1
BỘ Y TẾ
TRƯỜ
ỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NH
----------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG
NG CHĂM SÓC DẪN
D
LƯU KEHR SAU PHẪU
U THU
THUẬT SỎI ỐNG
MẬT CHỦ TẠII KHOA NGOẠI
NGO TIÊU HÓA - TỔNG HỢP BỆ
ỆNH VIỆN ĐA
KHOA TỈNH
T
HẢI DƯƠNG NĂM 2017
Học viên : Phạm Thị Thu Hương
GV Hướng
Hư
dẫn: Ths.BSCKI. Trần Việt Tiến
Nam Định - 2017
2
1.3.Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh……………………………………...…………5
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh………………………………………………....12
1.5. Triệu chứng lâm sàng…………………………………………………….….…...7
2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………….….. ……..11
2.1. Điều trị ngoại khoa và can thiệp……………………………….………… ……11
2.2. Chăm sóc NB sau phẫu dẫn lưu Kehr …………………………………… …....13
LIÊN HỆ THỰC TIỄN………………………………………………………. …….20
1. Thực trạng chăm sóc DL Kehr tại BVĐK Tỉnh Hải Dương………………. …….20
1.1. Thông tin chung……………………………………………………….… …….20
1.2. CS DL Kehr tại khoa Ngoại Tiêu Hóa – Tổng hợp……………………… …….22
2. Các ưu điểm và tồn tại…………………………………………….……… ……..25
2.1. Ưu điểm........................................................................................................ ...........25
2.2. Tồn tại.......................................................................................................... ...........25
2.3. Nguyên nhân chưa làm được................................................................................26
CÁC ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP KHẢ THI……………..………………….….…..28
KẾT LUẬN…………………………………………………………………….……29
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………...……31
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
Tên đầy đủ
NB
Người bệnh
Giáo dục sức khỏe
SM
Sỏi mật
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
ĐM
Đường mật
KSNK
Kiểm soát nhiễm khuẩn
OGP
Ống gan phải
OGT
Ống gan trái
OGC
Ống gan chung
Sỏi OMC trường hợp không gây tắc, nhiễm trùng sẽ khơng có triệu chứng, tuy
nhiên khi bị tắc và gây nhiễm trùng thường rất nặng nề nếu khơng được điều trị kịp thời
dễ có những biến chứng có thể gây tử vong.
Hiện nay phương pháp điều trị sỏi OMC chủ yếu là phẫu thuật (PT) như lấy sỏi
qua PT nội soi ổ bụng, PT nội soi mở OMC lấy sỏi…
Phương pháp mở OMC lấy sỏi – đặt dẫn lưu (DL) Kehr là PT kinh điển đã áp
dụng hơn một thế kỷ qua với những kết quả khả quan nhằm mục đích lấy hết sỏi ĐM,
tạo lưu thông tốt cho mật ruột.
Năm 1896, Kehr là người đầu tiên đề xuất đặt DL vào ĐM sau khi mở ĐM lấy
sỏi và đã chế tạo ra DL mang tên ống DL Kehr
Năm 1897, Quenu là người đầu tiên thực hiện phẫu thuật mở OMC lấy sỏi có
đặt DL Kehr.
Ở Việt Nam từ những năm 1937 – 1939 Giáo sư Tôn Thất Tùng đã nghiên cứu
về giải phẫu và PT gan mật tạo nền tảng cho PT sỏi ĐM sau này. Từ đó cho đến nay rất
nhiều cơng trình nghiên cứu việc đặt DL Kehr sau mổ sỏi ĐM như Nguyễn Đức Ninh,
Nguyễn Dương Quang, Đỗ Kim Sơn, Phạm Duy Hiển.
