Đại học An Giang Đoàn Thanh Hải – 10L
NỘI DUNG ÔN THI HẾT HỌC PHẦN GIÁO DỤC HỌC 1
Năm học: 2010 – 2011
1. Giáo dục và sự phát triển nhân cách.
- Khái niệm về con người, cá nhân, nhân cách và sự phát triển
nhân cách.
- Vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
triển nhân cách: Bẩm sinh di truyền, hoàn cảnh sống, giáo dục và hoạt
động cá nhân.
(SV phải biết vận dụng những hiểu biết về các yếu tố để phân tích, đánh
giá những quan điểm khác nhau về vai trò của các yếu tố đối với sự
phát triển nhân cách).
2. Mục đích và nhiệm vụ giáo dục.
- Mục đích giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam.
Nêu một số nhận xét về trình độ dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng
nhân tài của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nêu một số những biện
pháp cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục.
- Trình bày các nhiệm vụ giáo dục (đức dục, trí dục, mỹ dục, thể
dục và giáo dục lao động). Phân tích mối quan hệ giữa các nhiệm vụ,
nêu VD.
3. Con đường giáo dục.
- Khái niệm về con đường giáo dục.
- Phân tích các con đường giáo dục: hoạt động học và hoạt động
tập thể.
4. Người thầy giáo trong trường học.
- Đặc điểm lao động sư phạm của người thầy giáo.
- Những phẩm chất và năng lực sư phạm của người thầy giáo.
- Quá trình hình thành nhân cách của người thầy giáo.
- 1 - GD Học 1
Đại học An Giang Đoàn Thanh Hải – 10L
là bất biến. Những khả năng này có trở thành hiện thực hay không nó còn phụ thuộc
vào chính hoàn cảnh và giáo dục xung quanh con người đó.
- Di truyền tạo ra những tiền đề vật chất cho sự phát triển nhân cách. Trên cơ
sờ tiền đề ấy, phải có môi trường sống thích hợp, hoạt động tích cực của cá nhân
và được sự giáo dục đúng đắn thì yếu tố bẩm sinh, di truyền mới trở thành hiện
thực.
* Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần chú ý một số điểm sau:
+ Chú ý đúng mức đến vai trò của di truyền trong sự hình thành và
phát triển nhân cách.
+ Nếu xem nhẹ yếu tố bẩm sinh, di truyền thì chúng ta đã bỏ qua một
tiền đề quan trọng cho sự hình thành và phát triển tâm lí.
+ Nếu đánh giá quá cao yếu tố bẩm sinh, di truyền sẽ dẫn tới sai lầm
về mặt nhận thức, phủ nhận khả năng biến đổi bản chất của con
người, phủ định vai trò giáo dục và tự giáo dục.
- 2 - GD Học 1
Đại học An Giang Đoàn Thanh Hải – 10L
b) Vai trò của hoàn cảnh sống
- Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một hoàn
cảnh sống nhất định. Hoàn cảnh sống giữ vai trò gián tiếp quyết định sự phát triển
nhân cách.
Hoàn cảnh góp phần tạo nên động cơ, mục đích, cung cấp phương tiện, điều
kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh các kinh
nghiệm xã hội, các giá trị văn hóa để hình thánh, phát triển và hoàn thiện nhân cách
của mình.
- Khi nói tới ảnh hưởng của hoàn cảnh tới sự hình thành và phát triển nhân
cách, cần đặc biệt lưu ý là ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội.
- Tính chất và mức độ ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với sự hình thành và
phát triển nhân cách tùy thuộc:
+ Lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng
đó.
phát triển.
- 3 - GD Học 1
Đại học An Giang Đoàn Thanh Hải – 10L
- Sự phát triển nhân cách con người chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong
điều kiện của dạy học và giáo dục.
* Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần chú ý một số điểm sau:
+ Có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo duc.
+ Giáo dục sẽ phát huy được sức mạnh của mình nếu có được chỗ
dựa vững chắc là:
• Tư chất vốn có của mỗi người.
• Hoạt động tích cực của mỗi người trước tác động bên ngoài.
+ Giáo dục phải được xây dựng theo nguyên tắc phát triển và đón
trước sự phát triển.
