Lời nói đầu
Thực hiện công cuộc đổi mới hơn mời năm qua, Việt Nam đã thu đợc những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt kinh tế
đối ngoại. Đó là sự tham gia vào các diễn đàn quốc tế phát triển vùng, tiểu vùng, khu
vực và toàn cầu, gia nhập ASEAN, APEC, ký hiệp định khung với Liên minh Châu
Âu, là quan sát viên của WTO.
1
Chơng I: những vấn đề lý luận chung
về đầu t trực tiếp nớc ngoài
i. Khái niệm và đặc điểm của đầu t trực tiếp nớc ngoài
1. Những khái niệm chung
1.1Khái niệm về đầu t nớc ngoài
Đầu t nớc ngoài là một hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với quá trình
phát triển kinh tế của các nớc trên thế giới. Hoạt động đầu t nớc ngoài trong từng
giai đoạn lịch sử, mang những đặc điểm riêng phụ thuộc vào sự phát triển sản
xuất, phụ thuộc vào thực tiễn ở mỗi quốc gia. Do vậy, quan niệm về đầu t nớc
ngoài cũng đợc nhìn nhận khác nhau trong luật pháp của mỗi nớc.
Khái niệm chung nhất thờng đợc các nớc sử dụng là: Đầu t nớc ngoài là một hình
thức của hoạt động kinh tế quốc tế, trong đó diễn ra việc di chuyển vốn từ nớc này
sang nớc khác nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. Vốn di chuyển này đợc
gọi là vốn đầu t nớc ngoài. Nó có thể là vốn của một tổ chức quốc tế nh: Ngân
hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), hoặc số vốn đó có thể thuộc một quốc gia hay của một cá nhân. Vốn đầu t
nớc ngoài này có thể bằng tiền (ngoại tệ mạnh, tiền nội địa), có thể bằng hiện vật
cụ thể nh sức lao động, công nghệ, bí quyết công nghệ, sáng chế, nhãn hiệu, uy
tín hàng hoá,... và các phơng tiện đầu t đặc biệt khác nh cổ phiếu, vàng bạc, đá
quý.
Về hình thức đầu t nớc ngoài có rất nhiều cách phân loại. Nhng hiện nay việc
phân loại đợc thực hiện dựa chủ yếu vào phơng thức đầu t. Theo cách phân loại
này có thể thấy đầu t nớc ngoài đợc biểu hiện chủ yếu dới bốn hình thức sau đây:
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các cơ sở kinh tế này.
- Mua cổ phiếu của các công ty với số lợng lớn, giá trị cao, biến công ty này
thành công ty của mình.
ở Việt Nam, luật đầu t nớc ngoài đợc Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam thông
qua từ năm 1987, và đợc sửa đổi bổ sung bốn lần, lần đầu vào tháng 6/1990, lần thứ
hai vào tháng 12/1992, lần thứ ba vào tháng 11/1996 và lần thứ t vao tháng 05/2000,
theo hớng ngày càng thích hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài
bỏ vốn vào Việt Nam.
Theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam thì: Đầu t trực tiếp nớc ngoài là việc các
tổ chức, cá nhân nớc ngoài trực tiếp đa vào Việt Nam vốn bằng tiền nớc ngoài hoặc
bất kỳ tài sản nào đợc Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác với Việt Nam hoặc
tự mình kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam. Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam quy
định đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc thể hiện qua ba hình thức chủ yếu sau:
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Doanh nghiệp liên doanh
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một
hình thức đầu t trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác hợp tác kinh doanh đợc
ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến
hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở mức nhận đầu t trong đó quy
3
định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà
không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân. Hình thức này
không làm hình thành một công ty hay xí nghiệp mới. Mối bên vẫn hoạt
động với t cách pháp nhân độc lập của mình và mỗi bên thực hiện nghĩa vụ
của mình theo quy định trong hợp đồng. Kết quả hoạt động phụ thuộc vào
sự tồn tại và thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên hợp doanh.
Luật còn quy định thêm trong quá trình hoạt động kinh doanh, bên Việt Nam
nộp thuế áp dụng cho doanh nghiệp trong nớc, bên nớc ngoài nộp thuế theo Luật đầu
t nớc ngoài tại Việt Nam.
4
các trờng hợp đặc biệt nh: Gặp bất khả kháng, một hoặc các bên liên doanh không
thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng...
Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài:
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nớc ngoài, đ-
ợc hình thành bằng toàn bộ vốn nớc ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nớc ngoài thành
lập, tự quản lý, điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp này đợc thành lập dới dạng các công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp
nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của Luật đầu t nớc ngoài Việt Nam.
Vốn pháp định cũng nh vốn đầu t do nhà đầu t nớc ngoài đóng góp. Vốn pháp
định ít nhất bằng 30% vốn đầu t của doanh nghiệp.
Ngoài ra luật đầu t nớc ngoài Việt Nam cũng quy định thêm đầu t trực tiếp nớc
ngoài có thể đợc đầu t theo các phơng thức đặc biệt nh doanh nghiệp chế xuất, hợp
đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao -
kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT)...
