LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
CỦA CÔNG TY VÀ CÁC PHÒNG BAN.
I>LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY.
Công ty dệt may Hà Nội là một công ty lớn thuộc Tổng Công ty dệt may Việt
Nam, hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, tự chủ về tài chính, có con
dấu riêng và hoạt động theo luật doanh nghiệp.
Tên Tiếng Việt : CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI
Tên Tiếng Anh : HÀ NỘI TEXTILE AND GARMENT COMPANY
Tên Viết Tắt : HANOSIMEX
Địa Điểm : Số 1 – Mai Động, Quận Hai Bà Trưng, TP.Hà Nội
Số điện thoại : 84-04-8621024 ; 8621470; 8624611.
Số Fax : 84-04-8622334.
Website : www.hanosimex.com.vn.
Tên gọi trước đây của công ty dệt may hà nội là nhà máy sợi hà nội hoặc xí
nghiệp liên hiệp sợi dệt kim Hà Nội, công ty dệt Hà Nội.
- Ngày 7 tháng 4 năm 1978 Tổng Công ty Nhập Khẩu thiết bị Việt Nam và
hãng Unionmatex (Cộng Hoà Liên Bang Đức ) chính thức ký hợp đồng
xây dựng Nhà máy sợi Hà Nội .
- Tháng 2 năm 1979 khởi công xây dựng nhà máy .
- Tháng 1-1982: lắp đặt thiết bị.
- Ngày 21 tháng 11 năm 1984 chính thức bàn giao công trình cho Nhà máy
quản lý điều hành ( gọi tên là nhà máy sợi Hà Nội ).
Quy mô: 10 vạn cọc sợi< 3,5 vạn cọc coton, 6,5 vạn cọc Pêco>
Sản lượng: 8000tấn sợi/ năm.
Xây dựng xưởng dệt kim công suất thiết kế 1000 tấn sản phẩm/năm.
Nhà máy sợi Hà Nội được xây dựng theo quyết định số 457/TTg ngày
16/9/1978 do phó thủ tướng Lê Thanh Nghị ký.
Diện tích: 1306 Héc ta.
Tổng vốn đầu tư( tại thời điểm 9/78) là 259695000đ)
Vốn xây lắp: 50000000đ
Vốn thiết bị: 176660000đ.
- Sợi Cotton, Sợi Peco, Sợi PE.
- Các loại vải dệt kim : Rib, Interlok, Single .
- Các sản phẩm may mặc lót , mặc ngoài bằng vải dệt kim .
- Các loại vải dệt thoi , các sản phẩm may mặc bằng vải dệt thoi .
- Các loại khăn bông .
- Mũ và lều vải .
- Công ty chuyên nhập các loại bông, xơ, phụ tùng thiết bị chuyên ngành,
hoá chất, thuốc nhuộm.
- Các hoạt động thương mại - dịch vụ .
- Sản phẩm của công ty được xuất khẩu sang các nước Nhật Bản, Hàn
Quốc, Singapore, Úc, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Thụy Điển, Tiệp
Khắc, Nam Phi, khu vực EU .Trong đó nhiều nhất là Nhật Bản chiếm 50%
doanh thu xuất khẩu.
Đại lý bán buôn bán lẻ của công ty có mặt khắp cả nước đặc biệt là các thành
phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng.
Công ty dệt may Hà Nội coi chất lượng là mục tiêu hàng đầu trong quá trình
sản xuất kinh doanh, luôn đặt ra cho mình có nhiệm vụ thoả mãn mọi yêu cầu của
khách hàng. Duy trì nâng cao chất lượng đã đặt ra. Công ty áp dụng tiêu chuẩn
ISO- 9002 tại nhà máy sợi, nhà máy dệt nhuộm, nhà máy may I, nhà máy may II
và các phòng ban chức năng của công ty.
Công ty luôn duy trì và sản xuất, đạt hiệu quả kinh tế cao. Luôn mở rộng các
hình thức kinh doanh mua bán, gia công, trao đổi hàng hoá, sẵn sàng hợp tác cùng
các bạn hàng trong nước và ngoài nước để đầu tư thiết bị hiện đại, khoa học công
nghệ mới nhằm nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm .
