THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỐI VỚI PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC
TẠI NHÀ MÁY LEN HÀ ĐÔNG
2.1. Tổng quan Nhà máy len Hà Đông
2.1.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển
Nhà máy len Hà Đông là một doanh nghiệp nhà nước, được khởi công xây dựng
vào tháng 4/1958. Năm 1959, chính thức đi vào hoạt động và có tên là Nhà máy
nhuộm in hoa Hà Đông. Khi đó, Nhà máy chỉ là một cơ sở gia công nhuộm tẩy các
mặt hàng vải lụa, sợi thuộc công ty Bông vải, sợi-Bộ nội thương. Ban đầu, công
nghệ sản xuất chủ yếu là sản xuất thủ công tren chảo rang và hong khô ngoài trời.
Tháng 1/1961, Nhà máy chính thức được chuyển sang cho bộ Công nghiệp nhẹ
quản lý và đổi tên thành Xí nghiệp in hoa Hà Đông. Nhiệm vụ chủ yếu của xí
nghiệp lúc đó là in hoa trên vải và khăn mặt bông, nhuộm vải sợi phục vụ tiêu
dùng trong nước.
Năm 1973, theo kế hoạch đầu tư mở rộng của Bộ Công nghiệp nhẹ, xí nghiệp
được đầu tư xây dựng thêm một phân xưởng sản xuất len phục vụ cho dệt thảm
xuất khẩu. Nhờ đó, thiết bị sản xuất của xí nghiệp được cơ khí hoá dần dần. Đến
năm 1977, xí nghiệp được đổi tên thành Nhà máy len nhuộm Hà Đông, thuộc Liên
hiệp các xí nghiệp dệt Bộ công nghiệp.
Từ năm 1990, thực hiên chương trình Đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước,
Nhà máy đã tiến hành tổ chức lại sản xuất và sắp xếp lại lao động. Để giải quyết
công ăn việc làm cho số lao động dư thừa, Nhà máy đã xây dựng thêm một bộ
phận dệt thảm len xuất khẩu, đồng thời phát triển thêm dây truyền in vải hoa (là
nghề truyền thống của nhà máy). Cũng trong năm này, Nhà máy đổi tên thành
Công ty len Hà Đông. Năm 1996, Nhà máy đầu tư xây dựng thêm một phân xưởng
sản xuất len Acrylic đan áo từ xơ hoá học với dây chuyền công nghệ và máy móc
nhập khẩu từ Pháp.
Năm 1999, Nhà máy chính thức sát nhập trở thành đơn vị trực thuộc Công ty
len Việt Nam (thành viên của Tổng công ty dệt may Việt Nam) và mang tên Nhà
máy len Hà Đông. Hiện mặt hàng chủ yếu của Nhà máy là len thảm và len Acrylic;
ngoài ra, nhà máy còn nhận gia công nhuộm vải và in hoa.
Qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, Nhà máy đã có nhiều cố gắng trong
+ Hướng dẫn giá hoặc khung giá xuất, nhập khẩu vật tư, nguyên liệu, phụ liệu,
thiết bị, phụ tùng, sản phẩm và dịch vụ trong Tổng công ty; quy định khung giá
xuất, nhập khẩu một số vật tư, nguyên phụ liệu, thiết bị, phụ tùng, sản phẩm và
dịch vụ quan trọng. Trường hợp các đơn vị thành viên phải áp dụng mức giá không
nằm trong khung giá xuất, nhập khẩu do Tổng công ty quy định thì phải được sự
đồng ý của Tổng Giám đốc.
+ Xây dựng và áp dụng các định mức lao động, vật tư chủ yếu, đơn giá tiền
lương trên đơn vị sản phẩm trong khuôn khổ các định mức, đơn giá của Nhà nước.