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT: Build - Operate -
Transfer) là một phơng thức đầu t trực tiếp đợc thực hiện trên cơ sở văn bản
đợc ký kết giữa nhà đầu t nớc ngoài (có thể là tổ chức, cá nhân nớc ngoài)
với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền ở Việt Nam để xây dựng kinh doanh
công trình kết cấu, hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn, nhà
đầu t nớc ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nớc
Việt Nam.
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao thờng đợc thực hiện bằng vốn
nớc ngoài 100%, cũng có thể đợc thực hiện bằng vốn nớc ngoài và phần góp vốn của
Chính phủ Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân Việt Nam. Trong hình thức đầu t này, các
nhà đầu t có toàn quyền tổ chức xây dựng, kinh doanh công trình một thời gian đủ
thu hồi vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý, sau đó có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà n-
ớc Việt Nam mà không thu bất kỳ khoản tiền nào.
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO: Build - Transfer -
Operate Centraet) là phơng thức đầu t dựa trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ
Thực vậy, từ những năm 1870-1914 đã xuất hiện hoạt động mua bán, trao đổi
hàng hoá thô. Luồng vốn chủ yếu là đầu t gián tiếp. Anh là nớc tập trung vốn nớc
ngoài và cũng chiếm 1/2 tổng số vốn đầu t ra nớc ngoài trong đó 90% là đầu t gián
tiếp. Tình hình thị trờng có sự thay đổi sau chiến tranh Thế giới thứ nhất, vì đầu t gián
tiếp đã giảm dần. Mỹ nổi lên, không những trở thành chủ nợ mà còn nhanh chóng gạt
bỏ Anh trở thành nớc cung cấp nguồn vốn vay chủ yếu, trong đó phần lớn là đầu t trực
tiếp.
Đến những năm 1950, vai trò của đầu t gián tiếp gần nh đã bị quên lãng. Vào
những năm sau đó, Chính phủ của nhiều nớc bắt đầu lo lắng đến ảnh hởng của đầu t
trực tiếp nớc ngoài đến tình hình kinh tế, chính trị trong nớc cho nên đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài đã giảm đi rõ rệt. Trong giai đoạn này lợng vốn đầu t trực tiếp và gián tiếp
gần nh bằng nhau.
Trong suốt những năm 90, đầu t trực tiếp nớc ngoài thay đổi cả về số lợng và cơ
cấu. Hầu hết đầu t trực tiếp nớc ngoài tập trung vào những nớc phát triển. Các nớc
Anh, Mỹ, Canada, Italia, có vai trò ngày càng to lớn trong khi đầu t trực tiếp của
Nhật, Đức giảm đi rõ rệt. Chỉ có gần 20% vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài dành cho các
nớc đang phát triển. Trong đó Châu á nhận đợc nhiều nhất.
6
Những luồng vốn đầu t trực tiếp trên toàn thế giới nh vậy phản ánh quá trình
quốc tế hoá là một tất yếu khách quan của lịch sử. Điều đáng lu ý là quá trình này
càng đợc phát triển cùng với sự ra đời của các công ty đa quốc gia. Các công ty này
thờng là các phơng tiện cho việc đi vay và cho vay quốc tế, chiếm 70% từ FDI quốc
tế. Công ty mẹ thờng chuyển giao vốn của mình qua các công ty chi nhánh ở nớc
ngoài. Vì vậy, FDI gắn liền với các công ty đa quốc gia không chỉ là sự chuyển giao
nguồn lực mà còn là sự mở rộng thị trờng, mở rộng sự kiểm soát và quản lý.
2.2. Động lực của đầu t trực tiếp nớc ngoài
Động lực của đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng giống nh động lực của hoạt động
đầu t gián tiếp. Đó là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và nhằm mục đích phân tán rủi ro về
vốn.
Sở dĩ các công ty đầu t trực tiếp ra nớc ngoài thu đợc lợi nhuận cao hơn trong n-
Toyota và các tập đoàn đa quốc gia khác. Đây cũng chính là động lực quan trọng nhất
của việc đầu t trực tiếp ra nớc ngoài của các nớc phát triển.
Mặt khác vấn đề nguyên liệu cần thiết và sự đảm bảo cung cấp nguyên liệu liên
tục ở mức giá thấp nhất cũng là động lực của việc đầu t trực tiếp ra nớc ngoài. Điều
này liên quan đến liên kết dọc (Vertical Integration) và cũng là cách thức hoạt động
của hầu hết các công ty đa quốc gia trong việc đầu t trực tiếp ra nớc ngoài nhằm vào
các nớc đang phát triển và một số nớc phát triển có nhiều tài nguyên. Trong thực tế
Mỹ và các công ty nớc ngoài là chủ của nhiều mỏ than ở Canada, Jamaica, Venezuela,
úc,... Ngợc lại các quốc gia khác cũng là chủ một số mỏ than ở Mỹ. Việc liên kết dọc
cũng làm cho các công ty đa quốc gia sở hữu luôn cá mạng lới phân phối sản phẩm và
buôn bán ở nớc ngoài. Trờng hợp này đợc hầu hết các nhà sản xuất xe hơi trên thế
giới áp dụng.