Với thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến trình độ quản lý giỏi, đội ngũ cán bộ
có năng lực cao, đội ngũ công nhân lành nghề, sản phẩm của công ty luôn đạt chất
lượng cao, được tặng nhiều huy chương vàng và bằng khen tại các hội chợ triển
lãm kinh tế .
Qua hơn 10 năm sản xuất kinh doanh, công ty đã đạt được công xuất thiết kế
10.000 tấn sợi/ năm, 7 triệu sản phẩm may/ năm, 6,5 triệu khăn bông/ năm. Chất
Tổng Giám Đốc điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo
các nội quy, quy chế thể chế, nghị quyết được ban hành trong công ty, các quy
định thể chế của Bộ Công nghiệp nhẹ và các chế độ chính sách của Nhà nước.
Dưới Tổng Giám Đốc có 4 Phó Tổng Giám Đốc, có nhiệm vụ tham mưu chính
cho Tổng Giám Đốc, giúp Tổng Giám Đốc trong việc điều hành sản xuất kinh
doanh của công ty theo sự phân công uỷ quyền, chịu trách nhiệm trước Tổng Giám
Đốc, trước Pháp luật về những công việc được phân công .Căn cứ vào quy chế của
công ty thường xuyên hướng dẫn đôn đốc, kiểm tra các đơn vị thực hiện nghiêm
túc và báo cáo Tổng Giám Đốc Công ty về những phần việc được phân công phụ
trách.
Cơ cấu tổ chức của công ty theo mô hình trực tuyến.
Sơ đồ 1: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
<Nguồn: Phòng tổ chức hành chính>
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ
TỔNG
GIÁM
ĐỐC
IV
PHÓ
TỔNG
GIÁM
ĐỐC
III
PHÒNG
KẾ TOÁN –TÀI
CHÍNH
PHÓ
Ban
CBSX
Nh Máyà
May 3
Nh Máyà
Cơ Điện
Nhà
MáyMay
Đông Mỹ
Nh Máy à
May 2
Nh Máy à
May 1
Nh Máyà
Dệt
Nhuộm
Trung
tâm
TN
&KTCL
Để giúp Tổng Giám Đốc trong công tác quản lý điều hành Công ty, ngoài các
Phó Tổng Giám Đốc còn có các Phòng Ban Tham mưu nghiệp vụ, các Nhà Máy,
Phân xưởng được giao nhiệm vụ cụ thể và phải chịu trách nhiệm trước Tổng Giám
Đốc Công ty về những nhiệm vụ đã được giao .
- Phòng Sản xuất -Kinh doanh
- Phòng Kỹ Thuật - Đầu tư
- Phòng Kế Toán -Tài Chính
- Phòng Xuất Nhập Khẩu
- Phòng Tổ Chức Hành Chính
- Phòng Thị Trường
Dệt Sợi Khác
Phòng
Tổ
Chức
H nhà
Chính
xuất khẩu. Theo dự báo tốc độ tăng trưởng của thị trường sợi trong giai đoạn
2000-2005 là từ 8-10% và từ 5-7% giai đoạn 2005-2010.
2. Chức năng, nhiệm vụ
a.Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
Công ty Dệt May Hà Nội là một doanh nghiệp Nhà nước có vai trò lớn lao như
các doanh nghiệp Nhà nước khác là định hướng phát triển cho các thành phần kinh
tế khác nhau. Ngoài ra, Công ty còn có nhiệm vụ chủ yếu như cung cấp hàng tiêu
dùng, may mặc trong nước, tạo công ăn việc làm, góp phần thúc đẩy sự phát triển
nền kinh tế đất nước trong công cuộc Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước và
tiến trình hội nhập nền kinh tế nước ta với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới.
Công ty chuyên sản xuất kinh doanh các sản phẩm sợi đơn, sợi xe cho chất
lượng cao như sợi cotton, sợi peco, sợi PE, với chỉ số trung bình là 36/1 vì mằt
hàng sợi là thế mạnh của Công ty.
Công ty còn sản xuất các loại vải dệt kim thành phẩm Rib, Interlock, single,
các sản phẩm may mặc bằng vải dệt kim, các loại vải dệt thoi và các sản phẩm may
mặc bằng vải dệt thoi, các loại khăn bông.
Mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Cũng như bất kỳ một công ty kinh doanh nào, mục tiêu lớn nhất của công ty Dệt
May Hà Nội là tối đa hoá lợi nhuận vì lợi nhuận sẽ phản ánh thực chất tình hình
kinh doanh cũng như chất lượng sản phẩm của công ty.
Bên cạnh mục tiêu hàng đầu đó, công ty cũng đang cố gắng để tối thiểu hoá chi
phí sản xuất, chi phí kinh doanh nhằm giảm giá thành sản phẩm để có thể phục vụ
mọi nhu cầu dù là khắt khe nhất của khách hàng vì trong kinh doanh công ty luôn
tuân thủ tôn chỉ “khách hàng là thượng đế”. Nhờ việc giảm giá thành công ty có
Các phòng ban thuộc khối điều hành công ty gồm:
* Phòng Tổ chức hành chính
+Tham mưu cho TGĐ về lĩnh vực tổ chức đào tạo, sắp xếp nhân sự, lao động tiền
lương, chế độ chính sách.
* Phòng Kế toán tài chính
+Tham mưu giúp việc cho TGĐ trong công tác kế toán tài chính nhằm sử dụng
đồng vốn hợp lý đúng mục đích, đúng chế độ, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh được duy trì liên tục và đạt hiệu quả kinh tế cao.
* Phòng Kế hoạch thương mại :
+Tham mưu, giúp TGĐ về các lĩnh vực như : nghiên cứu, dự đoán sự phát triển
của thị trường nội địa, đề ra hướng sản xuất sản phẩm may mặc, vải dệt kim, vải
dệt thoi, khăn bông của Công ty, đồng thời tổ chức tham gia các hoạt động tiếp thị,
khuyếch trương quảng cáo sản phẩm của Công ty trên thị trường cả nước.
* Phòng Xuất nhập khẩu
+Tìm kiếm khách hàng, thị trường trong và ngoài nước, tham mưu cho TGĐ
trong công tác nhập khẩu phụ liệu, hoá chất, thuốc nhuộm, máy móc thiết bị phụ
tùng. phục vụ cho công tác đầu tư phát triển và ổn định sản xuất của Công ty đồng
thời xuất khẩu những sản phẩm của Công ty ra nước ngoài bao gồm cả xuất nhập
khẩu uỷ thác cho các đơn vị khác.
* Phòng Kỹ thuật đầu tư
+Tham mưu giúp việc TGĐ về các lĩnh vực kỹ thuật sợi, dệt nhuộm, may, cơ khí,
động lực, kỹ thuật an toàn, vệ sinh môi trường, kỹ thuật xây dựng trong phạm vi
toàn Công ty.
* Phòng kế hoạch - thị trường
+Tham mưu giúp việc TGĐ trong các lĩnh vực công tác như: đề ra các giải pháp,
xây dựng và điều hành việc thực hiện kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nội địa
và sản phẩm xuất khẩu; cung ứng và quản lý vật tư, sản phẩm của Công ty; thực
hiện Công tác marketing tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước cùng các phế liệu
của Công ty.
* Phòng Đời sống
- Nhà máy dệt Denim (đóng tại trụ sở chính của Công ty).
- Nhà máy dệt Hà Đông (đóng tại Cầu Am – Thị xã Hà Đông).
III ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT MẶT HÀNG DỆT MAY CÔNG TY
DỆT MAY HÀ NỘI.
3.1Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh.
Căn cứ phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế của Nhà nước, của ngành;
căn cứ nhu cầu thị trường trong và ngoài nước Công ty xây dựng kế hoạch dài hạn
về phương án kinh doanh, phương án nguyên liệu, phương án sản phẩm đồng thời
Công ty cũng xây dựng chương trình liên kết kinh tế với các tổ chức kinh tế trong
và ngoài nước.
Công ty xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm với các chỉ tiêu tổng
hợp trình Tổng Công ty xét duyệt, giao kế hoạch năm(với các giải pháp tổng thể)
từng quý, từng tháng cho các nhà máy thành viên. Kế hoạch bao gồm:
+ Chỉ tiêu sản lượng sản phẩm, quy cách yêu cầu chất lượng (kể cả phần gia
công bên ngoài), chỉ tiêu doanh thu, kế hoạch sản phẩm mẫu...
+ Các định mức sử dụng vật tư, nguyên vật liệu, năng lượng định mức hao phí
lao động tổng hợp.
3.2Đặc điểm về cơ sở vật chất-kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật ở Công ty Dệt May Hà Nội bao gồm nhà xưởng, máy
móc, thiết bị, các công trình kiến trúc hầu hết mới được xây dựng và trang bị máy
móc thiết bị hiện đại của Italia, CHLB Đức, Bỉ, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Máy móc thiết bị của Công ty mới, hiện đại và đồng bộ nên sản phấm sản xuất ra
đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời tạo điều kiện
tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất từ đó giảm giá thành sản phẩm.
3.3Đặc điểm về lao động
Lực lượng lao động trong công ty rất đông đảo, bao gồm nhiều loại lao động
khác nhau, trình độ tay nghề cũng khác nhau, bao gồm những người đã tốt nghiệp
đại học, những công nhân được đào tạo từ các trường trung cấp, cao đẳng cho tới
những người không được đào tạo qua trường lớp như công nhân bốc vác, lao công.
Nguồn nhân lực trong Công ty được phản ánh qua bảng sau:
tạo và lòng nhiệt tình với công việc. Lực lượng lao động này đã giúp Công ty trở
thành doanh nghiệp hàng đầu của ngành Dệt May trong cơ chế thị trường.
3.4 Đặc điểm của sản phẩm
Các sản phẩm chính của Công ty bao gồm:
- Sợi các loại : bao gồm 100% cotton, T/C, CVC, 100% PE, sợi OE, với công
suất 15.000 tấn/năm
- Các sản phẩm dệt kim : được sản xuất trên các loại vải 100% cotton, T/C, CVC,
100%PE với các kiểu dệt Single, Pique, Rib …Công suất: 6.000.000 sp/năm
bao gồm quần áo thể thao, polo shirt, T-shirt...
- Vải Denim có chun và không chun với các trọng lượng khác nhau, công suất
6.500.000mét/năm.
- Các sản phẩm bằng vải Denim, công suất 1.250.000 sản phẩm/năm.
- Khăn mặt bông các loại và lều du lịch: với công suất 1000 tấn/năm.
- Mũ : Công suất 4.800.000 sản phẩm/năm.
Đây là những sản phẩm có đặc điểm dễ bảo quản, vận chuyển và sản xuất theo
mùa. Sản phẩm của Công ty đưa ra thị trường thuộc hai loại hàng: hàng kỹ nghệ và
hàng mua sắm.
Hàng kỹ nghệ là những món hàng do cá nhân hay tổ chức mua về để gia công
thêm hoặc dùng trong việc điều hành công việc.
Hàng mua sắm là loại hàng mà người khách trong quá trình lựa chọn mua có so
sánh về đặc tính của sản phẩm: độ phù hợp, chất lượng, giá cả, kiếu dáng.
Với mỗi loại sản phẩm của công ty có nhiều chủng loại mặt hàng khác nhau.
Chẳng hạn, sản phẩm sợi là mặt hàng truyền thống của công ty, loại sản phẩm này
có đặc điểm rất quan trọng vì nó là nguyên liệu để dệt vải. Nhu cầu về may mặc
đòi hỏi phải có nhiều loại sợi vải có chất lượng. Sợi có tốt thì vải mới bền, mịn đẹp
và vải nhuộm không phai.
Nhờ phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ sợi mà bình quân hàng tháng
công ty tiêu thụ hơn 10.000 tấn sợi các loại chiếm khoảng hơn 60% tổng doanh thu
của toàn công ty. Doanh thu của sản phẩm sợi đạt khoảng 30 tỷ đồng/ tháng. Đến
nay công ty có hơn 20 mặt hàng bao gồm nhiều chủng loại khác nhau.
7 Ne 20 cotton chải kỹ 20 Ne 32/2.65/35
8 Ne 30 cotton chải thô 21 Ne 40/2.65/35 chải kỹ
9 Ne 60.65/35 chải kỹ 22 Ne 42/2.65/35 dệt kim
10 Ne 45.65/35 chải kỹ 23 Ne 60/2.65/35 chải kỹ
11 Ne 23 cotton chải thô 24 Ne32/2 cotton chải thô
12 Ne 32.65/35 chải kỹ 25 Ne 20/2 cotton chải thô
13 Ne 30.65/35 chải kỹ
<Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường>
Đối với sản phẩm dệt kim công ty cũng có nhiều chủng loại sản phẩm của mặt
hàng dệt kim. Nghiên cứu mẫu mã trên thế giới cũng là một trong các biện pháp
phát triển sản phẩm dệt kim nói riêng và các mặt hàng nói chung của công ty.