7
Hầu hết các tác giả trong và ngoài nước đều đã thống nhất áp dụng phương pháp
dùng DL Kehr đặt vào ĐM sau mở ĐM lấy sỏi. Chỉ có một số ít tác giả có quan điểm
khâu kín ngay OMC sau mở OMC lấy sỏi như Hepp.J, Văn Tần, nhưng với điều kiện
ĐM phải không nhiễm khuẩn và ĐM phải thơng. Nhưng thực tế sỏi ĐM chính trên Thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng thường kèm theo hội chứng tắc mật và hội chứng
nhiễm khuẩn, vì vậy DL ĐM sau mở lấy sỏi ĐM chính vẫn là phương pháp dùng cho
hầu hết Người bệnh(NB).
Theo Nguyễn Văn Tý (2002) sau mổ lấy sỏi ở ĐM chính có đặt DL Kehr là 92%.
Trong thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão
của PT nội soi, PT ít xâm hại đã được áp dụng nhiều trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Đường mật được chia thành hai phần: phần trong gan và phần ngoài gan.
1.1.1. Các đường mật trong gan
Ống gan phải được tạo bởi ống phân thùy phải trước và ống phân thùy phải sau,
tất cả mật của gan bên phải rãnh giữa đều đổ vào ống này. OGP thường ngắn, trung bình
khoảng 9cm; OGP có rất nhiều bất thường về giải phẫu nên ít có giá trị về mặt phẫu
thuật.
Ống gan trái : được tạo bởi ống mật phân thùy trái giữa và ống mật phân thùy trái
bên. Tất cả mật của gan bên trái rãnh giữa đều đổ vào ống này. OGT thường dài hơn
OGP, kích thước trung bình 20cm, ít có bất thường trong hình thái. OGT nằm sát giữa
khe rốn và rãnh túi mật và là mốc tìm ống gan trái trong phẫu thuật cắt gan
Các đường dẫn mật trong gan thường đi theo các ngành của tĩnh mạch cửa, thông
thường các ống mật ở trên nhánh tĩnh mạch cửa, nhưng cũng có thể ở dưới, ở sau hay ở
bên trái tĩnh mạch.
1.1.2. Các đường dẫn mật ngồi gan
Hình 1. Đường mật ngồi gan
1. Đáy túi mật
2. Thân túi mật 3. Cổ túi mật
6. Ống gan chung 7. Ống túi mật
4. Ống gan phải
5. Ống gan trái
8. Ống mật chủ 9.Ống tuỵ chính 10. Bóng gan tụ
9
Hình 2: Sỏi mật ở các vị trí
Sỏi OMC là bệnh hay gặp ở đường tiêu hóa và có thể gây nhiều biến chứng tại
chỗ như gây thấm mật phúc mạc, viêm phúc mạc mật, chảy máu ĐM…hoặc biếnchứng
toàn thân như sốc, nhiễm trùng, suy thận cấp, viêm tụy cấp và có thể dẫn đến tử vong.
Sỏi có thể có một hoặc nhiều viên nhỏ hòa lẫn với bùn mật, hoặc có giun kèm
theo, có trường hợp sỏi đóng khn thành sỏi lớn dọc theo OMC.
Sỏi OMC có thể nằm ở bất cứ đoạn nào của OMC nhưng thường gặp ở đoạn sau
tá tụy hoặc vị trí ở gần cơ Oddi.
Cấu trúc thành phần của sỏi là cholesterone và sỏi sắc tố mật. Tính chất của sỏi
OMC thường là có mầu nâu đen, mềm dễ mủn nát.
1.3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.
Sỏi OMC ở Việt Nam được tạo thành thường có hai nguyên nhân:
- Thứ nhất là nhiễm ký sinh trùng ĐM: giun đũa từ ruột chui lên ĐM,
trứng giun hay xác giun làm nòng cốt rồi sắc tố mật, Canxi Bilirubinat bám vào, cùng
với sự ứ đọng của các tế bào niêm mạc ĐM hoại tử bong ra là cơ sở hình thành sỏi ở
OMC và ở trong gan.
