MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁ TẠI CÔNG
TY DỆT MINH KHAI
I- ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRONG THỜI
GIAN TỚI.
1. Định hướng phát triển của ngành dệt may từ nay tới năm 2010
Chính sách mở cửa kinh tế và khuyến khích sản xuất của nhà nước đã kích
thích nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam và đồng thời cũng
khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài.
Ngành dệt may hiện nay, đóng góp rất lớn cho ngân sách nhà nước bởi khối lượng
hàng hóa xuất nhập khẩu mỗi năm. Có thể nói, ngành dệt- may hiện nay là ngành
sử dụng nhiều lao động nhất và mang lại kim ngạch xuất khẩu cao. Mục tiêu đặt ra
là”phấn đấu đưa công nghiệp dệt- may trở thành ngành xuất khẩu chủ lực, thỏa
mãn ngày cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiều việc làm cho người lao
động, nâng cao khả năng cạnh tranh hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế
giới”. Đây là mục tiêu của chiến lược “tăng tốc “ phát triển ngành dệt- may đến
năm 2005 sẽ đưa kim ngạch xuất khẩu tăng 4 đến 5 tỉ USD, thu hút 2,5 tới 3 triệu
lao động với tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm trên 50%. Việc đầu tư đổi mới trang thiết
bị để phát triển ngành dệt- may thành ngành xuất khẩu mũi nhọn là một trong
những ưu tiên hàng đầu hiện nay.
Quan điểm chiến lược “tăng tốc” đối với ngành dệt bao gồm: sản xuất
nguyên liệu dệt, sợi, dệt in, nhuộm , ngành cần huy động tối đa mọi nguồn lực
khuyến khích các thành phần kinh tế, kể cả hình thức đầu tư nước ngoài vào các
ngành nói trên. Đầu tư phát triển quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp kéo
sợi, dệt in, nhuộm, hoàn thành. Tập trung đầu tư trang thiết bị, công nghệ cao, kỹ
thuật tiên tiến hiện đại, trình độ chuyên môn hóa cao. Chú trọng công tác thiết kế
các sản phẩm dệt mới nhằm từng bước củng cố vững chắc uy tín, nhãn mác hàng
dệt Việt Nam trên thị trường quốc tế. Tổ chức lại hệ thống quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn quốc tế, tăng nhanh sản lượng, tạo bước nhảy vọt về chất lượng đối với
các sản phẩm dệt nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Để thực hiện tốt chiến lược”tăng tốc’của mình ngành dệt may đã có một số
giải pháp đó là: tổng công ty sẽ tổ chức ba hội chợ thiết bị dệt may (từ 3-6/4/2001)
Sản phẩm chính 2001 2002 2003 2004 2005
1, Khăn bông
(chiếc)
-Tổng khăn 27.620.000 30.380.000 31.860.000 35.084.800 36.840.000
-Xuất khẩu 23.120.000 25.450.200 26.735.000 29.413.000 32.354.300
2, Màn tuyn (m) 1.845.000 2.135.000 2.240.000 2.468.000 2.585.000
BH 9- Kế hoạch sản xuất của công ty đến năm 2005.
Về kế hoạch kinh doanh chung: Công ty sẽ luôn đảm bảo về chất lượng hàng
hóa cũng như thời hạn giao hàng theo hợp đồng nhằm giữ chữ tín trên thị trường.
Cùng với việc đầu tư trang thiết bị mới, công ty sẽ tiếp tục đào tạo và đào tạo lại
đội ngũ cán bộ công nhân nhằm sử dụng có hiệu quả hơn các máy móc thiết bị mới
được trang bị lại. Bên cạnh đó, công ty cũng sẽ bồi dưỡng thêm nghiệp vụ cho các
cán bộ phòng ban nhằm đạt hiệu quả chuyên môn cao hơn.
Về công tác nghiên cứu thị trường: Nghiên cứu thị trường là một khâu quan
trọng nó đóng vai trò quyết định đến quá trình kinh doanh , nó quyết định đến sản
xuất và tiêu thụ, sự tồn tại và phát triển của công ty trên thị trường. Qua nghiên cứu
thị trường sẽ tạo tiền đề, cơ sở cho quá trình tiếp cận thị trường của công ty được
vững vàng hơn. Công việc này được bắt đầu trước khi sản xuất sản phẩm, rồi đến
lưu thông, phân phối sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng sao cho có hiệu quả nhất
Để công tác nghiên cứu thị trường có hiệu quả, công ty không chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu tại bàn qua các nguồn thông tin trên các báo, tạp chí, qua mạng
Internet mà công ty cũng có kế hoạch cử cán bộ nghiên cứu trực tiếp đến các cơ sở
để điều tra nhu cầu thị trường, tìm hiểu và xác định mức độ tiềm năng của thị
trường đối với sản phẩm, dự tính được phần sản phẩm tham gia thị trường mà công
ty có thể thực hiện được, tìm hiểu sự phân phối của sản phẩm sẽ bán ra trên thị
trường nhằm mở rộng thị trường nội địa.