Công ty chọn ra những mẫu phù hợp với mình để tạo ra những chính sách về sản
phẩm mới vùa hướng tới cái mới lạ theo su hướng chung của thị trường vừa tạo ra
được những sản phẩm độc đáo vượt trội các đối thủ cạnh tranh là rất cần thiết. Tuy
nhiên với cách này thì chi phí bỏ ra là rất lớn và đòi hỏi khả năng sáng tạo phải phù
hợp vơí thị hiếu nguời tiêu dùng.
3.5 Đặc điểm công tác quản lý chất lượng sản phẩm
Công ty dệt may Hà Nội xác định: Đảm bảo chất lượng sản phẩm và những
điều cam kết với khách hàng là nền tảng cho sự phát triển lâu dài cho công ty.
Nhận thức được vấn đề chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh quan trọng lâu
dài trong sự phát triển mới nên công ty dệt may Hà Nội đã thực hiện hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO- 9002 mà công ty đã được cấp chúng vào năm
2000.
*Những biện pháp thực hiện chính sách chất lượng.
- Đầu tư nguồn lực cần thiết để xây dựng, áp dụng và duy trì hệ thống đảm bảo
chất lượng theo tiêu chuẩn ISO-9002.
- Khách hàng là nhân tố quan trọng của công ty. Đáp ứng yêu cầu và những đòi
hỏi của khách hàng là nhiệm vụ của mọi thành viên để đem lại lợi nhuận cho
công ty.
- Thường xuyên nghiên cứu thị trường, thị hiếu thời trang của khách hàng để đưa
thống và khách hàng tiềm năng.
Sơ đồ 2 : Quy trình đánh giá chất lượng nội bộ
L ậ p k ế ho ạ ch
a
bc
Theo dõi ho ạ t độ ng
sau khi đ ánh giá
Xem xét k ế t qu ả đ ánh giá L ậ p h ồ s ơ đ ánh giá H ọ p k ế t thúc Đ ánh giá
Chu ẩ n b ị
H ọ p m ở đầ u
a: Đánh giá trước
b: Đánh giá
c: Đánh giá sau
< Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu>
3.6Đặc điểm nguyên vật liệu.
a> Quy trình mua nguyên vật liệu.
Sơ đồ3: Quy trình mua nguyên vật liệu
Xem xét
L ự a ch ọ n nh thà ầ u ph ụ
Phê duy ệ t
Đ m phánà
L ậ p h ợ p đồ ng ho ặ c
mua tr ự c ti ế p
Nh ậ n h ngà
Nh thà ầ u n ướ c ngo ià Nh thà ầ u trong n ướ c
Chi chú :
Hoạt động có thể xảy ra
Đư a v o danh sáchà
nh thuà ầ u ph ụ
Phân tích đ ánh giá
nước ngoài; cho nên tính chủ động trong sản xuất chưa cao và hiệu quả sản xuất sẽ
bị hạn chế. Đặc biệt sản phẩm sợi hiện vẫn là mặt hàng chủ đạo của công ty, là
nguồn thu nhập chính của Công ty thế nhưng nguyên liệu chính của nó là xơ PE
chiếm phần lớn là mua từ thị trường nước ngoài.
Nguyên liệu bông xơ được sử dụng chủ yếu từ các nguồn sau:
Nguyên vật liệu bông:
- Bông Viêt Nam chiếm 13,5% lượng bông sử dụng.
- Bông Nga chiếm khoảng 69,5%
- Ngoài ra bông còn được nhập từ các nước như : Mỹ, Úc, Tây Phi.
Toàn bộ nguyên liệu bông của công ty đều được đặt mua tại tổng công ty dệt may
Việt Nam.
Nguyên vật liệu xơ: được nhập khẩu từ Hàn Quốc và Đài loan...