Việc đầu t ra nớc ngoài còn nhằm tránh các hàng rào thuế quan và những hạn
chế khác mà nớc chủ nhà áp dụng trong nhập khẩu hoặc ngợc lại có một số nớc tạo
điều kiện thuận lợi nhằm khuyến khích đầu t trực tiếp từ nớc ngoài vào địa phơng họ
muốn.
Động lực của đầu t trực tiếp ra nớc ngoài còn nhằm gia nhập thị trờng không độc
quyền (Oligopolistic market) để chia sẻ quyền lợi hoặc để mua một công ty nào đó có
nhiều hứa hẹn phát triển nhằm tránh đợc sự cạnh tranh trong tơng lai có thể mất thị tr-
ờng xuất khẩu. Hoặc có một lý do khác là chỉ có các công ty đa quốc gia của nớc
ngoài mới đạt đợc mức độ độc quyền cần thiết về tài chính để xâm nhập thị trờng nớc
chủ nhà. Xét về một khía cạnh khác, đầu t trực tiếp nớc ngoài diễn ra theo hai chiều
có thể đợc giải thích là do công nghệ tiên tiến ở một quốc gia A nào đó thúc đẩy việc
đầu t vào một quốc gia B, ví dụ công nghệ máy tính của Mỹ đầu t trực tiếp vào Châu
Âu. Còn các ngành công nghệ khác bị ảnh hởng bởi nớc B lại thúc đẩy việc đầu t ngợc
lại vào nớc A, ví dụ công nghệ xe hơi của Tây Âu và Nhật Bản đầu t vào Mỹ.
Hiện nay hoạt động đầu t trực tiếp ra nớc ngoài có nhiều thuận lợi hơn nhờ hệ
thống lu thông hiện đại, hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến... Các phơng tiện này phát
triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Hiện nay các trụ sở chính của các
công ty đa quốc gia có thể điều khiển trực tiếp hoạt động kinh doanh khắp thế giới
ớc này FDI đã thực sự đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế. Và nếu chỉ căn
cứ vào tình hình thực tại về số lợng vốn đầu t của toàn bộ nền kinh tế thì có thể đánh
giá rằng FDI có ý nghĩa quyết định đến tăng trởng kinh tế của các nớc này.
Tỷ lệ FDI/GDP ở Việt Nam năm 1991 là 8,5% đến năm 1994 tăng lên đạt
khoảng 10%. Con số này chứng tỏ chúng ta đã khá thành công trong việc thu hút FDI
trong thời gian qua. Nhng so với nhiều nớc, con số này còn ở mức thấp.
Đối với các nớc công nghiệp phát triển, FDI vẫn là nguồn bổ xung vốn quan
trọng và có ý nghĩa to lớn trong quá trình phát triển nền kinh tế của những quốc gia
này. Bằng chứng là các nớc công nghiệp phát triển đã thu hút tới 82% vốn FDI vào n-
ớc họ thời kỳ 1987-1991. Khác với các nớc đang phát triển, không phải do thiếu vốn
đầu t, cũng không phải do trình độ kỹ thuật thấp kém mà các nớc công nghiệp phát
triển cần thu hút vốn FDI. Thực tế thì chính các nớc công nghiệp phát triển là những
nớc đầu t ra nớc ngoài nhiều nhất và cũng thu hút phần lớn vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài. Theo số liệu báo cáo đầu t trên thế giới của Liên hợp quốc thì năm 1994, các
nớc phát triển đầu t trực tiếp ra nớc ngoài 189 tỷ USD, chiếm 85% tổng số vốn đầu t
trực tiếp nớc ngoài trên toàn thế giới và thu hút vào khoảng 135 tỷ USD, bằng 60%
tổng số vốn FDI toàn thế giới. Hiện tợng này cũng diễn ra ở khu vực các nớc đang
phát triển, năm 1994 dòng vốn FDI chảy vào các nớc này là 84 tỷ USD chiếm 37%
9
tổng số vốn FDI trên toàn thế giới và dòng vốn FDI từ các nớc này chảy ra ngoài là
33 tỷ USD chiếm 15% tổng số vốn FDI toàn thế giới.
Vai trò quan trọng của FDI và vốn FDI trên thế giới ngày càng tăng thể hiện qua
bảng sau:
Bảng 1: Vốn FDI của thế giới giai đoạn 1982-1996
Năm Các nớc đang phát triển (%) Các nớc phát triển
(%)
Toàn bộ thế giới
(Triệu USD)
1983-1987 25,7 74,26 71,1
1988-1992 20,76 79,24 177,3
Khi đầu t vào một nớc nào đó, chủ đầu t không chỉ chuyển vào nớc đó vốn bằng
tiền mà còn chuyển cả vốn bằng hiện vật nh máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu...(hay
còn gọi là công nghệ cứng) và cả vốn vô hình nh chuyên gia kỹ thuật, công nghệ, tri
thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị trờng...(hay còn gọi là công
nghệ mềm). Thông qua hoạt động FDI, quá trình chuyển giao công nghệ đợc thực
hiện tơng đối nhanh chóng và thuận tiện cho cả bên đầu t cũng nh bên nhận đầu t.