- Thứ hai là nhiễm khuẩn: các vi khuẩn chủ yếu theo giun từ ruột chui lên ĐM
gây viêm nhiễm, làm ĐM giãn to và ứ mật. Thành niêm mạc ống mật bị viêm và phù
nề.Tế bào thành ống mật bị hoại tử bong ra hòa vào mật, các muối canxi cùng các tổ
chức hoại tử và mật kết tủa tạo thành sỏi hay bùn mật.
11
1.4. Yếu tố ảnh hưởng đến tạo sỏi OMC.
- Tuổi: tỷ lệ mắc sỏi tăng theo tuổi. Sự thay đổi thành phần cấu tạo của mật
cùng với tuổi có thể làm tăng nguy cơ cho việc hình thành sỏi. Chỉ số cholesterol bão
hoà ứ mật tăng cùng với tuổi ở cả nữ và nam. Điều này có thể làm tăng tiết cholesterol ở
gan trong khi sự tiết muối mật và phospholipid lại bình thường. Ngồi ra cịn có sự liên
- Yếu tố chủng tộc và gen: sỏi cholesterol tìm thấy ở 10%-20% dân số ở các
nước Tây Âu nhưng ít gặp ở châu Phi, châu Á và rất thấp ở Nhật Bản. Tỷ lệ mắc sỏi ở
Nhật Bản chỉ khoảng 4%. Người Pima ở Tây Nam Mỹ có tỷ lệ mắc bệnh khoảng 48,6%.
Người ta cho rằng có thể gen vận chuyển apolipoprotein E4 và polymorphin của
cholesteryl este chính là yếu tố di truyền của sỏi cholesterol.
- Do thuốc: một số thuốc (như librat) làm tăng thải choles-terol qua ĐM và giảm
chuyển cholesterol sang dạng este hoá do ức chế hoạt động của enzym cholesterol
o-acyltransfe-rase và giảm tổng hợp muối mật gây tăng nguy cơ tạo sỏi.
- Giảm muối mật: mất muối mật do cắt đoạn ruột hoặc bệnh lý hồi tràng như
bệnh Crohn gây ảnh hưởng đến chu trình gan ruột của acid mật dẫn đến thiếu muối mật
trong dịch mật làm tăng nguy cơ tạo sỏi.
- Một số nguyên nhân khác: tiểu đường, xơ túi mật, hút thuốc lá, tổn thương cột
sống… cũng là các nguyên nhân làm tăng nguy cơ tạo sỏi.
1.5. Triệu chứng lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng của SM rất đa dạng và phong phú, từ khơng có triệu
chứng đến triệu chứng điển hình. Theo thống kê, có tới 50% NB SM khơng có triệu
chứng lâm sàng; tuy nhiên, có khi NB đến các biến chứng rất nặng như sốc nhiễm trùng
ĐM, viêm tụy cấp… Ở Việt Nam trước đây SM chỉ được chẩn đoán khi NB đến viện
với những biến chứng nặng; do đó việc điều trị thường muộn, tỷ lệ tử vong cao. Từ khi
siêu âm được áp dụng để chẩn đốn các bệnh gan mật thì NB SM đã được chẩn đoán và
điều trị sớm hơn. Các biểu hiện lâm sàng của SM có thể thay đổi theo số lượng sỏi, vị
trí, tính chất của sỏi.
1.5.1. Dấu hiệu cơ năng
- Đau bụng: đau bụng vùng HSP, kiểu đau quặn gan. Đau thường xảy ra sau bữa
ăn nhiều mỡ, đau nhiều về đêm. Khi đau thường kèm theo nôn làm NB khơng dám thở
mạnh. Cơn đau có thể kéo dài vài giờ đến vài ngày.
- Rối loạn tiêu hoá: ăn chậm tiêu, bụng chướng hơi, sợ mỡ, táo bón, ỉa chảy sau
bữa ăn.
sống (phim nghiêng phải).