Ngoài ra công ty còn nhập nhiều loại hoá chất thuốc nhuộm dùng cho các công
đoạn tẩy nhuộm in làm bóng vải... và các nghuyên liệu khác phục vụ cho quá
trình sản xuất kinh doanh.
b> Công tác quản lý nguyên vật liệu<NVL>
Hiện nay NVL sản xuất chủ yếu là các loại bông cotton và xơ PE chiếm tỉ lệ
khá cao trong giá thành sản phẩm( từ 65% đến 75%) cho nên vấn đề tích kiệm
nguyên vật liệu và tỷ lệ tiêu hao bông xơ là cần thiết.
Công ty đã sử dụng những kinh nghiệm và khảo sát thực tế để xây dựng định
mức tiêu hao NVL theo các bước sau:
- Khảo sát từng công đoạn: Bồng, chải, ghép, thô, sợi con
- Từ số liệu khảo sát kết hợp với kết quả sản xuất các kỳ trước và người làm công
tác định mức các số liệu khảo sát xẽ được xem xét số liệu hàng tháng. Tiếp tục
theo dõi thực hiện định mức mỗi tháng một lần, so sánh, phân tích nguyên nhân
tăng giảm so với định mức tạm giao.
- Xem xét định lại mức để rút ra kinh nghiệm và tìm biện pháp khắc phục tam
thời. Trong xây dựng định mức, các cán bộ định mức thường chú ý đến công
đoạn chải kỹ vì đây là công đoạn tiêu hao nhiều bông nhất do sợi chải mất
nhiều nhất để làm giảm thiểu lượng bông phế.
2000
Năm
2001
Năm
2002
So sánh (%)
2001/2
000
2002/2
001
Tổng số
2.303.
091
586.03
4
972.25
2
25,4 166
áo Poloshirt
938.97
6
170.42
2
332.40
9
18,5 195
áo T.shirt – Hineck
1.092.
810
286.62
sản phẩm khăn sang thị trường nước ngoài ngày càng tăng. Điều đó khẳng định
rằng công ty dần khẳng định và tìm được chỗ đứng của mình ở thị trường trong và
ngoài nước đồng thời có thể cạnh tranh được với các đối thủ khác.
Cũng như sản phẩm khăn thì sản phẩm lều bạt du lịch thực sự tìm được chỗ
đứng của mình trên thị trường nội địa. Đây là sản phẩm khó tiêu thụ vì chưa phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước nhưng công ty cũng ddã và đang từng
bước khẳng định vị chí của mình trên thị trường về mặt hàng này.
Tuy nhiên, một đặc điểm rất quan trọng về thị truờng tiêu thụ sản phẩm của
công ty là số lượng đối thủ cạnh tranh ngày càng tăng. Có thể nói, công ty đang
phải cạnh tranh rất lớn đối với các đối thủ cạnh tranh khác để chiếm lĩnh thị
trường.
*Đối với thị trường xuất khẩu.
Sản phẩm sợi.
Mặc dù chất lượng sản phẩm sợi luôn có khả năng cạnh tranh trong thị trường
nội địa. Song sản phẩm sợi xuất khẩu chiếm tỷ lệ không đáng kể. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này đó là do máy móc thiết bị của công ty đã bị lạc hậu so
với công nghệ trên thế giới. Vì vậy năm 2002 sợi xuất khẩu của công ty có doanh
thu 3,865143 triệu USD trong khi đó doanh thu nội địa sản phẩm sợi năm 2002 là
205696 triệu đồng, kết quả trên cho thấy sản phẩm soị của công ty ít có khả năng
cạnh tranh trên thị trường nước ngoài mặc dù sản phẩm của công ty đạt tiêu chuẩn
ISO 9002. Nguyên nhân còn tồn tại chính là ở giá cả, khâu quảng cáo, khả năng
tìm đối tác của công ty chưa phát huy được thế mạnh song công ty cần nghiên cúu
tìm hiêủ hơn nũa để có thể thâm nhập thị trường rộng lớn này.
Sản phẩm dệt kim.
Sản phẩm dệt kim chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các hàng xuất khẩu< 70%>.
Các sản phẩm dệt kim được xuất khẩu sang thị truờng Nhật bản, Đài loan, Anh,
Đức, Pháp, Italia... được xem là thị trưòng truyền thống của công ty với kim ngạch
xuất khẩu tương đối ổn định.