Một trở ngại lớn nhất trên con đờng phát triển kinh tế của hầu hết các nớc đang
phát triển là trình độ kỹ thuật, công nghệ còn lạc hậu. Trong thời đại khoa học công
nghệ phát triển tự nghiên cứu để phát triển khoa học công nghệ cho kịp với trình độ
của các nớc phát triển là việc khó khăn và tốn kém. Con đờng nhanh nhất để phát
triển khoa học công nghệ kỹ thuật và trình độ sản xuất của các nớc đang phát triển
hiện nay là phải biết tận dụng những thành tựu khoa học tiên tiến của nớc ngoài thông
qua chuyển giao công nghệ. Tiếp nhận FDI là một phơng thức cho phép các nớc đang
phát triển tiếp thu đợc trình độ khoa học công nghệ hiện đại trên thế giới, tuy nhiên
mức độ hiện đại đến đâu còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhng dù thế nào thì đây
cũng là lợi ích căn bản của các nớc khi tiếp nhận FDI. Trong điều kiện hiện nay, trên
thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau có nhu cầu đầu t ra nớc ngoài
và thực hiện chuyển giao công nghệ cho nớc nào tiếp nhận đầu t. Đây là cơ hội cho
các nớc đang phát triển đợc đi xe miễn phí, mà cũng không phải trả một khoản học
phí nào cho việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ này.
Các nớc đang phát triển, mặc dù có trình độ sản xuất hiện đại, khoa học kỹ thuật
tiên tiến nhng không thể nào toàn diện đợc. Để đạt hiệu quả kinh tế cao, mỗi nớc chỉ
tập trung vào một số lĩnh vực mà họ có u thế hơn và ngợc lại chính sự tập trung đó
cho phép họ có khả năng phát triển vợt trội lên ở một số lĩnh vực nào đó, điều đó càng
củng cố thêm địa vị và quyền lợi kinh tế của họ trên thế giới. Xu hớng phát triển phân
công lao động xã hội xũng là quá trình chuyên môn hoá và liên kết chặt chẽ với nhau,
phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động FDI là kết quả trực tiếp của quá trình trên, nó tuân
theo các quy luật của quá trình phân công lao động quốc tế.
Chuyển giao công nghệ cũng là yêu cầu tất yếu của sự phát triển khoa học kỹ
thuật. Bất kỳ một tổ chức nào muốn thay thế kỹ thuật công nghệ mới thì cũng phải tìm
trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI. Ngợc lại thì chính FDI lại
góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Bởi vì:
Thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và
ngành nghề kinh tế mới ở nớc nhận đầu t.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài giúp cho sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ
thuật công nghệ ở nhiều ngành nghề kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng
suất lao động ở các ngành này và làm tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế.
Một số ngành đợc kích thích phát triển bởi đầu t trực tiếp nớc ngoài, nhng
cũng sẽ có nhiều ngành bị mai một đi rồi đi đến chỗ bị xoá sổ.
Góp phần đáng kể vào nguồn thu của ngân sách Nhà nớc thông qua việc nộp
thuế của các đơn vị đầu t nớc ngoài và tiền thu từ việc cho thuê đất...Cùng với tăng
khả năng sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, FDI còn giúp mở rộng thị trờng cả trong nớc
và quốc tế. Đa số các dự án FDI đều có phơng án bao tiêu sản phẩm. Đây gọi là hiện
tợng hai chiều đang trở nên khá phổ biến ở nhiều nớc đang phát triển hiện nay.
Về mặt xã hội FDI đã tạo đợc nhiều chỗ làm việc mới, thu hút đợc một số lợng
đáng kể ngời lao động ở nớc nhận đầu t vào làm việc trong các đơn vị cuả đầu t nớc
ngoài. Điều này góp phần đáng kể vào việc giảm bớt nạn thất nghiệp, vốn là tình trạng
nan giải của nhiều quốc gia. Đặc biệt đối với các nớc đang phát triển, nơi có lực lợng
lao động rất phong phú nhng không có điều kiện khai thác và sử dụng thì FDI đợc coi
12
là chiếc chìa khoá quan trọng để tạo ra các điều kiện về vốn và kỹ thuật cho phép khai
thác và sử dụng các tiềm năng của nền kinh tế trong đó có tiềm năng về lao động.
2. Đối với nớc đi đầu t
Có thể nói đầu t cũng là một hình thức mở rộng thị trờng cho một quốc gia hay
một tập đoàn kinh tế. Việc mở rộng này có ý nghĩa nhiều mặt đối với nớc đi đầu t.
Điều này đợc thể hiện qua các góc độ sau.
2.1. Đứng trên góc độ vĩ mô
Thông qua các hoạt động FDI, các nớc có thể mở rộng và nâng cao mối quan hệ
Chính trị là yếu tố hàng đầu mà các nhà đầu t phải xem xét có nên đầu t vào một
nớc nào đó hay không. Nghiên cứu đã cho thấy nền chính trị ổn định sẽ khuyến khích
FDI. Rủi ro của các nhà đầu t nớc ngoài có liên quan tới sự bất ổn định chính trị bao
gồm tổn hao chi phí khi có sự đổ vỡ chính trị, sự quốc hữu hoá của Chính phủ, tỷ lệ
hoàn vốn hàng hoá chắc chắn, cung ứng hàng hoá, dịch vụ và nhân lực bị phá vỡ.