- Chụp mật có chuẩn bị bằng thuốc cản quang:
14
NB được uống thuốc cản quang có iod (bilitrast hoặc pheniodol). Thuốc được
hấp thụ qua niêm mạc ruột, chất cản quang sẽ kết hợp với albumin trong máu rồi đến
gan vào ĐM, cơ đọng lại trong TM. Vì vậy, TM và ĐM sẽ hiện rõ trên phim chụp.
Phương pháp này phát hiện khoảng 90% SM; tuy nhiên không dùng được cho người
mang thai, bilirubin máu cao >34mmol/l, suy gan, các trường hợp rối loạn hấp thu ở
ruột, độ nhậy trong chẩn đoán sỏi nhỏ kém và thời gian thực hiện lâu, vì vậy gần đây nó
ít được áp dụng.
Nếu TM ngấm thuốc: thấy sỏi (hõm khuyết khơng có thuốc cản quang) hình trịn,
ít, cả to và nhỏ.
+ Sỏi cholesterol hoặc bilirubin có hình trong giữa một đám mờ cản quang.
+ Sỏi cản quang (calci): các hình được bao quanh bởi một quầng sẫm màu nâu.
Nếu TM không ngấm thuốc: do TM mất khả năng cơ đặc mật vì thành TM viêm
hoặc lưu thông giữa ống túi và OMC bị tắc.
- Chụp đường mật qua da:
Trước đây thường chọc mù và dùng kim to nên tỷ lệ thành công thấp, dễ tai biến;
phương pháp này có thể gây biến chứng chảy máu, viêm phúc mạc với tỷ lệ khoảng 3 10%. Ngày nay, chụp mật qua da thực hiện dưới hướng dẫn của siêu âm với loại kim
nhỏ (kim chiba) nên độ chính xác cao hơn và ít tai biến, tỷ lệ thành công tới 80%. Tuy
nhiên, đây là kỹ thuật có thể gây chảy máu nên thường chỉ thực hiện ngay trước mổ và
chỉ định cho NB bị tắc mật cơ giới.
- Chụp đường mật ngược dòng qua nội soi tá tràng:
Chụp ĐM ngược dòng qua nội soi tá tràng (ERCP: endoscopic retrograd
cholangio pancreatography) là bơm thuốc cản quang vào ĐM qua ống soi tá tràng nhìn
bên. Thuốc vào tồn bộ hệ thống mật - tụy, cho ta biết vị trí, số lượng sỏi. Phương pháp
này có giá trị rất cao trong chẩn đoán SM, khả năng phát hiện sỏi có thể lên tới trên
soi.
- Thơng mật:
Thông mật thường không lấy được cả 3 loại dịch mật (A, B, C), nhưng cũng có
thể lấy được, trong dịch mật thường thấy có sạn sỏi.
1.5.4. Tiến triển và biến chứng
Trong một số trường hợp (tùy vị trí, tính chất của sỏi) SM có thể khơng có triệu
chứng; tuy nhiên sỏi cũng có thể gây nhiều biến chứng, thậm chí gây tử vong.
- Thấm mật và viêm phúc mạc mật:
16
Triệu chứng chủ yếu là co cứng thành bụng và phản ứng phúc mạc; nếu để chậm
bụng sẽ chướng, bí trung đại tiện. Ngồi ra NB cịn có một số triệu chứng: đau, sốt,
vàng da, tốc độ máu lắng tăng cao, bilirubin máu cao.
- Sốc nhiễm trùng đường mật:
Đây là biến chứng nặng có thể gây tử vong nếu khơng được hồi sức tốt và chỉ
định mổ kịp thời. NB có hội chứng tắc mật, sốt cao, tụt huyết áp; cấy máu dương tính
(thường do vi khuẩn Gram âm).
- Chảy máu đường mật:
Đây là biến chứng hay gặp ở các nước có SM do ký sinh trùng (như ở châu Á).
