TIẾN TRÌNH TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
VỪA QUA.
Quá trình tự do hoá lãi suất chính là quá trình điều hành cơ chế lãi suất qua các
thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Từ đầu thập kỷ 90 chính sách lãi suất đã dần
thay đổi từng bước thích ứng với cơ chế lãi suất thị truờng đồng thời tăng cường
hiệu lực của cơ chế giá trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Diễn biến của chính
sách lãi suất trong thời gian qua có thể chia thành các giai đoạn như sau:
1. Tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.
1.1 Giai đoạn trước tháng 3/1988 –Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền
kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hoá tập trung
Đặc trưng cơ bản của lãi suất ở thời kỳ nàyđó là áp dụng chính sách lãi suất bao
cấp khá nặng nề, lãi suất được xây dựng thoát ly lãi suất nền kinh tế thế giới:
+ Lãi suất tiền gửi thấp hơn mức lạm phát.
+ Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động và thấp hơn mức lạm phát.
Dẫn đến lãi suất trong thời kỳ nay với tình trạng “lãi giả và lỗ thật’ làm cho ngân
hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số
âm. Vì vậy tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa. Do vậy đã gây ra những
hậu quả:
+ Khả năng huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền lưu thông, giải toả áp lực của
tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều.
+ Nhu cầu vay vốn tăng lên không thực chất, tạo lợi nhuận giả tạo cho doanh
nghiệp.
+ Ngân hàng bao cấp qua lãi suất cho khách hàng, tạo lỗ không đáng có cho ngân
hàng. Ngân hàng không thể kinh doanh tiền tệ bình thường theo cơ chế thị trường.
1.2 Giai đoạn 1988 - 6/1992-Thời kỳ lãi suất âm
Bước ngoặc trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế Việt Nam trong lĩnh
vực tài chính - ngân hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 do
Hội đồng Bộ trưởng ban hành (nay là Thủ Tướng Chính Phủ). Nội dung cơ bản của
nghị định này là:
Thứ nhất là tách bộ phận quản lý quỹ ngân sách ra khỏi ngân hàng nhà nước để
hình thành nên hệ thống Kho bạc Nhà nước.
đứng lạm phát phi mã vào cuối quý II/1989 và đồng bộ cùng với những cải cách và
điều chỉnh khác tạo ra những động thái mới đưa nền kinh tế từng bước đi vào ổn
định và phát triển. Tuy nhiên trong giai đoạn này lạm phát đang ở mức cao nên
chính sách lãi suất chưa thực hiện được lãi suất dương mà vẫn theo lãi suất âm. Cơ
chế lói suất õm và mang nặng tớnh chất bao cấp được duy trỡ suốt thời kỳ này với:
- LSCV đối với doanh nghiệp nhà ước < LSCV đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh; - Lói suất danh nghĩa < tỷ lệ lạm phỏt; - LSCV ngắn hạn
> LSCV dài hạn;
- LSCV < lãi suất huy động; - LSTG tiết kiệm > LSTG của cỏc tổ chức
kinh tế;
Năm 1988 với quyết định của hội đồng bộ trưởng ban hành ngay 09/03/1988
cho phép tất cả các tổ chức bao gồm các đơn vị ngoài quốc doanh được vay tiền và
huy động từ công chúng. Điều này cũng có nghĩa là tát cả các tổ chức kinh tế dều
có thể kinh doanh tiền tệ , ngoài ra các tổ chức huy động vốn từ công chúng dưới
dạng tiền gửi tiết kiệm để cho vay không phải tuân thủ các quy định truyền thống
của ngân hàng, như dự trữ bắt buộc hay tỷ lệ vốn/dư nợ cho vay. Trong thời gian
này các quỹ tín dụng và hợp tác xã mọc lên rất nhiều với tổng con số hơn 7.180
đơn vị. Hàng loạt tổ chức tín dụng ở thành thị đua nhau tăng lãi suất để huy động
vốn. Cả hệ thống rơi vào vòng xoáy tăng lãi suất để huy động vốn nhưng không để
ý đến việc cho vay ra thế nào để vừa bảo toàn vốn vừa có lãi cao. Bên ngoài xã hôi
có hiện tượng đầu tư rủi ro cao, không có sự kiểm soát nghiêm ngặt nên kết quả
nhiều đơn vị sản xuất không trả được nợ cho các tổ chức tín dụng. Đồng thời việc
theo đuổi lợi nhuận của các quỹ tín dụng bằng cách huy động vốn với lãi suất cao
trong bối cảnh không có giám sát và quản lý đã nhanh chóng dẩn tới hành vi lừa
đảo, điển hình vào năm 1990. Hậu quả sau đó là sự đổ vỡ của nhiều tổ chức tín
dụng. Đến cuói năm 1990 tổng số quỹ tín dụng giảm mạnh chỉ còn 160 đơn vị.