Ngoài ra gần đây công ty có quan hệ buôn bán với một thị trường mới như Mỹ,
úc, Newzeland, Singapo...Công ty đang chú trọng nhằm phát triển các thị trường
kênh phân phối bao gồm kênh phân phối gián tiếp và kênh phân phối trực tiếp.
Kênh phân phối gián tiếp thông qua các đại lý như cơ sở vĩnh tiến, công ty
TNHH tiên tiến, công ty TNHH hiệp hoà.
Kênh phân phối trực tiếp được tập trung chủ yếu ở sản phẩm sợi, hàng may
mặc nội địa, hàng khăn bông. Đối với các sản phẩm xuất khẩu thì công ty nhận đơn
hàng trực tiếp từ nước ngoài. Ngoài ra công ty còn áp dụng các biện pháp hỗ trợ
tiêu thụ như quảng bá sản phẩm trên báo trên tạp trí, tham gia các hội chợ triển
lãm, tổ chức các hội nghị khách hàng.
3.8. Đặc điểm máy móc thiết bị.
Công ty dệt may Hà Nội có nhiều loại dây truyền máy móc thiết bị dùng để sản
xuất ba mặt hàng chính là sợi, sản phẩm dệt kim và khăn bông. Các dây chuyền
này chủ yếu là dây chuyền sản xuất liên tục< bố trí mặt bằng định hướng theo sản
phẩm>.
Hiện nay tại nhà máy sợi I và nhà máy sợi II đều có dây truyền vừa sản xuất
sợi chải kỹ, vừa sản xuất sợi chải thô. Tại nhà máy sợi II cồn có thêm dây chuyền
sản xuất sợi phế OE. Từ dây chuyền chải kỹ và chải thô có thể kết hợp để sản xuất
sợi đơn chải thô sợi đơn chải kỹ và sợi xe. Đó là nhà máy bông Mazoly và Muzata
của Nhật bản, máy Autoconer và Schrafhort của Đức, máy đậu và máy xe do
Trung quốc sản xuất.
Hầu hết máy móc đều được sản xuất từ năm 1979, 1980 ngoại trừ máy
Schrafhort và Murata là mới được trang bị sản xuất vào những năm 1994, 1995.
Tại nhà máy sợi Vinh các máy móc thiết bị hoàn toàn do CHLB Đức sản xuất
vào đầu những nam 1970 và một số máy móc đã khấu hao hết.
Hầu hết máy móc thiết bị của công ty dệt may Hà Nội có thời gian sử dụng khá
lâu, đây chính là điểm yếu trong chiến lược cạnh tranh của công ty trong cơ chế thị
trường. Do vậy công ty cần có chiến lược đầu tư hơn nữa vào máy móc thiết bị để
tạo ra nhhững sản phẩm có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế
giới.
Bảng 7: Máy móc thiết bị tại nhà máy Dệt Nhuộm và các nhà máy may
STT Máy móc thiết bị
Nhà
máy
sợi I
Nhà
máy
sợi II
1. Máy dây bông 4 90% 1975 Đức 2 2
2. Máy chải 48 90% 1975 Đức 24 24
3. Máy ghép 42 90% 1982 Đức,Ý 26 16
4. Máy thô 20 90% 1982 Đức 12 8
5. Máy sợi con 176 90% 1982 Đức 111 65
6. Máy ống 26 90% 1989 Đức 16 10
7. Máy đậu 3 90% 1989 TQ 2 1
8. Máy xe 19 90% 1982 TQ 9 10
9. Máy ống xốp 2 90% 1982 TQ - 2
10. Máy cuộn cúi 3 90% 1989 Đức, Ý 2 1
11. Máy chải kỹ 13 90% 1989
Đức, Ý
Nhật
13 -
Tổng số máy 365 217 139
(Nguồn : Phòng kỹ thuật đầu tư)
Như vậy ngoài trừ những máy móc thiết bị dùng để sản xuất các sản phẩm
mới của Công ty: Vải Demin, sản phẩm Demin, Mũ nới được trang bị gần đây thì
còn lại là những máy móc đã có thời gian sử dụng khá lâu, đây chính là điểm yếu
trong chiễn lược cạnh tranh của Công ty trong cơ chế thị trường
II>THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU Ở CÔNG
TY DỆT MAY HÀ NỘI
1> Thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may ở Việt Nam
1.1Tình hình đầu tư xây dựng ngành công nghiệp dệt may Việt Nam
đãi còn hơn 687,3 tỷ đồng vốn vay thương mại .