Công ty Len Việt nam là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, hạch
toán độc lập, được Tổng công ty dệt may Việt Nam giao vốn, tài nguyên, đất đai và
các nguồn lực khác. Công ty chịu trách nhiệm về cam kết của mình trong phạm vi
số vốn do Công ty quản lý và sử dụng, cụ thể là:
- Trong chiến lược và đầu tư phát triển, Công ty được giao tổ chức thực hiện
các dự án đầu tư phát triển theo kế hoạch của Tổng công ty và được Tổng công ty
giao các nguồn lực để thực hiện dự án đó;
- Trong hoạt động kinh doanh, Công ty xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch
của mình trên cơ sở bảo đảm các mục tiêu, chỉ tiêu, các cân đối lớn, các định mức
kinh tế - kỹ thuật chủ yếu, đơn giá và giá của Công ty phù hợp với kế hoạch chung
của Tổng công ty;
- Trong hoạt động tài chính và hạch toán kinh tế:
+ Công ty được nhận vốn là nguồn lực khác của Nhà nước do Tổng công ty
giao lại cho Công ty. Công ty có nhiệm vụ bảo toàn, phát triển vốn và các nguồn
lực này;
+ Công ty được hình thành quỹ đầu tư xây dựng cơ bản, quỹ phát triển sản xuất,
quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự trữ tài chính theo Quy chế tài chính của
Tổng công ty; có nghĩa vụ trích nộp và sử dụng các quỹ tập trung của Tổng công ty
quy định tại Quy chế tài chính Tổng công ty và theo các quyết định của Hội đồng
quản trị;
+ Công ty giao vốn và nguồn lực khác cho các nhà máy thành viên, được quyền
điều hoà vốn, điều động tài sản giữa các nhà máy thành viên, tương ứng với nhiệm
Phân xưởng
nhuộm, in hoa
Phân
xưởng len
2
Phân
xưởng len
1
Các tổ sản xuất Phân xưởng
cơ điện
Phân
xưởng nồi
2.1.3. Đặc điểm tổ chức hệ thống sản xuất và tiêu thụ
2.1.3.1. Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu của Nhà máy bao gồm nguyên liệu chính và vật liệu phụ (hoá
chất thuốc nhuộm, nước nhuộm, nhiên liệu động lực) với nhiều chủng loại dùng để
sản xuất các loại sản phẩm khác nhau.
Nguyên liệu chính chủ yếu bao gồm: Lông cừu nhập từ NewDiland dùng để sản
xuất len thảm; Tow Acrylic trắng nhập từ Nhật Bản để sản xuất len Acrylic.
Vật liệu phụ bao gồm: Midlonfast blue E 200%, Polar Yellow, Albegal A dùng
để sản xuất len thảm; Tinegal MR, Soft AWT dùng để sản xuất len Acrylic; Các
loại vật liệu phụ khác.
2.1.3.2. Lao động
Nhà máy len Hà Đông có số công nhân viên trong danh sách là 405 người
nhưng hiện thực tế đi làm tại Nhà máy là 320 người trong đó nhân viên quản lý là
44 người (do thời gian trước, Nhà máy không có việc làm nên đã giải quyết cho
một bộ phận công nhân viên về nghỉ không lương).
2.1.3.3. Trang thiết bị, máy móc
Máy móc, thiết bị của Nhà máy len Hà Đông hiện nay đã quá cũ. Hầu hết các
máy móc, thiết bị của Nhà máy đã được đưa vào sử dụng từ năm 1976 và 1982.
là màu của họ đẹp và đồng đều hơn song lại có hạn chế là không chủ động được về
màu của sản phẩm nên không đáp ứng được nhu cầu đa dạng và thường xuyên thay
đổi của khách hàng, trong khi đó Nhà máy len Hà Đông do quy trình sản xuất là tự
nhuộm màu nên tuy sản phẩm không đẹp và đồng đều được như bên Vĩnh Thịnh
(do công nghệ lạc hậu hơn và tay nghề công nhân yếu hơn) song lại có thể chủ
động trong việc nhuộm màu đáp ứng nhu cầu đa dạng và hay thay đổi của người
tiêu dùng; nhờ lợi thế đó mà sản lượng sản xuất, tiêu thụ của Nhà máy năm qua
vẫn tăng. Có thể kể tên một số khách hàng lớn của Nhà máy trong 2 năm qua gồm
có: Công ty TNHH Hoàng Dương (60 tấn len Acrylic mỗi năm), Công ty cổ phần
kinh doanh len Sài Gòn (20 tấn len Acrylic mỗi năm), Công ty TNHH Đông Đô
(20 tấn len thảm), Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Nam Định (6
tấn len thảm)...