NB thường có ỉa phân đen, cũng có khi nơn ra máu đen với tính chất dai dẳng và tái
phát làm NB suy sụp dần. Biến chứng này hay gây khó khăn trong điều trị vì khơng
chẩn đốn chính xác vị trí chảy máu để PT. Đây là biến chứng nặng do áp-xe hoại tử
nhu mô gan làm cho một nhánh động mạch hoặc tĩnh mạch thông với ĐM hoặc cũng có
thể do viêm TM gây chảy máu.
- Viêm đường mật và áp-xe đường mật:
NB sốt cao, gan to đau, vàng da; xét nghiệm có bạch cầu, bilirubin máu cao. Biến
chứng này bao giờ cũng chỉ định điều trị nội khoa trước.
- Viêm tụy cấp do sỏi:
kiện ĐM khơng có viêm cấp tính. Tuy nhiên, đây là phương pháp chủ yếu xử trí viêm
ĐM cấp tính do sỏi khi đã có biến chứng hoặc điều trị nội khoa khơng kết quả. Có thể
kết hợp với mở nhu mô gan lấy sỏi khi sỏi nằm kẹt chặt trong các nhánh hạ phân thùy,
bằng các dụng cụ lấy sỏi qua đường OMC không thực hiện được. Hàng trăm năm nay
phẫu thuật này đã cứu sống rất nhiều người.
- Năm 1896, Kehr là người đầu tiên đề xuất đặt DL vào ĐM sau khi mở ĐM lấy
sỏi và đã chế tạo ra DL mang tên ống DL Kehr.
- Năm 1897, Quenu là người đầu tiên thực hiện PT mở OMC lấy sỏi có đặt DL
Kehr.
- Ở Việt Nam từ những năm 1937 – 1939 Giáo sư Tôn Thất Tùng đã nghiên cứu
về giải phẫu và PT gan mật tạo nền tảng cho PT sỏi ĐM sau này. Từ đó cho đến nay rất
nhiều cơng trình nghiên cứu việc đặt DL Kehr sau mổ sỏi ĐM như Nguyễn Đức Ninh,
Nguyễn Dương Quang, Đỗ Kim Sơn, Phạm Duy Hiển.
- Hầu hết các tác giả trong và ngoài nước đều đã thống nhất áp dụng phương
pháp dùng DL Kehr đặt vào ĐM sau mở ĐM lấy sỏi. Chỉ có một số ít tác giả có quan
18
điểm khâu kín ngay OMC sau mở OMC lấy sỏi như Hepp.J, Văn Tần, nhưng với điều
kiện ĐM phải không nhiễm khuẩn và ĐM phải thông. Nhưng thực tế sỏi ĐM chính trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thường kèm theo hội chứng tắc mật và hội
chứng nhiễm khuẩn, vì vậy DL ĐM sau mở lấy sỏi ĐM chính vẫn là phương pháp dùng
cho hầu hết NB.
- Theo Nguyễn Văn Tý (2002) sau mổ lấy sỏi ở ĐM chính có đặt DL Kehr là
92%.
- Trong thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện nay, cùng với sự phát triển như
vũ bão của PT nội soi, PT ít xâm hại đã được áp dụng nhiều trên thế giới cũng như ở
Việt Nam. Nhưng PT mở OMC lấy sỏi có hoặc khơng dẫn lưu Kehr vẫn là phương pháp
thường được áp dụng nhất.
bàng quang.
+ Nhận định vết mổ: xem có chảy máu hay khơng? Có nhiễm khuẩn khơng?
+ Nhận định tiểu tiện: xem NB có đặt sonde niệu đạo - bàng quang khơng? Màu
sắc nước tiểu có vàng sẫm không?
+ Nhận định về trung, đại tiện, vận động, dinh dưỡng?
+ Nhận định các biến chứng có thể xảy ra sau PT.