Sự ổn định kinh tế là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu t. Đối
với vốn nớc ngoài điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Để thu hút
dòng vốn đầu t nớc ngoài, nền kinh tế nội địa phải là nơi an toàn cho sự vận động của
tiền vốn, sau đó là nơi có năng lực sinh lợi cao hơn những nơi khác. Sự an toàn của
vốn đòi hỏi môi trờng kinh tế ổn định, không gặp những rủi ro do các yếu tố xã hội
gây ra. Một nền kinh tế ổn định vững chắc nhng không phải và không thể là sự ổn
định bất động, tức là sự ổn định hàm chứa trong nó khả năng trì trệ kéo dài và dẫn tới
khủng hoảng. Một sự ổn định đợc coi là vững chắc nhng bất động chỉ có thể là sự ổn
định ngắn hạn. Trong dài hạn, loại ổn định này tiềm chứa trong nó khả năng gây bất
ổn định. Bởi vì sự ổn định không đồng nhất với sự trì trệ, mà bản chất sự ổn định kinh
tế gắn liền với năng lực tăng trởng, ổn định trong tăng trởng, tức là kiểm soát sao cho
quá trình tăng trởng, nhất là các nỗ lực tăng trởng nhanh, lâu bền, không gây ra trạng
thái quá nóng của đầu t và hậu quả đi liền nó là lạm phát. Theo cách hiểu thông th-
ờng thì tăng trởng tức là phá vỡ thế ổn định cũ, nhng nếu quá trình tăng trởng đợc
kiểm soát sao cho có thể chủ động tái lập đợc thế cân bằng mới thì quá trình đó cũng
đồng thời là việc tạo ra cơ sở cho sự ổn định vững chắc và lâu bền.
2. Các chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế trực tiếp giải quyết vốn để đầu t ví dụ nh các quy định về hạn
chế sở hữu tài sản hay chuyển giao lợi nhuận, các chính sách khác của nớc chủ nhà,
các chính sách thơng mại có ảnh hởng tới FDI. Chính sách thơng mại và đầu t có ảnh
hởng tới khả năng nhập khẩu các thiết bị máy móc, nguyên liệu sản xuất và do đó
thực sự trở thành mối quan tâm của tất cả các ngành đặc biệt là nganh xuất khẩu, mà
thờng muốn có chi phí sản xuất thấp để tăng tính cạnh tranh. Bên cạnh đó, các chính
sách kinh tế cũng phải giải quyết đợc vấn đề chống lạm phát và ổn định tiền tệ. Để ổn
định tiền tệ các quốc gia phải sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nh: lãi suất,
mạnh.
- Quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận, quyền hồi hơng lợi nhuận đối
với các hình thức vận động cụ thể của vốn nớc ngoài tại nớc sở tại.
- Các quy định về thuế, các mức thuế các loại.
Nếu nh các quy định về mặt pháp lý bảo đảm an toàn về vốn của nhà đầu t không
bị quốc hữu hoá khi hoạt động đầu t đó không phơng hại đến an ninh quốc gia, đảm
bảo mức lợi nhuận cao và việc di chuyển lợi nhuận về nớc dễ dàng thì khả năng hấp
dẫn và thu hút vốn FDI càng cao.
Nhìn chung, hệ thống pháp luật là thành phần quan trọng của môi trờng đầu t vì
nó xác định mức lợi nhuận của cá nhà đầu t và quyết định của họ khi thanh lý tài sản
do đầu t tạo ra bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế xã hội và tổ chức kỹ
thuật cùng các biện pháp khác nhằm đạt đợc hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những
điều kiện cụ thể xác định trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách
quan nói chung và các quy luật vận động đặc thù nói riêng
4. Cơ sở hạ tầng
Một trong những trở ngại lớn nhất đối với quá trình đầu t là sự nghèo nàn và lạc
hậu của hệ thống cơ sở hạ tầng. Kết cấu hạ tầng có ảnh hởng quyết định đến hiệu quả
15
sản xuất kinh doanh, trong đó đáng kể là ảnh hởng tới tốc độ chu chuyển vốn. Đây là
vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà đầu t trớc khi ra quyết định đầu t. Hệ thống cơ
sở hạ tầng bao gồm cả mạng lới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc và các cơ sở
dịch vụ tài chính ngân hàng. Trình độ của các nhân tố này cũng phản ánh trình độ
phát triển của mỗi quốc gia, nó tạo ra bộ mặt của đất nớc và môi trờng cho hoạt động
đầu t.
Chính phủ cần khuyến khích u đãi các nhà đầu t nớc ngoài theo các hình thức:
BTO, BOT, BT để phát triển cơ sở hạ tầng. Dành nhiều ngân sách để phát triển cơ sở
hạ tầng cho vùng sâu, vùng xa nhằm tạo ra những địa bàn mới hấp dẫn đầu t.
5. Cải cách thủ tục hành chính
Theo các nhà đầu t nớc ngoài thì hiện nay lực cản lớn nhất đối với nguồn vốn
FDI chính là thủ tục hành chính. Vì vậy nếu không giải quyết dứt điểm các khó khăn
kinh tế và xã hội. Do đó trên giác độ quản lý vĩ mô phải xem xét, đánh giá những lợi
ích kinh tế - xã hội do thực hiện dự án đem lại. Điều này giữ vai trò quyết định để đợc
các cấp có thẩm quyền chấp nhận cho phép đầu t, các định chế tài chính quốc tế, các
cơ quan viện trợ song phơng và đa phơng tài trợ cho dự án.
Lợi ích kinh tế - xã hội của dự án đầu t là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền
kinh tế và xã hội thu đợc so với các đóng góp mà nền kinh tế và xã hội đã phải bỏ ra
khi thực hiện dự án.
Những lợi ích mà xã hội thu đợc từ việc thực hiện dự án chính là sự đáp ứng các
mục tiêu chung của nền kinh tế - xã hội. Chúng có thể đợc xem nh các đáp ứng mang
tính chất định tính: các mục tiêu phát triển kinh tế, góp phần chống ô nhiễm môi tr-
ờng, cải tạo môi sinh...hoặc đợc đo lờng bằng tính toán định lợng nh: mức tăng thu
cho ngân sách, mức gia tăng sử dụng tài nguyên, số ngời có công ăn việc làm...
Chi phí mà xã hội phải gánh chịu bao gồm toàn bộ các tài nguyên thiên nhiên,
của cải vật chất, sức lao động mà xã hội dành cho dự án thay vì sử dụng vào các công
việc khác trong tơng lai gần.
Nh vậy, lợi ích kinh tế - xã hội chính là kết quá so sánh (có mục đích) giữa cái
giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình một cách tốt
nhất và lợi ích do dự án tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế.
Tuỳ thuộc vào phạm vi xem xét ở tầm vĩ mô hay vi mô mà có các phơng pháp
đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu t khác nhau
1. Đánh giá trên góc độ nhà đầu t là các doanh nghiệp
Phơng pháp đợc áp dụng là dựa trực tiếp vào số liệu của các báo cáo tài chính
của dự án để tính các chỉ tiêu định lợng và thực hiện các xem xét mang tính chất định
tính sau:
Mức đóng góp cho ngân sách nh thuế doanh thu, lệ phí chuyển tiền, thuế xuất
nhập khẩu, ..., từng năm và cả đời dự án.
Cách tính: có thể tính tổng số hay tính bình quân trên 1000 đồng vốn đầu t.
Số chỗ làm việc tăng thêm từng năm và cả đời dự án.
Cách tính: có thể tính tổng số hay tính bình quân trên 1000 đồng vốn đầu t.
Công thức:
t
: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm cùng loại.
Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất: thể hiện ở mức thay đổi cấp bậc công
việc bình quân sau khi có dự án so với trớc khi có dự án và mức thay đổi này
tính trên 1000 đồng vốn đầu t.
Nâng cao trình độ của lao động quản lý: thể hiện ở sự thay đổi mức đảm nhiệm
quản lý sản xuất, quản lý lao động, quản lý tài sản cố định của lao động quản
lý sau khi có dự án so với trớc khi có dự án.
Các tác động đến môi trờng sinh thái cũng nh đáp ứng các nhiệm vụ của kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ.
2. Đánh giá hiệu quả của việc đầu t đối với nớc nhận đầu t (nớc sở tại)
Trên đồ thị 1 xét thế giới chỉ có hai quốc gia (Quốc gia 1 và quốc gia 2), tổng
vốn hỗn hợp của hai quốc gia là 00 và t bản di chuyển tự do. Trong tổng vốn phát
hành: OA thuộc quốc gia 1; OA thuộc quốc gia 2. Đờng VMPK
1
và VMPK
2
cho biết
giá trị sản phẩm vốn cận biên ở quốc gia 1 và quốc gia 2 tơng ứng với các mức đầu t
khác nhau. Trong điều kiện cạnh tranh, giá trị sản phẩm vốn cận biên biểu hiện thành
lợi nhuận, lợi tức hoặc vốn.
Khi tách riêng quốc gia 1 đầu t toàn bộ vốn phát hành trong nớc (OA) của mình
ở mức lợi tức OC. Tổng sản phẩm (đợc đo bằng diện tích phía dới của đờng giá trị sản
phẩm tăng lên) là OFGA, vùng OCGA trở thành tiền vốn của quốc gia 1 và phần còn
lại CFG thuộc về các yếu tố hợp tác khác nh lao động, đất đai.
Tơng tự nh vậy quốc gia 2 đầu t toàn bộ vốn trong nớc (OA) ở lợi tức OH.
Tổng sản phẩm là OJMA, trong đó OHMA là tiền vốn của quốc gia 2 và phần còn
lại HJM là các yếu tố hợp tác khác nh đất đai, lao động...
18
Giả sử các yếu tố sản xuất, vốn và lao động đợc sử dụng đầy đủ trớc và sau khi
có di chuyển vốn, trong đồ thị 1 tổng lợi nhuận và lợi nhuận bình quân của vốn tăng
lên nhng trái lại tổng lợi nhuận và lợi nhuận bình quân của lao động giảm ở nớc chủ
đầu t. Vì vậy khi nớc chủ đầu t thu nhập từ việc đầu t ở nớc ngoài, có sự tái phân phối
thu nhập quốc nội từ lao động thành vốn (Việc đầu t ra nớc ngoài làm cho cầu tơng
đối về lao động trong nớc chủ đầu t giảm hay w giảm. Ngợc lại r tăng kết quả lợi suất
đối với yếu tố lao động giảm và yếu tố vốn tăng). Chính lý do này đã thúc đẩy việc
thành lập công đoàn tại các nớc phát triển để chống lại việc đầu t của các nớc này ra
nớc ngoài. Trái lại khi nớc chủ nhà nhận đợc tổng thu nhập từ việc đầu t của nớc
ngoài, có sự tái phân phối thu nhập quốc nội từ vốn thành lao động. Nếu chúng ta có ít
lao động cần thiết hơn, thì việc đầu t ra nớc ngoài có khuynh hớng giảm mức thuê
nhân công ở nớc chủ đầu t và tăng mức thuê nhân công ở nớc chủ nhà và nh vậy có sự
đối kháng về lao động ở nớc nhận đầu t và quyền lợi lao động ở nớc chủ nhà.
Một hiệu qủa phúc lợi quan trọng khác của việc đầu t ra nớc ngoài đối với cả n-
ớc đầu t lẫn nớc chủ nhà là với tỷ suất thuế khác nhau nên lợi nhuận kiếm đợc ở nớc
ngoài cũng khác nhau.
Ngoài ra, đánh giá hiệu qủa các dự án đầu t nớc ngoài trên góc độ các cấp quản
lý vĩ mô của Nhà nớc, ngời ta còn sử dụng các báo cáo tài chính, tính lại giá cácđầu
vào và đầu ra theo giá xã hội để xác định các chi phí đầy đủ (chi phí của nhà đầu t, địa
phơng, ngành và của đất nớc) và các lợi ích đầy đủ (lợi ích mà nhà đầu t, ngời lao
động, địa phơng và cả nền kinh tế đợc hởng từ việc thực hiện dự án).
Có một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu t khi xem
xét ở tầm vĩ mô.
2.1. Giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm (ký hiệu là NVA)
Nó là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án và là mức
chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào.
Công thức: NVA = O - (M
1
+ I
V
I
vd
Trong đó:
L
d
: Số lao động có việc làm trực tiếp của dự án.
I
vd
: Số vốn đầu t đầy đủ của dự án đang xem xét và các dự án liên đới.
Toàn bộ số lao động có việc làm tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu t đầy
đủ.
L
t
Công thức: I
t
=
I
vt
Trong đó:
L
t
: Toàn bộ số lao động có việc làm trực tiếp và gián tiếp.
I
vt
: Số vốn đầu t đầy đủ của dự án đang xem xét và các dự án liên đới.
Các công thức có liên quan:
n-1
21
Công thức: P(FE) = P(FE)
ipv
i=0
Trong đó:
P(FE): Tổng chênh lệch thu, chi ngoại tệ cả đời dự án tính theo mặt bằng thời gian
ở hiện tại.
i = 0, 1, 2,..., n-1: Các năm của đời dự án.
Nếu P(FE) > 0 là dự án có đóng góp tích cực làm tăng nguồn ngoại tệ cho đất nớc.
Nếu P(FE) < 0 là dự án có tác động tiêu cực làm giảm nguồn ngoại tệ của đất nớc.
2.5. Chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế.
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm do dự án sản
xuất ra trên thị trờng quốc tế. Nó so sánh số ngoại tệ tiết kiệm với giá trị các đầu vào
trong nớc.
n-1
Công thức: P(EF)
ipv
i=0
IC =
-----------
n-1
DR
ipv
i=0
Trong đó:
IC: Chỉ tiêu biểu thị khả năng cạnh tranh quốc tế.
DR: Các đầu vào trong nớc dùng để sản xuất sản phẩm xuất khẩu hoặc thay thế nhập
khẩu.
EU vào Trung Quốc cha nhiều. Từ năm 1979 đến năm 1990, khoảng 12 năm, tổng số
vốn đầu t trực tiếp của các nớc EU vào Trung Quốc mới chỉ khoảng 2.495 triệu USD,
tính bình quân mỗi năm khoảng 200 triệu USD. Nhng bắt đầu từ đầu thập kỷ 90 trở
lại đây vốn đầu t có xu hớng tăng mạnh: năm 1991 là 750 triệu USD gấp 3,5 lần so
với những năm trớc đó; năm 1993 tăng vọt lên đến 3040 triệu USD với 1543 hạng
mục đầu t. Theo t liệu do Trung Quốc công bố, tính đến tháng 9 năm 1995, các nớc
trong EU đã đầu t vào Trung Quốc tất cả là 5499 hạng mục công trình lớn nhỏ khác
nhau, với số tiền vốn đăng ký là 17,1 tỷ USD, trong đó có 5,3 tỷ USD đã đợc sử
dụng. Trong nhiều thành phố lớn, đặc khu kinh tế, khu phát triển của Trung Quốc,
nh Bắc Kinh, Phố Đông, Thợng Hải, Sơn Đông, Quảng Châu, Thẩm Quyến, v.v... ng-
ời ta đều thấy có hạng mục đầu t trực tiếp của nhiều nớc EU. Một số xí nghiệp liên
doanh giữa Trung Quốc với EU sản xuất kinh doanh rất có hiệu quả, đợc tín nhiệm ở
Trung Quốc, nh nhà máy chế tạo xe hơi đại chúng và nhà máy sản xuất kính Diệu
Hoa ở Thợng Hải, công ty trách nhiệm hữu hạn điện thoại liên doanh với Bỉ, v.v...
giữa Trung Quốc với nhiều nớc EU cũng đã ký kết hiệp định bảo hộ đầu t và hiệp
định tránh đánh thuế hai lần, nhằm đảm bảo lợi ích cho ngời đầu t, thúc đẩy EU đầu
t nhanh và hiệu quả hơn nữa vào Trung Quốc. Mặc dù, hiện nay đầu t của các nớc
EU vào Trung Quốc còn cha nhiều bằng đầu t của Hồng Kông, Mỹ và Nhật Bản ở
Trung Quốc, nhng tiềm lực của EU còn rất lớn, khả năng mở rộng đầu t của họ vào
Trung Quốc còn rất nhiều.
2. Một số nớc ASEAN (Malaysia, Indonesia, Thailand)
23
Các nhà đầu t Châu Âu đã có mặt ở Đông Nam á từ thời thực dân. Sau khi
giành đợc độc lập, các nớc ASEAN hoan nghênh sự có mặt tiếp tục của họ trong khu
vực ASEAN. Các nớc ASEAN xem đầu t của Châu Âu nh một trong những nguồn t
bản quan trọng mà họ có thể huy động cho sự nghiẹep công nghiệp hoá của đất nớc
họ. Hơn nữa, ASEAN cần tăng thêm dòng đầu t của EU để cân bằng với u thế đang
tăng lên của vốn đầu t từ Mỹ và Nhật Bản. Tuy nhiên, trong thực tế vai trog của vốn
đầu t Châu Âu trong các nền kinh tế ASEAN đã dần dần giảm xuống. Từ năm 1970,
EC đã tụt lại đằng sau Mỹ và Nhật trong việc đầu t vào các nền kinh tế ASEAN. Và
ợc mở cửa cho nhà đầu t nớc ngoài. Các nhà đầu t nớc ngoài có thể lựa chọn hình
thức sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh, đảm bảo không bị trng thu sơ hữu và đợc đền
bù hoàn toàn trong trờng hợp bị quốc hữu hoá. Các điều kiện pháp luật luôn đợc điều
24
chỉnh để đảm bảo cho môi trờng đầu t không kém hấp dẫn hơn các nớc ASEAN
khác. Nhìn chung các nhà đầu t nớc ngoài đợc đối xử bình đẳng nh các nhà đầu t nớc
ngoài.
Malaysia quy định không cấp phép đầu t cho một số ngành công nghiệp vì các
lý do năng lực sản xuất hoặc thiếu nguyên liệu thô. Sau khủng hoảng, nhằm thúc đẩy
hơn nữa vồn đầu t nớc ngoài, Malaysia đã tiến hành một số biện pháp đáng chú ý:
- Nới lỏng giới hạn cổ phần nớc ngoài. Hiện nay, giới hạn này là 30% cổ phần
nớc ngoài, trừ các ngành công nghiệp hớng xuất khẩu, các ngành công nghệ
cao và các công ty truyền thông là lĩnh vực đặc biệt.
- Trừ các dự án thuộc Danh mục loại trừ đặc biệt (quy định trong Hiệp định
khung AIA), tất cả các dự án đầu t mới trong lĩnh vực sản xuất, trong đó có cả
việc mở rộng và đa dạng hoá sẽ không phải tuân theo điều kiện về cổ phần và
xuất khẩu. Điều này có ý nghĩa các chủ sở hữu dự án có thể nắm giữ 100% cổ
phần và sẽ không cần đáp ứng yêu cầu xuất khẩu nào.
Không những sửa đổi, bổ sung để tạo nên một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh,
Malaysia còn nâng cao năng lực và hiệu quả của bộ máy Nhà nớc, thực hiện chế độ
mở cửa, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, giúp cho các nhà đầu t nớc ngoài thuận
lợi trong việc thiết lập cơ sở sản xuất và thực hiện quá trình kinh doanh của mình.
2.2. Indonesia
Chính sách tài khoá của Indonesia bao gồm chiến lợc bình ổn kinh tế vĩ mô,
quản lý và điều hoà nợ nớc ngoài, giữ vững niềm tin cho các nhà đầu t đối với niềm
tin cho các nhà đầu t đối với nền tảng kinh tế. Ngoài việc đa phơng hoá quan hệ đầu
t kết hợp quan hệ trọng điểm với một số nớc và khu vực chính; sử dụng FDI theo
hình thức liên doanh là chủ yếu; Indonesia cũng chú trọng khuyến khích FDI vào
ngành dịch vụ, du lịch.
Indonesia liên tiếp đa ra những cải cách liên quan trực tiếp đến đầu t nớc ngoài.