2.2. Thực trạng công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà máy len
Hà Đông
2.2.1. Cơ sở thực hiện quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy len Hà Đông
Quốc hội, Chính Phủ, các Bộ ban hành các văn bản pháp luật (từ Luật tới Thông
tư) quy định các chế độ quản lí vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước. Có thể kể
tên một số văn bản sau đây: Luật doanh nghiệp nhà nước ngày 20/04/1995; Nghị
định số 59/CP ngày 3/10/1996 của Chính phủ về Quy chế quản lý tài chính và hạch
toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước; Nghị định số 27/1999/NĐ-CP
ngày 20/04/1999 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/CP nói
trên; Nghị định số 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 về quản lý và xử lý nợ tồn
đọng đối với DNNN và Thông tư số 85/2002/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị
định này; Thông tư số 62/1999/TT-BTC ngày7/6/1999 hướng dẫn việc quản lý, sử
dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; Chế độ quản lí, sử dụng và trích
khấu hao tài sản cố định (Ban hành kèm theo Quyết định số 166/1999/QĐ-BTC
ngày 30/12/1999 của Bộ trưởng Bộ tài chính)...
Tổng công ty dệt may Việt Nam dựa vào những văn bản pháp luật liên quan
như trên và Quy chế tài chính mẫu của Tổng công ty nhà nước (Ban hành kèm theo
Quyết định số 838 TC/QĐ/TCDN ngày 28/8/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
-Chờ thanh lý 244.020.583 244.020.583 0
2. Vốn lưu động 6.049.963.200 2.344.865.086 3.705.098.114
-Dùng trong SXKD 2.833.413.014 0 2.833.413.014
-Ứ đọng chờ thanh
lý
3.216.550.186 2.344.865.086 871.685.100
(Nguồn : Biên bản giao vốn cho Nhà máy len Hà Đông ngày 1/7/1999)
Số vốn giao được xác định qua sổ sách Nhà máy len Hà Đông đưa lên, không
được Công ty len Việt Nam kiểm kê kỹ lưỡng để đánh giá lại giá trị phần vốn nhà
nước tại Nhà máy.
Theo số liệu tổng kết được từ Báo cáo tài chính của Nhà máy những năm gần
đây, Vốn Nhà nước giao cho Nhà máy được thể hiện ở Đồ thị sau:
Đồ thị 1: Tình hình biến động vốn nhà nước qua hai năm 2001-2002
(số dư tại thời điểm 31/12 hàng năm)
Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
VNN (đ) 11203245976 11255478548 10877609283 18488599890
NV (đ) 18549821203 21.438.844.185 21452408485 21959137838
VNN/NV (%) 60,40 52,50 50,71 84,20
3a) Biểu diễn theo giá trị tuyệt đối (đơn vị: đồng):
3b) Biểu diễn theo giá trị tương đối (đơn vị: %):
Đồ thị trên cho thấy chỉ có sự giảm nhẹ của vốn nhà nước giai đoạn 1999-2001
theo cả giá trị tuyệt đối và tương đối (trong năm 2001 Nhà máy điều chuyển 1 cửa
hàng cho Công ty len Việt Nam cùng máy móc cho Nhà máy len Bình Lợi); song
sang năm 2002 thì có sự biến động mạnh là do khoản vốn 7.478.889.093 đ trước đã
được Công ty len Việt Nam quyết định điều chuyển khỏi Nhà máy nhưng Nhà máy
chưa chuyển mà vẫn để lại ở tài khoản 336- phải trả nội bộ, trong năm 2000 sau
khi Nhà máy được kiểm toán thấy việc điều chuyển đó không hợp lí đã kiến nghị
lên Công ty điều chuyển lại số vốn đó cho Nhà máy và được Công ty thực hiện
trong năm 2002.
Ở Nhà máy len Hà Đông, hình thức thực hiện đầu tư và phạm vi đầu tư của Nhà
máy quản lí và sử dụng (để tái đầu tư, thay thế đổi mới tài sản cố định và sử dụng
cho các yêu cầu kinh doanh khác theo quy định);
+ Tiền lãi không phải trả từ các khoản vốn vay Tổng công ty dệt may Việt
Nam;
Hai là, vốn Nhà máy tự tích luỹ từ lợi nhuận sau thuế của Nhà máy;
Hàng năm Nhà máy len Hà Đông căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh,
tiến hành xây dựng kế hoạch tài chính. Công ty len Việt Nam xem xét nhu cầu về
vốn của Nhà máy; nếu qua xem xét thấy Nhà máy thiếu vốn, Công ty có biện pháp
bổ sung kịp thời: điều động, xin cấp bổ sung theo luật định, hoặc đi vay cho Nhà
máy và ngược lại.