+ Giáo dục không phải là vạn năng, nó cũng không hạ thấp, thủ tiêu
các yếu tố khác. Giáo dục trong mối quan hệ với các yếu tố khác chỉ
làm tăng thêm sức mạnh của chính nó và của các yếu tố khác trong
sự hình thành và phát triển nhân cách.
d) Vai trò của hoạt động cá nhân:
- Công tác giáo dục sẽ thành công khi người được giáo dục ý thức được,
chấp nhận các yêu cầu của nhà giáo dục, biến chúng thành nhu cầu của bản thân,
làm cho họ tự đề ra mục đích phấn đấu.
- Điều đó có nghĩa là người được giáo dục phải tích cực hoạt động đáp ứng
các yêu cầu giáo dục.
- Hoạt động cá nhân giữ vai trò quyết định trực tiếp sự hình thành và phát
triển nhân cách.
- Điều này hoàn toàn phù hợp với các quy luật tự thân vận động và động lực
của sự phát triển nhân cách.
* Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần chú ý một số điểm sau:
+ Nhà trường cần tổ chức được các hoạt động phong phú, đa dạng để
cuốn hút học sinh tham gia.
tiếp là các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.
- Việc đào tạo nhân lực phải gắn việc đào tạo với việc phân phối sử dụng
nguồn nhân lực một cách hợp lí.
- Ở nước ta hiện nay, công tác đào tạo nguồn nhân lực cần sớm đi vào ổn
định, đạt chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho quá trình đổi
mới toàn diện của đất nước.
Trong Dự thảo “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 và phương
hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005” Đảng ta đã
chỉ rõ:
+ Tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục – đào tạo đáp ứng
yêu cầu về con người và nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước
nhanh và bền vững…
+ Đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và có cơ cấu
hợp lí… Mở rộng đào tạo công nhân, kỹ thuật viên và nhân viên
nghiệp vụ theo nhiều trình độ.
+ Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học, sau đại học…
c) Bồi dưỡng nhân tài
- Một nền kinh tế phát triển ồn định và vững chắc là cơ sở cho việc phát hiện,
bồi dưỡng và sử dụng nhân tài và ngược lại những đột phá trong khoa học – kỹ thật
là bước dậm nhảy quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội - khoa
học – kỹ thuật của đất nước.
- Việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài phải dựa trên sự phổ cập rộng rãi, qua
đó sàng lọc, tuyển chọn hợp lí.
Cũng như các lĩnh vực khác, bồi dưỡng phải đi đôi với thu hút sử dụng nhân
tài, tận dụng mọi tìm năng chất xám của các thế hệ…
- Việc phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài hợp lí là một đòi hỏi cực kỳ
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trong Dự thảo “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 và phương
hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005” Đảng ta đã
chỉ rõ:
Nhà nước.
+ Giáo dục cho học sinh nắm vững các nguyên tắc và những chuẩn
mực đạo đức XHCN, chủ nghĩa yệu nước và chủ nghĩa quốc tế chân
chính, lóng nhân ái, lòng yêu lao động, tinh thần kỷ luật tự giác, lòng tự
hào dân tộc, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc.
+ Giáo dục cho học sinh về văn hóa chung, về bảo vệ môi trường, tinh
thần hợp tác…
c) Giáo dục lao động
- Giáo dục lao động là hoạt động có mục đích của nhà giáo dục nhằm trang bị
cho học sinh thái độ đúng đắn đối với lao động và người lao động, kỹ năng lao động
cần thiết.
- Giáo dục lao động có các nhiệm vụ sau:
+ Giáo dục cho học sinh có quan điểm, thái độ lao động đúng đắn.
+ Rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng và thói quen lao động.
+ Tổ chức cho học sinh tham gia lao động phù hợp với lứa tuổi và giới
tính.
d) Giáo dục thể chất (Thể dục)
- Giáo dục thể chất là hoạt động có mục đích của nhà giáo dục nhằm giúp
học sinh hoàn thiện cơ thể, hình thành những kỹ năng vận động, phát triển các tố
chất.
- 6 - GD Học 1