2.2.2. Nhận định và can thiệp ĐD
- Nguy cơ suy hô hấp do NB không được nằm đúng tư thế sau PT.
- Mục tiêu: NB nằm đúng tư thế sau PT.
- Tư thế nằm của NB:
+ Khi NB chưa tỉnh cho nằm đầu ngửa tối đa.
+ Khi NB tỉnh cho nằm tư thế Fowler, nghiêng về phía có ODL.
- Biến loạn DHST do nguy cơ chảy máu sau PT, thiếu nước điện giải, do nhiễm
trùng, nhiễm độc.
- Mục tiêu: NB ổn định DHST.
- Chăm sóc DHST:
+ Hơ hấp: sau mổ nhịp thở đều, êm, khơng có biểu hiện tím tái, nếu thở nhanh,
nơng, tím tái phải cấp cứu hút đờm dãi, cho thở oxy và báo Bác sỹ (BS) ngay để cấp
cứu suy hơ hấp.
+ Tuần hồn: đo mạch, huyết áp 15 – 30 phút/ lần. Nếu mạch nhanh, huyết áp tụt
có thể do sốc hoặc chảy máu sau PT, phải báo cáo BS ngay và chuẩn bị các phương tiện
hồi sức tuần hoàn.
20
+ Nhiệt độ: đôi khi sau phẫu thuật NB bị tụt nhiệt độ, phải cho ủ ấm hoặc sưởi
ấm cho NB, nếu sốt cao phải cho hạ nhiệt.
+ Chăm sóc vận động: cho vận động sớm khi NB ổn định, cho ngồi dậy sớm, vỗ
lưng, tập thở sâu, tập ho để phịng ngừa viêm phổi.
+ Số lượng, màu sắc, tính chất dịch mật theo dõi được hàng ngày cần ghi vào hồ
sơ
để có thể so sánh giữa các ngày với nhau.
- Thay băng chân ống DL Kehr hàng ngày.
- Bơm rửa ĐM qua Kehr: bằng huyết thanh mặn đẳng trương ấm, bơm với áp lực
nhẹ.
** Kỹ thuật bơm rửa ĐM qua Kehr.
* Dụng cụ :
+ Găng vô khuẩn.
+ Panh.
+ Gạc.
+ Thuốc sát khuẩn.
+ Dịch rửa ấm: Thường dùng huyết thanh mặn đẳng trương. Trường hợp chảy
máu đường mật dùng huyết thanh nóng.
+ Bơm tiêm 20ml và kim.
+ Khay quả đậu.
* Tiến hành:
22
+ Tháo ống Kehr khỏi ống nối, để đầu ngoài vào khay quả đậu.
+ Kẹp ống Kehr cách da 10 cm.
+ Bơm 10ml dịch rửa đoạn ngoài.
+ Bơm 10ml dịch rửa đoạn trong.
+ Mở kẹp kiểm tra ống có thơng khơng nếu mục đích là thơng ống Kehr; nếu
mục đích là rửa ĐM khi dịch mật có nhiều bùn mật hoặc chảy máu ĐM thì tiếp tục thao
tác cho đến khi dịch mật chảy ra trong thì dừng lại.
+ Nối ống Kehr vào túi dẫn lưu mới.
+ Ghi nhận xét vào hồ sơ.
- Sát khuẩn lại lỗ ống DL bằng Betadine, đắp gạc vô khuẩn lên, băng lại.
- Dọn dẹp dụng cụ.
** Lưu ý:
- Trước khi có chỉ định rút ống DL, BS phải cho chụp X-quang qua ống Kehr lại
để kiểm tra chắc chắn ĐM đã thông (thuốc cản quang xuống tá tràng tốt), khơng cịn
sỏi, ĐM khơng bị rị (thuốc cản quang khơng bị rò vào ổ bụng).
- Khi rút ống Kehr, ta không xoay ống, nếu không ống sẽ xoắn lại→khi rút ống
ra có thể làm rách ĐM.
- Khi rút phải rút liên tục, vừa phải, tránh rút nhanh sẽ làm hở miệng nối tại
OMC.
- Sau khi rút xong, phải nặn hết dịch ra để tránh tồn lưu mật. Nếu dịch mật vẫn
còn chảy ra nhiều sau khi rút ống (do sau khi rút thì đường hầm vẫn cịn, phải đợi 1
khoảng thời gian thì đường hầm mới tự đóng lại), có thể đặt túi để dịch mật chảy vào túi
này.
- Ống DL ĐM thường được rút vào ngày hậu phẫu thứ 10 - 14 (do thường sau
khoảng 8 ngày thì mới tạo được đường hầm).
- Cũng như các loại DL khác, DL Kehr cần được kiểm tra trước khi rút, người ta
kiểm tra bằng cách kẹp ống Kehr ngắt quãng, nếu trong q trình kẹp, NB khơng đau
bụng, khơng có biểu hiện vàng da tăng lên => Khơng cịn tắc nghẽn => Có thể rút được.
* Chăm sóc vết mổ: vết mổ khơng nhiễm trùng thì 7 ngày sau cắt chỉ, vết mổ ướt
thay băng, phù nề cắt chỉ thưa, vết mổ chảy máu băng ép cầm máu, không cầm máu
được báo BS xử lý.
* Theo dõi và phát hiện một số biến chứng sớm:
24
- Suy hơ hấp: NB khó thở, tím tái, khị khè, nhịp thở nhanh, nông, cánh mũi phập
phồng, phải báo ngay BS. Người ĐD phải xem có hiện tượng trào ngược khơng, có tắc
đường thở do tụt lưỡi hay ứ đọng đờm dãi. Xử lý bằng cách hút đờm, thở oxy, bóp
+ Ống DL Kehr và các ống DL khác không tắc, hoạt động tốt và được rút đúng
thời gian.
+ NB ăn ngủ tốt, đã có kiến thức chăm sóc bệnh, tinh thần có chiều hướng tích
cực.
- NB được GDSK và thực hiện tốt lời căn dặn của ĐD, biết cách tự chăm sóc DL
- Khơng bị sỏi ĐM tái phát
LIÊN HỆ THỰC TIỄN
1. Thực trạng chăm sóc DL Kehr tại Khoa Ngoại Tiêu hóa – Tổng hợp Bệnh
viện Đa khoa Tỉnh Hải Dương.
1.1. Thông tin chung
BVĐK tỉnh Hải Dương là một BVĐK hạng I, là BV tuyến đầu của tỉnh và trực
thuộc Sở Y tế Hải Dương, nằm ở phía Tây trung tâm Thành phố Hải Dương. BV có
nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân tỉnh Hải Dương và các tỉnh lân cận như: Bắc
Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên… .
Với quy mô giường bệnh kế hoạch là 800 giường ( được Sở Y tế giao chỉ tiêu); Số
giường thực kê là 1200 giường bệnh.
Gồm: 10 phòng chức năng, 02 trung tâm và 37 khoa phòng, bộ phận.
Tổng số nhân lực: 1012 người, trong đó có 974 viên chức, 36 hợp đồng theo Nghị
định 68, 02 hợp đồng hưu. Trong đó:
- Tiến sĩ: 01 (10 nghiên cứu sinh).
- Thạc sĩ: 58
- Chuyên khoa II: 09
- Chuyên khoa I : 33
- Bác sỹ:116
- Thạc sĩ Y Tế Công Cộng: 04
- Thạc sĩ khác: 03
- Điều dưỡng, Kỹ thuật viên: 718 (Đại học: 160, Cao đẳng: 132, Trung cấp: 426).
- Cán bộ khác là: 70.
Số NB nằm điều trị nội trú trung bình: 1000 – 1200 NB/ ngày.