1.2 Tình hình sản xuất
Trong hơn 10 năm qua , ngành dệt may nước ta đã có những bước phát triển
mạnh mẽ , kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên nhiều năm liền đứng thứ hai
trong số những những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, tạo thêm việc làm cho hàng
trăm nghìn lao động , uy tín chất lượng các sản phẩm dệt may Việt Nam được đánh
giá cao trên thị trường thế giới .
Có sự tăngtrưởng liên tục và vững chắc như vậy là nhờ đường lối đổi mới của
Đảng tạo môi trường đầu tư , kinh doanh thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế sự
nỗ lực của nhiều cấp , nhiều ngành trong việc tìm kiếm , mở rộng thị trường và sự
năng động sáng tạo của các doanh nghiệp .
Tuy nhiên ngành dệt may Việt Nam khi đó đang gặp một số khó khăn dolà đồng
EURO của Châu Âu sụt giá trên 20% so với đồng USD đã ảnh hưởng không nhỏ
đến nhập khẩu và tiêu thụ hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng tại thi
trường này một thị trường chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của ta . Mặc dù từ năm2000 , Việt Nam và EU đã thoả thuận tăng mức hạn ngạch
lên 20% và Liên Bộ Thương Mại- Công Nghiệp -Kế hoạch và Đầu Tư đã áp dụng
nhiều biện pháp khuyến khích tận dụng hạn ngạch , kể cả những mặt hàng nhạy
cảm , nhưng vẫn không đạt được kết quả mong muốn .Một yếu tố khác mà ta
không thể bỏ qua là sau khủng hoảng khu vực 97-98 , các nước xuất khẩu hàng dệt
may lớn như Indonesia , Ấn độ , Thái Lan , Pakistan đã phục hồi , cùng với Trung
Quốc bắt đầu các chương trình phát triển mới , mạnh mẽ hơn trước đây bằng việc
đổi mới công nghệ , thiết bị , khuyến khích đầu tư , chú trọng đào tạo nguồn nhân
lực nên đã góp phần nâng cao chất lượng , hạ giá thành , tăng sức cạnh tranh cho
các sản phẩm của họ .Đây là một thách thức và lâu dài cho ngành dệt may nước ta .
Vì vậy trong những năm tới ngành dệt may Việt Nam cần phải được nhanh
chóng đầu tư đổi mới công nghệ , nâng cấp quản lý chất lượng sản phẩm , đẩy
mạnh hoạt động tiếp thị . Các thành viên thuộc Tổng Công ty Dệt May Việt Nam
phải khẩn trương xây dựng và triển khai các dự án phù hợp với chiến lược chung
của toàn ngành dựa trên những thế mạnh riêng về thiết bị công nghệ , trình độ cán
- Năm 2001 là 2000 triệu $ góp phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất
khẩu trong cả nước .
1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Xuất khẩu hàng dệt may đã , đang và sẽ là ngành hàng xuất khẩu quan
trọng hàng đầu của Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21 .Với
mức tăng trưởng bình quân hàng năm cao ( 23,8% / năm ) liên tục và ổn định suốt
gần chục năm qua , xuất khẩu hàng dệt may đã lần lượt vượt qua các mặt hàng xuất
khẩu chủ lực khác vươn lên vị trí số 1 trong danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam( năm 1998 ) .Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong
cơ cấu xuát khẩu cũng ngày càng tăng và chiếm một tỷ lệ quan trọng ( chiếm
khoảng 14, % tổng kim ngạch xuất khẩu ), Điều tích cực hơn cả là giải quyết công
ăn việc làm cho hàng triệu lao động trên mọi miền đất nước , trong lúc chúng ta
đang thiếu vốn thừa lao động .
Nhưng từ năm 1998 tới nay xuất khẩu hàng dệt may nước ta đã trưởng chậm
dần .Năm 2000 tốc độ tăng trưởng chỉ còn 8,3% và năm 2001 chỉ là 5,7% do tác
động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực và tình trạng trì trệ của kinh tế toàn
cầu . Tuy nhiên hàng dệt may vẫn là mặt hàng xuất khẩu chính .
Bảng 10: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam