MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM THÂM
NHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG EU
I. Định hướng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU
Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế, trong thời gian tới công tác
xuất nhập khẩu đóng một vai trò rất quan trọng. Chính vì vậy, định hướng cho
hoạt động xuất khẩu là điều rất cần thiết, nó đảm bảo cho hoạt động này có
hiệu quả hơn trong bối cảnh mới-trong quá trình hội nhập quốc tế có những
xung lực cạnh tranh gay gắt, đặc biệt đối với thị trường EU còn nhiều mới mẻ
đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Có định hướng đúng sẽ
giúp cho các doanh nghiệp đề ra được sách lược cũng như chiến lược đúng
đắn nhất, phù hợp nhất tạo tiền đề cho việc thâm nhập hàng hoá của mình vào
thị trường này.
1. Định hướng phát triển mặt hàng xuất khẩu vào thị trường EU
Đối với cơ cấu hàng xuất khẩu của một quốc gia, việc duy trì những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực là cần thiết. Song với một nền kinh tế đang phát triển, cơ
cấu hàng xuất khẩu luôn phải được quan tâm đúng mức. Việc mở rộng cơ cấu hàng
xuất khẩu rất quan trọng vì nó đánh dấu sự phát triển của một nền kinh tế. Đặc biệt
đối với Việt Nam, bấy lâu nay cơ cấu xuất khẩu chủ yếu là hàng nông sản và một
số hàng công nghiệp nhẹ. Đến năm 2020 Việt Nam sẽ là một nước công nghiệp,
hàng xuất khẩu không thể chủ yếu là hàng nông sản, khoáng sản, sản phẩm thô sơ
chế mà phải xuất khẩu hàng công nghiệp với hàm lượng kỹ thuật cao, các sản
phẩm tinh chế có hàm lượng giá trị gia tăng cao.
Ngay hàng tiêu dùng, do kinh tế phát triển, nhu cầu con người luôn thay đổi,
hàng hoá phải luôn cải tiến. Phải chú ý đến chu kỳ sống của sản phẩm để kịp thời
cải tiến, thay đổi thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng. Việt Nam phải duy
trì và phát triển hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản, thủ công, mỹ nghệ; nhưng
phải chú trọng đẩy mạnh hợp tác phát triển ngành điện tử, chế biến thực
phẩm, phần mềm, công nghệ sinh học v.v... Đó chính là hướng và phải là kết
quả của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để mở rộng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu của Việt Nam sang EU, chúng
ta phải mở rộng và củng cố thị phần của các mặt hàng hiện có, và mở rộng danh
sản xuất trong nước, chúng ta cần phải thay đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng đẩy
mạnh xuất những mặt hàng mà tỷ trọng của ta trên thị trường EU còn thấp và phối
hợp chặt chẽ với EU để kiểm soát lượng giày dép mang xuất xứ Việt Nam xuất
khẩu vào EU. Muốn tăng nhanh kim ngạch và nâng cao hiệu quả xuất khẩu sản
phẩm da giày sang thị trường EU, sản phẩm của Việt Nam phải có chất lượng tốt,
giá cạnh tranh, kiểu dáng phong phú và phù hợp với sở thích luôn thay đổi của thị
trường này.
Hiện nay, nhiều nhà sản xuất trong nước liên doanh với nước ngoài để sản
xuất trong lĩnh vực này đã tạo được uy tín và có khả năng cạnh tranh vơí các sản
phẩm cùng loại của Trung Quốc, Thái Lan sản xuất trên thị trường quốc tế. Nếu
các doanh nghiệp sản xuất và gia công giày dép của Việt Nam biết mở rộng đầu tư
và đầu tư tập trung vào mặt hàng có chất lượng cao sẽ giành được những hợp đồng
có giá trị.
- Hàng dệt may: Cũng như giày dép, phần lớn khối lượng hàng dệt may của
Việt Nam xuất sang EU là làm gia công cho nước ngoài. Tỷ trọng hàng xuất theo
phương thức mua nguyên liệu-bán thành phẩm mới đạt khoảng 15%-18% kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường này. Hiện nay, mặt
hàng này của ta đang phải cạnh tranh rất gay gắt với sản phẩm của Trung Quốc và
Indonesia. Do đó, khả năng xuất khẩu trực tiếp hàng dệt may sang EU là rất khó
khăn. Để khắc phục tình trạng này, duy trì chỗ đứng hiện có và mở ra triển vọng
phát triển trên thị trường EU, Nhà nước Việt Nam cần phải thực hiện một số biện
pháp sau: (1) Đổi mới phương thức quản lý hạn ngạch, tránh tình trạng như hiện
nay (cách phân bổ hạn ngạch hàng dệt may phức tạp, cồng kềnh, phân tán, chia cắt.
Thậm chí một số mặt hàng xuất khẩu có tới 3 cơ quan phân bổ hạn ngạch, đó là
liên bộ: Thương mại-Công nghiệp- Kế hoạch và Đầu tư, Sở Thương mại Hà nội,
Sở Thương mại TPHCM), điều chỉnh lại cơ chế phân bổ hạn ngạch để thúc đẩy các
doanh nghiệp sử dụng nhiều hơn nữa nguyên liệu sản xuất trong nước; (2) Xác lập
chế độ thuế hợp lý để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ,
đặc biệt là ngành dệt; (3) Tập trung nỗ lực để đàm phán với EU tăng thêm hạn
ngạch, nhất là hạn ngạch của một số nhóm hàng có nhu cầu cao; (4) Hỗ trợ các
nâng cao hiệu quả đầu tư và hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát huy tính năng động
trong việc đa dạng hoá sản phẩm và tìm hiểu thị trường tiêu thụ; (5) Tăng cường
công tác tiếp thị để nắm bắt kịp thời những thay đổi về sở thích tiêu dùng trên thị
trường EU nhằm cung cấp đúng những sản phẩm theo các tiêu chuẩn mà thị trường
này có nhu cầu tại các thời điểm trong năm. Tiềm năng khai thác và nuôi trồng
thủy hải sản của Việt Nam là rất lớn mà EU lại là thị trường tiêu thụ lớn trên thế
giới. Chìa khoá để mở cánh cửa thị trường này là chất lượng và vệ sinh thực phẩm.
Do vậy, chúng ta cần phải nhanh chóng thực hiện đồng bộ những biện pháp trên để
hàng thủy hải sản Việt Nam có thể chiếm lĩnh và mở rộng thị phần tại thị trường
EU.
Thời gian tới, chúng ta cần phải chú trọng phát triển mặt hàng cá xuất
khẩu sang EU. Hiện nay, chúng ta chủ yếu xuất khẩu tôm sang thị trường này,
trong khi đó thị trường cá EU rất lớn mà vẫn chưa khai thác được, cần phải đẩy
mạnh thực hiện dánh bắt xa bờ đảm bảo chất lượng tốt đáp ứng được đòi hỏi của
các đối tác EU.
- Cà phê, chè và hạt tiêu là nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ ba
của Việt Nam sang EU (sau giày dép và dệt may), nhưng hiện nay xuất khẩu mặt
hàng này vào thị trường EU đang có xu hướng chững lại. Nguyên nhân là do chất
lượng hàng và nguồn cung cấp chưa ổn định. Phần lớn xuất khẩu qua trung gian
nên hiệu quả thấp. Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu nhóm hàng này
sang EU, ta cần phải phát triển những vùng trồng chuyên canh để đảm bảo nguồn
nguyên liệu lớn, ổn định và chú trọng đầu tư công nghệ sau thu hoạch để nâng cao
chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm. Đối với cà phê, chúng ta nên thực hiện
một số biện pháp sau: (1) Phát triển cây cà phê phải được tiến hành theo quy hoạch
chặt chẽ, đảm bảo cân đối nước-vườn và phát triển thêm cà phê chè; (2) Đầu tư đổi
mới công nghệ chế biến để nâng cao tỷ trọng cà phê chất lượng cao vì xuất khẩu sẽ
thu được lợi nhuận cao hơn; (3) Đổi mới tiêu chuẩn chất lượng và hoàn thiện công
tác quản lý, kiểm tra chất lượng để vừa nâng cao uy tín cà phê Việt Nam trên thị
trường EU, vừa góp phần tăng thêm kim ngạch xuất khẩu; (4) Nâng cao vai trò của
Hiệp hội Cà phê Việt Nam; (5) Có chính sách đúng đắn trong thu hút đầu tư nước
cũng là thị trường ta xuất được nhiều nhóm hàng này, có nhiều triển vọng mở rộng
và đẩy mạnh tiêu thụ một số loại hàng mà có khả năng phát triển. Sản phẩm gỗ,
gốm, sứ mỹ nghệ, cói-song-mây.. là những mặt hàng đang được ưa chuộng và tiêu
thụ mạnh tại EU. Khả năng mở rộng thị trường còn rất lớn, thế nhưng hàng TCMN
của ta lại phải cạnh tranh rất gay gắt với hàng TCMN của Trung Quốc về giá cả,
chất lượng và kiểu dáng. Để phát triển sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh và
đẩy mạnh xuất khẩu sang EU, chúng ta cần phải thực hiện một số biện pháp sau:
(1) Xây dựng qui hoạch phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề và vùng
nguyên liệu phục vụ sản xuất; (2) Các doanh nghiệp sản xuất hàng TCMN xuất
khẩu nên nghiên cứu thiết kế mẫu mã theo sở thích và thẩm mỹ của khách hàng
nước ngoài. Thực tế cho thấy những mẫu mã do phía nước ngoài và việt kiều tại
Châu Âu thiết kế đã bán rất chạy; (3) Nhà nước nên ưu đãi nhiều hơn đặc biệt là
thuế nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng TCMN để xuất
khẩu, điều này sẽ làm giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm; (4) Công nghiệp hoá hoặc cơ giới hoá một số khâu để nâng cao chất
lượng và hạ giá thành sản phẩm. Biện pháp này rất có tác dụng với hàng gốm
sứ. Các mặt hàng gốm của Việt Nam có chất lượng và kiểu cách không thua gì
sản phẩm của Trung Quốc, tiềm năng tiêu thụ rất lớn nhưng vẫn chưa phát triển
được bởi chủ yếu được làm bằng tay, chất lượng không đồng đều. Nếu cơ giới
hoá được khâu khai thác đất, nhào nặn và đầu tư cho lò điện, lò gaz để đảm bảo
nhiệt độ nung ổn định thì có thể cho ra sản phẩm chín đều, chất lượng cao; (5)
Chú trọng đầu tư về vốn, nhất là vốn để cải tiến công nghệ cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ sản xuất những mặt hàng thủ công mỹ nghệ đang được ưa
chuộng tại EU.
- Đồ gỗ gia dụng: Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực hiện một số
biện pháp: (1) Đẩy mạnh, mở rộng công nghiệp sản xuất gỗ ván ép vừa tận dụng
nguyên liệu, tránh bị tác động bởi thời tiết; (2) Mở rộng nghiên cứu sản xuất bàn
ghế lắp ghép hoặc liên doanh lắp ghép đồ gỗ, song mây tại thị trường tiêu thụ tránh
chi phí vận chuyển cao, có thể cả thuế vì thuế thành phẩm khác thuế bán thành
phẩm; (3) Đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trường
đây, nhưng có tốc độ tăng trưởng kim ngạch tương đối nhanh. Tỷ trọng kim ngạch
xuất khẩu quả tươi chiếm khoảng 10% trong tổng kim ngạch xuất khẩu quả tươi
của Việt Nam. Các loại quả tươi xuất khẩu chủ yếu là: chuối, dứa, cam, vải, nhãn,
thanh long, xoài, dừa,v.v... Giá xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của quả tươi Việt
Nam thường thấp hơn các nước khác. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu quả chế biến
sang thị trường này chiếm khoảng 18% trong tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả
chế biến. Các loại rau quả chế biến xuất khẩu chính là: dưa chuột muối, đậu quả
muối, tương cà chua và tương ớt, nấm muối, nước quả cô đặc, dứa hộp, long
nhãn, chuối sấy. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu rau quả chế biến của Việt
Nam trong khối EU là Pháp, Đức, Hà Lan và Italia. Đối thủ cạnh tranh của ta
trên thị trường EU chủ yếu là các nước: Thái Lan, Trung Quốc, Nam Mỹ và một
số nước Châu Phi có các điều kiện sản xuất tương tự như Việt Nam. Để đẩy
mạnh xuất khẩu rau quả sang thị trường EU, chúng ta phải phát triển những
vùng trồng chuyên canh từng loại rau quả nhất định, đồng thời chú trọng vấn đề
chọn giống, phân bón, kỹ thuật trồng trọt và cả công nghệ sau thu hoạch để cho
sản phẩm có năng suất, chất lượng cao, khối lượng lớn và giá thành hạ.
1.2. Đối với các mặt hàng xuất khẩu mới
- Thực phẩm chế biến: Thị trường EU có nhu cầu lớn về thực phẩm chế biến,
như thịt gia súc và gia cầm, nông sản và thuỷ sản chế biến. Muốn đẩy mạnh xuất
khẩu vào thị trường này thì vấn đề an toàn thực phẩm phải đặt lên hàng đầu mà
hiên nay chúng ta mới chủ yếu xuất khẩu thực phẩm nguyên liệu nên hiệu quả kinh
tế thu được rất nhỏ. Để khắc phục tình trạng này và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm
chế biến sang EU, chúng ta cần phải chú trọng công tác nghiên cứu nắm bắt thị
hiếu tiêu dùng của thị trường EU và đầu tư vốn, công nghệ vào sản xuất để tạo ra
những sản phẩm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng và thoả mãn 5 tiêu chuẩn của sản phẩm
theo quy định của EU. Chúng ta nên đầu tư sản xuất mặt hàng này cung cấp cho thị
trường EU theo hai hướng: (1) Sản phẩm phục vụ cộng đồng người Việt Nam sống
ở EU, như mì ăn liền, dầu thực vật, gia vị, nước chấm,v.v...; (2) Sản phẩm phục vụ
người dân EU.
- Hàng điện tử- tin học là mặt hàng đang rất có triển vọng xuất khẩu sang
(1996) và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam trong Liên Minh. Thị
trường này chiếm tỷ trọng 15,9% - 16,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang EU trong những năm gần đây. Người tiêu dùng Pháp rất ưa chuộng
các mặt hàng: đồ gỗ gia dụng, lụa, sợi dệt, kính và đồ dùng thủy tinh, hàng
dệt may, các sản phẩm bằng da thuộc, đá quý, nhựa và các sản phẩm nhựa,
hàng mây tre đan, thảm, rau quả và hạt, giày dép; cà phê, chè và các loại gia
vị; trang thiết bị nội thất, máy móc thiết bị điện và các bộ phận của chúng;
dụng cụ giải trí và thể thao; nhiên liệu khoáng dầu; các sản phẩm sữa, trứng
chim và mật ong của Việt Nam. Từ năm 1998, thị trường Pháp có nhu cầu rất
lớn về gốm sứ, dụng cụ thể thao, nhiên liệu khoáng, cà phê, sản phẩm da
thuộc, giày dép và đồ gỗ gia dụng Việt Nam. Pháp là thị trường tiềm năng cho
xuất khẩu của Việt Nam trong khối EU.
* Thị trường Anh:
Anh là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam trong Liên Minh và
thị trường lớn thứ 2 trong khối, với 58,5 triệu người tiêu dùng (1996). Thị
trường này chiếm tỷ trọng 14,4%-14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam-
EU trong thập kỷ 90. Hiện tại, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như: giày
dép; hàng dệt may; đồ gốm sứ; nhiên liệu khoáng dầu và các sản phẩm của
chúng; xe có động cơ không thuộc loại xe điện hoặc xe lu; nhựa và các sản
phẩm nhựa; các sản phẩm gỗ; quả và hạt ăn được, vỏ quả họ chanh hoặc họ dưa;
sợi dệt; các sản phẩm bằng da thuộc; thủy hải sản; ngọc trai thiên nhiên, đá
quý,v.v... đang được tiêu thụ mạnh ở Anh. Bên cạnh đó, Anh cũng là một thị
trường đầy triển vọng cho việc tiêu thụ các mặt hàng tiêu dùng khác như: đồ
gốm sứ, đồ chơi, đồ gỗ gia dụng, thực phẩm, hàng điện máy, than đá, chè, đồ
uống, thực phẩm, rau quả và đồ hộp.
* Thị trường Hà Lan:
Thị trường lớn thứ 6 trong EU là Hà Lan, với 15,4 triệu người tiêu dùng
(1996), đồng thời là thị trường xuất khẩu lớn thứ tư của Việt Nam trong khối. Thị
trường này chiếm tỷ trọng 8,8%-14,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của
Việt Nam sang EU. Các mặt hàng của ta được ưa chuộng tại thị trường này phải kể
các sản phẩm từ cao su; gỗ và các sản phẩm gỗ; hàng điện máy; nhiên liệu khoáng
dầu và các sản phẩm của chúng; các sản phẩm mây tre đan; giày dép; quần áo và
hàng may sẵn; ngọc trai thiên nhiên, đá quý và bán đá quý; thảm; sợi dệt và động
vật sống; rau, quả chế biến; đồ gốm sứ.
Kim ngạch xuất khẩu của khá nhiều sản phẩm Việt Nam sang thị trường này
trong mấy năm gần đây tăng trưởng đáng kể, tuy nhiên mới chỉ chiếm tỷ trọng rất
nhỏ so với nhu cầu nhập khẩu của Italia. Các mặt hàng xuất khẩu chính của ta sang
Italia là giày dép, hàng mây tre, đồ gỗ, hàng gốm sứ, hàng dệt may, thủy sản, cà
phê, chè, cao su. Đáng chú ý là đa số những mặt hàng nêu trên hiện nay hàng
Trung Quốc đang chiếm lĩnh thị trường. Về giá cả, hầu hết các mặt hàng của ta
xuất sang Italia đều vấp phải sự cạnh tranh mạnh của hàng Trung Quốc. Cụ thể,
giày của Việt Nam tuy có chất lượng tốt hơn và mẫu mã đẹp hơn so với hàng Trung
Quốc, nhưng giá lại cao hơn khoảng 15%. Giá các mặt hàng may mặc và thủ công
mỹ nghệ của ta cao hơn của Trung Quốc khoảng 10%. Tuy nhiên, nhu cầu của thị
trường này về các mặt hàng nêu trên là rất lớn, mặt khác khách hàng Italia cũng
đang muốn tìm kiếm một thị trường mới tại Việt Nam.
Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ và mây tre đan có thể thâm nhập nhiều
hơn vào thị trường Italia nếu các doanh nghiệp Việt Nam tích cực tham gia
các hội chợ triển lãm của Italia tổ chức hàng năm để dần tìm hiểu nhu cầu, cải
tiến mẫu mã và chất lượng hàng hoá phù hợp với thị hiếu của khách hàng.
Hơn nữa, thịt các loại và nhiều mặt hàng hải sản khác của Việt Nam nếu đáp
ứng được tiêu chuẩn vệ sinh của EU thì có thể xuất khẩu được nhiều sang
Italia.
* Thị trường Tây Ban Nha:
Tây Ban Nha là thị trường lớn thứ 5 trong khối EU, với 39,2 triệu người tiêu
dùng (1996), là thị trường xuất khẩu lớn thứ 7 của Việt Nam trong Liên Minh. Thị
trường này chiếm tỷ trọng 5,2%-5,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang EU. Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - Tây Ban Nha tăng lên hàng năm
(31,77%/năm). Điều này chứng tỏ thị trường Tây Ban Nha đã chấp nhận hàng hoá
của Việt Nam. Người tiêu dùng đã quen dần với các sản phẩm của ta. Những mặt
* Thị trường Đan Mạch:
Đan Mạch là thị trường lớn thứ 12 trong khối EU, với 5,2 triệu người tiêu
dùng (1996). Đây là thị trường xuất khẩu lớn thứ 9 của Việt Nam trong khối,
chiếm 1,6%-2,4% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam-EU. Thị trường này đang
có nhu cầu nhập khẩu ngày càng tăng một số mặt hàng của Việt Nam, như: cà
phê, chè và gia vị; hàng dệt may, giày dép; đồ gốm, sứ; hàng điện máy; xe có
động cơ, không thuộc loại xe điện hoặc xe lu; đồ gỗ, hàng thủy hải sản; cao su
và các sản phẩm từ cao su; đồ da và túi du lịch; giấy, các sản phẩm sắt thép; đồ
chơi, dụng cụ dùng cho giải trí và thể dục thể thao.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Đan Mạch tăng trung bình
hàng năm 31,27%-35,95%/năm. Do đó, ta có thể nói rằng Đan Mạch là thị
trường xuất khẩu rất tiềm năng của Việt Nam và triển vọng sẽ còn tăng
nhanh hơn nữa.
* Thị trường áo:
Thị trường xuất khẩu lớn thứ 10 của Việt Nam trong Liên Minh là áo. Với 8
triệu người tiêu dùng (1996), đây là thị trường lớn thứ 11 trong khối. Trong những
năm vừa qua, thị trường áo chiếm tỷ trọng 1,2% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt
Nam-EU. Một số mặt hàng của ta đã xâm nhập được vào thị trường này, tuy nhiên
kim ngạch tăng trưởng không ổn định, như: thủy hải sản, hoá chất, gỗ và các sản
phẩm gỗ, hàng mây tre đan, giấy và kẹp giấy, hàng dệt kim; các sản phẩm bằng da
thuộc và túi du lịch, trang thiết bị nội thất; đồ chơi, dụng cụ dùng cho giải trí và thể
dục thể thao. Trong khi đó, các mặt hàng khác của Việt Nam lại phát triển rất tốt
trên thị trường áo, như: cà phê, chè và gia vị; nhựa và các sản phẩm nhựa, cao su
và các sản phẩm từ cao su; hàng may mặc (trừ dệt kim); giày dép; đồ gốm, sứ;
hàng điện máy; xe có động cơ, không thuộc loại xe điện hoặc xe lu.
* Thị trường Phần Lan:
Phần Lan là thị trường lớn thứ 13 trong khối EU, với 5,1 triệu người tiêu
dùng (1996), nhưng lại là thị trường xuất khẩu lớn thứ 11 của Việt Nam trong
khối. Thị trường Phần Lan chiếm tỷ trọng 0,7%-1,2% tổng kim ngạch xuất khẩu
Việt Nam-EU. Một số mặt hàng của Việt Nam bắt đầu có triển vọng phát triển
trường mới khai thác của Việt Nam trong khối EU, nhưng rất có triển vọng phát
triển. Một số mặt hàng của ta đang được thị trường Ai Len chấp nhận, như: giày
dép, hàng dệt may, nhựa và các sản phẩm nhựa, trang thiết bị nội thất, đồ gốm sứ,
đồ da và túi du lịch; đồ gỗ gia dụng, đồ chơi, dụng cụ dùng cho giải trí và thể dục
thể thao; các sản phẩm sắt và thép; hàng điện máy.
* Thị trường Lúc Xăm Bua:
Lúc Xăm Bua là thị trường nhỏ nhất (thứ 15) trong khối EU, với 0,4 triệu
người tiêu dùng (1996), đồng thời cũng là thị trường xuất khẩu nhỏ nhất của Việt
Nam trong khối. Thị trường này chỉ chiếm tỷ trọng 0,2%-0,4% tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong những năm vừa qua. Các doanh
nghiệp Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được chưa đầy 10 mặt hàng vào Lúc Xăm
Bua. Trong số đó, có 5 mặt hàng mà thị trường này đang có nhu cầu nhập
khẩu tăng, như: hàng may mặc, hàng dệt kim, hàng điện máy, giày dép và đồ
gỗ gia dụng. Do vậy, có thể nói rằng còn rất nhiều cơ hội cho các doanh
nghiệp của ta mở rộng thị trường xuất khẩu tại Lúc Xăm Bua.
II. giải pháp
EU là một thị trường đầy tiềm năng đối với hàng xuất khẩu của ta. Nhiều
doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã có một số thành công nhất định trong
việc thâm nhập vào thị trường này trong thời gian qua. Thị trường EU ngày càng
mở ra cơ hội to lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam tham gia xuất khẩu hàng hoá
vào thị trường này. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn có rất nhiều khó khăn trở ngại
khiến cho việc thâm nhập thị trường này chưa thực sự đạt được như mong muốn.
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam - EU phát triển tương xứng với tiềm lực
kinh tế của Việt Nam và đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của EU, phía Việt Nam cần
thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau.
1. Giải pháp về phía Nhà nước
1.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo thuận lợi tối đa cho xuất khẩu
Rà soát lại hệ thống luật để điều chỉnh các quy định không còn phù hợp hoặc
chưa được rõ, trước hết là luật thương mại, luật đầu tư nước ngoài và luật khuyến
khích đầu tư trong nước. Xây dựng luật trong xu thế tự do hoá thương mại , đầu tư