Bên cạnh vốn được giao, Nhà máy đã tự huy động vốn để phục vụ sản xuất kinh
doanh, thay đổi cơ cấu nguồn và tài sản nhằm mục tiêu hiệu qủa, bảo toàn và phát
triển vốn, cụ thể: Nhà máy sử dụng tín dụng Ngân hàng với số dư Nợ
1000.000.000đ tại thời điểm 01/01/2002, tín dụng thương mại với số dư Nợ
435.504.481 đồng tại thời điểm 01/01/2002 và 617.731.708 đồng tại thời điểm
31/12/2000... Vốn này được Nhà máy sử dụng để phục vụ kịp thời các nhu cầu
trong kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả. Tài sản được thay đổi cơ
cấu theo hướng giảm ngân quỹ nhằm đẩy mạnh sản xuất (tăng tồn kho) và tiêu thụ
(tăng phải thu). Tổng giám đốc Công ty len Việt Nam uỷ quyền cho Giám đốc Nhà
máy len Hà Đông được vay vốn lưu động theo mức quy định tại giấy uỷ quyền với
thời gian vay từ 6 tháng đến dưới 12 tháng. Vay dài hạn được căn cứ vào từng dự
án được duyệt. Trong trường hợp có nhu cầu vay lớn hơn, Tổng giám đốc sẽ uỷ
quyền từng trường hợp cụ thể. Tổng giám đốc công ty còn uỷ quyền cho Giám đốc
nhà máy len Hà Đông được ký hợp đồng mua nguyên vật liệu trả chậm thông qua
Vinatex ở phía bắc, hoặc các đơn vị khác.
2.2.2.2. Quản lý quá trình sử dụng vốn
a, Từ phía Nhà máy len Hà Đông:
Nhà máy len Hà Đông theo đó đã và đang thực hiện các biện pháp quản lý sau:
Một là, Nhà máy đã mở sổ và ghi sổ kế toán (theo hình thức Nhật ký chứng từ)
theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế
+ Chuyển tiền về Công ty và các đơn vị thành viên trong Công ty;
+ Trả tiền điện, điện thoại, nước, nộp thuế.
Tuy vậy, quy định về hạn mức số dư tiền mặt (50.000.000 đồng) và số dư tài
khoản (100.000.000 đồng) của Công ty len Việt Nam không được Nhà máy thực
hiện.
Ba là, đối với TSCĐ, từ năm 2000 đến nay, Nhà máy quản lí, sử dụng và trích
khấu hao đúng theo Chế độ quản lí, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định ban
hành kèm theo Quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 của Bộ trưởng
Bộ tài chính (trước đó, Nhà máy đã thực hiện theo Chế độ quản lý, sử dụng và trích
khấu hao tài sản cố định ban hành kèm theo Quyết định số 1062 TC/QĐ/CSTC
ngày 14/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Cụ thể:
- Các TSCĐ trong Nhà máy đều có bộ hồ sơ riêng (bộ hồ sơ gồm có biên bản
giao nhận tài sản cố định, hợp đồng, hoá đơn mua tài sản cố định và các chứng từ
khác có liên quan), được theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao theo đúng
các quy định trong Chế độ hiện hành. Nhà máy áp dụng phương pháp khấu hao
tuyến tính theo điều 18 của Chế độ này, theo đó:
Mức trích khấu hao Nguyên giá của tài sản cố định
trung bình hàng năm =
của tài sản cố định Thời gian sử dụng.
Thời gian sử dụng của TSCĐ được Nhà máy định theo quy định tại điều 15 của
Chế độ hiện hành. Đồng thời, Nhà máy xác định nguyên giá của tài sản cố định
như sau:
+ Đối với TSCĐ loại mua sắm (như Máy biến áp 380/ 220 V-nguyên giá
63.570.440 đ, Máy bứt đầu tư thêm-nguyên giá 84.028.704 đ mới mua năm
2001...): Nguyên giá = giá thực tế phải trả + chi phí vận chuyển, bốc dỡ + chi
phí lắp đặt, chạy thử, thuế và lệ phí tr|ớc bạ;
+ Đối với TSCĐ loại đầu tư xây dựng (như Nhà kèo tiệp Len 2 mới-nguyên giá
664.007.464 đ xây xong trong năm 2001, Nhà vệ sinh khu điều hành-nguyên
giá 39.174.000 đ xây xong đầu năm 2002...):
Nguyên giá = giá quyết toán công trình xây dựng + các chi phí khác liên
+ TSCĐ dùng cho phúc lợi, gồm có 28 căn nhà trong khu tập thể Len Nhuộm
và Mương thoát nước tập thể;
Nhà máy đã thực hiện việc quản lý, sử dụng đối với những TSCĐ đã khấu hao
hết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinh doanh như: Máy nhuộm len, Máy đánh