Đối với những thị trường nước ngoài, khâu nghiên cứu thị trưòng được công
ty chú ý hơn bởi vì thị trừơng của công ty mới chỉ có chủ yếu là Nhật Bản và một
số thị trường đơn lẻ khác mà thị trưòng triển vọng như EU, Đài Loan, Trung
hoạch phát triển của công ty giai đoạn từ nay đến năm 2005, như sau:
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005
1- Tổng số nộp NS (tr.đ) 1.500 1.630 1.725 1.810 1.906
- Thuế thu nhập 705 740,65 785 823 866
- Thu về sử dụng vốn NS 844,15 886,35 940 987 1.035
-Nộp khác 0,85 0,89 0,9 0,98 1
2- Giá trị sản xuất CN 62.000 65.000 69.000 72.450 76.800
3- Tổng doanh thu(tr.đ) 70.000 73.500 78.800 80.000 84.000
4-Kim ngạch xuất khẩu (USD) 4.000 4.200 4.450 4.800 5.000
5-Thu nhập DN (tr.đ) 1.600 1.680 1.850 2.000 2.115
6- sản phẩm mới (loại) 15 18 20 23 25
7- Thu nhập bình quân đầu
người (nghìn đồng)
680 700 720 750 780
BH 10- Chỉ tiêu kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh đến năm 2005.
II- MỘT SỐ ĐỀ XUẤT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁ CỦA CÔNG TY
DỆT MINH KHAI.
1. Đề xuất thực hiện hoạt động nghiên cứu và phân tích thị trường.
Để hiểu được khách hàng của công ty, các đối thủ cạnh tranh không một nhà
hoạt động thị trường nào có thể bỏ qua khâu nghiên cứu marketing. Công tác
nghiên cứu và phân tích thị trường ở công ty dệt Minh Khai chủ yếu được tiến
hành rất đơn giản thông qua các thông tin trên báo, các bạn hàng quen thuộc. Vì
vậỵ với công tác nghiên cứu thị trườngsẽ giúp công ty xác định được:
- Nước nào là thị trường có triển vọng nhất đối với sản phẩm của công ty.
- Khả năng bán ra được bao nhiêu.
- Nên chọn phương pháp nào cho phù hợp.
Để công tác nghiên cứu và phân tích thị trườngcó hiệu quả công ty dệt Minh Khai
có thể tiến hành một cách đồng bộ và khoa học như sau:
Xác định vấn đề v mà ục tiêu nghiên cứu
liệu gốc, các nhà nghiên cứu marketing trong công ty có thể chọn một trong hai
công cụ chủ yếu sau: điều tra hoặc sử dụng thiết bị cơ học. Và để đạt được kết quả
tối ưu, công ty cần phải có phương thức liên hệ với chúng có thể là phiếu điều tra,
phỏng vấn trực tiếp…
Bước 3: Thu thập thông tin.
Sau khi soạn thảo xong dự án nghiên cứu cần phải thu thập thông tin. Vì nó
là cơ sở để công ty hiểu biết rõ hơn về thị trường, về khách hàng ở thời điểm hiện
tại cũng như xu hướng vận động và phát triển của thị trường, dự báo quy mô, cơ
cấu, tốc độ tăng trưởng của thị trường mà công ty đang họat động ở đó. Có hai
phương pháp thu thập thông tin chủ yếu mà công ty có thể sử dụng là phương pháp
nghiên cứu tài liệu và phương pháp nghiên cứu hiện trường.
Phương pháp nghiên cứu hiện trường: bao gồm việc thu thập thông tin chủ
yếu thông qua tiếp xúc với người tiêu dùng trên thị trường mà công ty đang họat
động cũng như muốn nghiên cứu. Muốn đạt hiệu quả, công ty cần thực hiện thông
qua:
+ Lập bảng câu hỏi và cử cán bộ đi điều tra trực tiếp: đây là phương pháp
cần thiết để biết được phản ứng của khách hàng. Tuy nhiên, nó đòi hỏi tốn nhiều
thời gian và tiền của cũng như nhân lực.
+Tổ chức các hội nghị khách hàng: hình thức này giúp công ty tìm hiểu
những phản ứng của khách hàng đối với công ty.
+Phương pháp nghiên cứu tại bàn: là phương pháp phổ thông nhất về nghiên
cứu thị trường vì nó ít tốn kém và phù hợp với khả năng của những người xuất
khẩu mới tham gia vào thị trường thế giới. Với phương pháp này, công ty cần phát
hiện ra các nguồn thông tin và triệt để khai thác chúng, các nguồn thông tin mà
công ty có thể khai thác gồm có:
Các nguồn thông tin nội bộ: các báo cáo tài chính của công ty, các báo cáo
tổng kết tài sản , các báo cáo của nhân viên bán hàng, các báo cáo về nghiên cứu
trước đây.
+Các ấn phẩm của cơ quan nhà nước như niêm gián thống kê xuất nhập
khẩu của các nước.
Hệ thống thông tin Marketing
Hệ thống báo cáo nội bộ
Hệ thống nghiên cứu Marketing
Hệ thống thu thập thông tin Marketing bên ngo ià
Hệ thống phân tích thông tin Marketing
Môi trường Maketing
- Những thị trường mục tiêu
- Các kênh Marketing
- Các đối thủ cạnh tranh
- Công chúng
- Các yếu tố của môi trường vĩ mô
Các nh quà ản lý Marketing
- Phân tích
- Lập kế hoạch
- Thực hiện
- Kiểm sóat quá trình thực hiện
Các quan hệ v quyà ết định Marketing