Người dân mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, họ quyết định rút tiền tiết kiệm
của mình chuyển sang vàng hay đô la Mỹ. Tỡnh trạng này làm cho lói suất
khụng thực hiện được chức năng vốn có của nó; lói suất khụng cũn là đũn bẩy
kớch thớch nhu cầu gửi tiền của cụng chỳng, phỏt huy tớnh hiệu quả trong quỏ
và cho vay với mức lãi suất cao hơn mức 2,1%/ tháng trên cơ sỡ thoả rhuận với
khách hàng heo phương châm : ngân hàng kinh doanh được và khách hàng chấp
nhận được. Cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận có người gọi đó là “Tự do hoá lãi
suất một lần nữa”.
Trên thực tế, khoảng 30-60 % tổng dư nợ lúc bấy giờ là từ các khoản cho vay bằng
lãi suất thoả thuận mà phần lớn là cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ
nông dân, với lãi suất phổ biến là 2,3% - 3,5 % tháng. Các ngân hàng đạt mức
chênh lệch giỡa lãi suất cho vay và lãi suất huy động rất cao, phổ biến từ 0,7% -
1% tháng. Với cơ chế lãi suất thoả thuận, có thể hiểu là đã tự do hoá một phần lãi
suất, hoặc đó là cơ chế cho vay với lãi suất “cứng” đi đôi với một biên độ dao động
nhất định.
Trong lãi suất thoả thuận , mức chênh lệch giữa sàn (tiền gửi ) và trần (cho
vay) rất lớn khoảng 0,7% - 1,0%/tháng, làm cho các ngân hàng thương mại có nức
lợi nhuận quá cao trong khi doanh nghiệp và hộ nông dân (chiếm khoảng 30-60%
tổng dư nợ) gặp nhiều khó khăn.Từ thực tế này, tại kỳ họp lần thứ 8, quốc hội khoá
IX(08/1995)đã đi đến thống nhất cùng cới việc bỏ thuế doanh thu trong hoạt động
tín dụng ngân hàng, đã yêu cầu ngân hàng tiết kiệm chi phí hoạt động và khống
chế mức chênh lệch giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay bình quân là
0,35%/tháng.
Đối với lãi suất ngoại tệ, NHNN quy định trần lãi suất cho vay, còn lãi suất huy
động vốn do các ngân hàng thương mại tự quyết định trên cơ sở lãi suất thị trường
quốc tế và cung cầu vốn ngoại tệ trên thị trường tiền tệ trong nước quyết định.
Những ưu điểm của chính sách lãi suất trong thời gian này:
Trong thời gian này lãi suất đó bắt đầu được sử dụng như một công cụ của CSTT.
Những thay đổi trên thể hiện chính sách lói suất đó được cải cách theo hướng linh
hoạt hơn và phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Sự thay đổi từ việc ấn định các
mức lói suất cụ thể sang quy định trần và sàn lói suất, cho phộp cỏc TCTD chủ
động, tự quyết định mức lói cụ thể của đơn vị mỡnh, hạn chế đến mức thấp nhất sự
can thiệp trực tiếp của NHNN. Đây là bước chuyển biến quan trọng để tiến tới quá
trỡnh tự do hoỏ lói suất
O,8
1,7
1,7
2,0
0,7
1,4
1,7
2,0
0,7
1,4
1,7
2,0
2. Lãi suất cho vay
- ngắn hạn
-Dài hạn
2,1
1,7
2,1
1,7
2,1
1,7
1.2 Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 7 năm 2000 – Thực hiện chính cáh lãi suất
tín dụnh và quản lý chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra.
NHNN tiếp tục ấn định mức lói suất tỏi cấp vốn và cú những đổi mới căn bản về
điều hành lói suất: - Thay vỡ qui định khung lói suất tối thiểu về tiền gửi - lói suất
tối đa về tiền vay, NHNN chỉ qui định các mức lói suất “trần” theo thời hạn cho
vay và khống chế chờnh lệch giữa lói suất cho vay và lói suất huy động vốn bỡnh
quõn là 0,35%/thỏng (4,2%/năm) để khắc phục tỡnh trạng hầu hết cỏc ngõn hàng
thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn
về tài chính (khi thực hiện cơ chế lói suất thoả thuận ở giai đoạn trước).
2,50 2,20 2,10 1,80
II. Cho vay ngoại tệ 9,50 9,50 9,50 9,50
III.Chênh lệch giữa lãi
suất cho vay và lãi suất
huy động bình quân
O,35 O,35 0,35 0,35
Trong năm1997,là năm có nhiều biến động với nền kinh tế khu vực và thế giới .
Đặc biệt là cuộc khủng hoảng tàI chính – Tiền tệ châu á được khởi đầu bằng sự thả
nổi đông Bạt của Chính phủ TháI Lan đã ảnh hưởng phần nào đến nền kinh tế Việt
Nam.Cơ chế lãi suất tín dụng tiếp tục được đIều chỉnh theo hướng duy trì lãi suất
cho vay ở mức thấp nhất tạo đIều kiện mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế.
NHNN đó thay đổi hỡnh thức qui định lói suất tỏi cấp vốn, chuyển sang qui định
mức lói suất cụ thể. Mức lói suất tỏi cấp vốn cũng được điều chỉnh giảm xuống
trong thời gian này (từ 1,1% năm 1997 xuống 0,7%/tháng từ 4/9/ 99) để phù hợp
với chỉ số lạm phát, quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp
kích cầu về đầu tư của Chính phủ.
Đến cuối tháng 1/1998, NHNN tiếp tục thực hiện việc kiểm soát lãi suất trên thị
trường tiền tệ bằng cơ chế trần lói suất cho vay, xoá bỏ qui định chênh lệch lói suất
cho vay và lãi suất huy động. Cựng với nới lỏng sự kiểm soỏt lói suất, NHNN liờn
tục điều chỉnh trần lói suất cho vay theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống
chế, đặc biệt trong năm các năm 1998, 1999.Xoá bỏ phân biệt giữa lãi suất cho vay
thành thị và nông thôn, lãi suất tiền gửi tiếp tục được tự do hoá. Kết quả là đến
cuối năm 1998 tín dụng cho nền kinh tế tăng 16,4%, số dư tiền gửi tăng 19,1% so
với cùng kỳ năm 1997 (thể hiện ở bảng).
Nhằm góp phần tăng cường hoạt động quản lý ngoại hói , hạn chề việc tổ chức
kinh tế nắm giữ ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi,từ tháng 09/1998 NHNN đã quy
định lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD .Cụ thể như sau:
-Tiền gửi không kỳ hạn: 0,5%/năm
-Tiền gửi có kỳ hạn đến 06 tháng: 3%/năm
-Tiền gửi có kỳ hạn trên 06 tháng: 3,5%/năm
các mức lãi suất do NHNN quy định trước đó. Đảm bảo được vai trò quản lý nhà
nước của NHNN vè lãi suất và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh tra, kiểm
ta, giám sát việc thực hiện chính sách lãi suất của NHNN.
+ Các TCTD không cho vay với lãi suất vượt trần điều này đã bảo vệ được
lợi ích cho người vay, tạo mặt bằng về phân phối lợi nhuận giữa các thành phần
kinh tế và người gửi tiền.
+ Lãi suất ngoịa tệ được điều chỉnh kịp thời phù hợp với lãi suất thị trường
quốc tế giảm thiểu chênh lệch lãi suất cho vay nội tệ và lãi suất cho vay ngoại tệ.
Tuy nhiên ảnh hưởng của cơ chế trần lói suất đối với nền kinh tế Việt Nam còn
nhiều hạn chế:
+ Cơ chế trần lãi suất là một biện pháp can thiệp hành chính của nhà nước,
làm cho lãi suất nhiều khi không phản ánh đúng quan hệ cung – cầu vốn trên thị
trường, hạn chế mức độ cạnh trnah, hạn chế việc huy động và cho vay vốn dàI hạn
(do bị khống chế bởi trần lãi suất); Việc phân bổ nguồn vốn tín dụng theo lĩnh vực
kinh tế và địa bàn lãnh thổ gặp khó khăn.
+Việc quy định chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động là
0,35%/tháng trong thời kỳ đầu đã gò bó tính chủ động linh hoạt trong kinh doanh
của các TCTD, khó xử lý linh hoạt, hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữa người gửi
tiền và người đi vay. Cơ chế điều hành này đã làm hạn chế việc hình thành và phát
triển các công cụ tàI chính trên thị trường, vì các TCTD áp dụng phổ biến là lãi
suất cố định, chưa có thước đo để áp dụng lãi suất linh hoạt.
+ Trần lãi suất được điều chỉnh theo xu hướng giảm thầp để hỗ trợ cho hoạt
động đầu tư, sản xuất, kinhdoanh nhưng lại làm cho chênh lẹch giữa lãi suất cho
vay và huy động của các TCTD bị giảm thấp (dưới 0,2%/tháng), nhiều TCTD gặp
khó khăn trong kinh doanh.
+ ảnh hưởng của cơ chế lãi suất trần lên tổng cầu còn hạn chế. Cú hai lý do:
trước hết, việc giảm phát trong thời gian từ 1996 xuất phát từ sự suy giảm các yếu
tố sản xuất liên quan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu, vỡ thế các chính sách vĩ
mô tác động vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả hạn chế; thứ hai, sự điều chỉnh
lói suất thường là chậm so với thị trường, nên mất đi lợi thế bất ngờ của sự thay
(% năm)
1991 10,10 42,0 25,6 17,5
1992 13,77 35,5 17,9 5,1
1993 14,54 21,6 16,4 14,5
1994 17,08 16,8 2,4 14,3
1995 18,99 16,8 4,1 13,5
1996 15,96 13,5 9,0 4,5
1997 16,50 12,6 8,9 3,7
1.4 Tự do hoá lãi suất giai đoạn từ 8/2000 – 5/2002 - Cơ chế điều hành lãi suất
cơ bản kèm biên độ
Giai đoạn từ 8/2000 – 5/2001
Để phù hợp với xu hướng đổi mới hoạt động ngân hàng và trên cơ sở Luật NHNN
từ tháng 8 năm 2000, NHNN đã bỏ quy định về cơ chế trần lãi suất chuyển sang
thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản. Cụ thể là: