cải tiến. Một doanh nghiệp dù có điều kiện thuận lợi trong kinh
doanh, có đầy đủ điều kiện vật chất và kỹ thuật để kinh doanh có lãi, một đội ngũ
công nhân viên đủ mạnh nhưng khoa học quản lý không được áp dụng một cách có
hiệu quả thì doanh nghiệp đó cũng không thể tồn tại và phát triển được.
Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự chuyển đổi từ nền kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã làm cho những mối
quan hệ giữa con người ngày càng trở nên phức tạp. Nhiệm vụ của quản lý lao
động là điều hành chính xác, trọn vẹn các mối quan hệ ấy để sản xuất được tiến
hành liên tục, nhịp nhàng và đem lại hiệu quả cao. Vì vậy, vai trò của quản lý lao
động đối với doanh nghiệp là rất quan trọng. Quản lý lao động là một bộ phận
không thể tách rời của quản trị sản xuất kinh doanh; nó hướng tới mục đích củng
cố, duy trì đầy đủ số lượng cũng như chất lượng của người lao động ở mức cần
thiết cho tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra, tìm kiếm và phát triển những hình
thức, phương pháp tốt nhất để con người có thể đóng góp nhiều sức lực phục vụ
cho các mục tiêu của tổ chức đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng
chính bản thân con người. Sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người là mục tiêu
của quản lý lao động.
1.2. Các quan điểm về quản lý lao động trong doanh nghiệp

hiện nay, các cơ sở doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được đều rất cần được
trang bị máy móc, thiết bị hiện đại, có sự nhảy vọt thay đổi về chất. Tuy nhiên nếu
thiếu nhân tố con người, thiếu một đội ngũ lao động có trình độ, có tổ chức thì
cũng không thể phát huy hết được tác dụng của những nhân tố kia.
Nói tóm lại, để quản lý lao động tốt thì phải giải quyết các nhiệm vụ
sau:
Thứ nhất là sử dụng lao động một cách hợp lý có kế hoạch, phù hợp với điều
kiện tổ chức, kỹ thuật, tâm sinh lý người lao động nhằm không ngừng tăng năng
suất lao động trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với các yếu tố khác của quá trình sản xuất
nhằm khai thác có hiệu quả nhất mọi nguồn lực của sản xuất kinh doanh.
Thứ hai là bồi dưỡng đội ngũ lao động về trình độ văn hoá, chính trị, tư
tưởng, chuyên môn nghiệp vụ, đạc biệt là nâng cao mức sống vật chất cũng như
tinh thần nhằm đảm bảo tái sản xuất sức lao động, phát triển con người một cách
toàn diện.
Quản lý lao động nhằm sử dụng và bồi dưỡng lao động là hai mặt khac nhau
nhưng lại có sự liên quan mật thiết với nhau. Nếu tách rời hoặc đối lập hai công
việc này thì đó là một sai lầm nghiêm trọng.
2. Cơ sở lý luận chung về tiền lương
Tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử
dụng lao động tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao
trong quá trình tạo ra của cải, vật chất cho xã hội.
Như vậy, tiền lương được biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động. Ở
nước ta hiện nay có sự phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố trong tổng thu nhập từ lao
động sản xuất kinh doanh của người lao động: tiền lương
( lương cơ bản ), phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi xã hội. Theo quan điểm của
chính phủ về chính sách tiền lương thì tiền lương là giá cả sức lao động, được hình
thành thông qua thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động phù
hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương
của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo
năng suất, chất lượng lao động và hiệu quả công việc.

phải ngang giá với giá cả của các tư liệu tư dùng, sinh hoạt cần thiết nhằm tái sản
xuất sức lao động cần thiết nhằm tái sản xuất sức lao động, sức lao động cần phải
được tái sản xuất thông qua quỹ tiêu dùng cá nhân và do đó tiền lương lại là phạm
trù thuộc lĩnh vực tiêu dùng.
Như vậy, tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền lao động, tiền tệ và nền
sản xuất hàng hoá. Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao
động mà người lao động sử dụng để bù đắp hao phí lao động đã bỏ ra trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Mặt khác, về hình thức, trong điều kiện tồn tại của nền
sản xuất hàng hoá và tiền tệ thì tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản
phẩm do lao động tạo nên. tuỳ theo cơ chế quản lý mà tiền lương có thể được xác
định là một bộ phận của chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản phẩm hay là
một bộ phận của thu nhập.
2.2. Chức năng của tiền lương.
Tiền lương là một nhân tố hết sức quan trọng của quá trình quản lý nói
chung và quản lý lao động tiền lương nói riêng. Có thể kể ra một số chức năng cơ
bản của tiền lương như sau:
- Kích thích lao động: chức năng này nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài có
hiệu quả, dựa trên cơ sở tiền lương phải đảm bảo bù đắp sức lao động đã hao phí
để khuyến khích tăng năng suất. Về mặt nguyên tắc, tiền lương phải đảm bảo lợi
ích kinh tế cho người lao động, tạo niềm hứng khởi trong công việc, phát huy tinh
thần sáng tạo tự học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn để từ đó giúp
họ làm việc với hiệu quả cao nhất và mức lương nhận được thoả đáng nhất.
- Giám sát lao động: giúp nhà quản trị tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát người
lao động làm việc theo kế hoạch của mình nhằm đạt được những mục tiêu mong
đợi, đảm bảo tiền lương chi ra phải đạt hiệu quả cao. Hiệu quả của việc chi trả
lương không chỉ tính theo tháng, quý mà còn được tính theo từng ngày, từng giờ
trong toàn doanh nghiệp hoặc ở các bộ phận khác nhau.
- Điều hoà lao động: đảm bảo vai trò điều phối lao động hợp lý, người lao động sẽ
từ nơi có tiền lương thấp đến nơi có tiền lương cao hơn. Với mức lương thoả đáng,
họ sẽ hoàn thành tốt các công việc được giao.

tiền lương của các sản phẩm trọng yếu, đặc thù, các sản phẩm còn lại thì doanh
nghiệp tự tính giá tiền lương theo hướng dẫn chung ( Thông tư số 13/LDTBXH-TT
ban hành ngày 10/04/1997 ). Doanh nghiệp sẽ tự quyết định đơn giá tiền lương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status