LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 75

Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG
VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT.
1.1.Sự cần thiết của tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản
trích theo lương.
1.1.1 Khái niệm, bản chất, của tiền lương .
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao
các yếu tố cơ bản gồm( lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động). Trong
đó, lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người qua việc
sử dụng các tư liệu lao động để tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra của
cải vật chất cho xã hội.
Để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội nói chung và quá trình sản
xuất kinh doanh nói riêng, được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục thì một
vấn đề thiết yếu để tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mới của con
người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù laolao động. Trong nền kinh tế
hàng hóa, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị và được gọi là
tiền lương.
Như vậy tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần
thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công
việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp. Về bản chất, tiền lương
chính là biểu hiện bằn tiền của gía cả sức lao động. Mặt khác tiền lương còn là
khác, tiền lương chính là một phần nhân tố thúc đẩy năng xuất lao động.
Ngoài tiền lương, người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc
quỹ bệnh…Như vậy tiền lương, BHXH,BHYT là thu nhập chủ yếu của người
lao động. Đồng thời, tiền lương và tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ còn là
những yếu tố chi phí sản xuất quan trọng, là một bộ phận cấu thành lên giá thành
sản phẩm, dịch vụ. Không ngừng nâng cao tiền lương thực tế của người lao
động, cải thiện và nâng cao mức sống của người lao động đồng cũng là vấn đề
đang được các doanh nghiệp quan tâm, bởi đó chính là động lực thiết yếu để
nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm.

cấp...vv.
b. Vai trò của tiền lương và các khoản trích theo lương.
Tiền lương đảm bảo đời sống cho bản thân và gia đình cán bộ công nhân
viên, nhờ đó tạo cho mọi người yên tâm phấn khởi trong sản xuất, cũng chính là
cơ sở tạo điều kiện cho người lao động phát huy đầy đủ quyền sáng tạo.
Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế
gia đình. Người lao động dùng tiền lương để trang trảivà tích luỹ sẽ tạo điều
kiện cho người lao động trong doanh nghiệp yên tâm phấn khởi làm việc, thực
hiện dân giàu nước mạnh. Ngược lại, sẽ làm cho mức sống của họ giảm sút, kinh
tế gặp khó khăn.
Tiền lương không chỉ ảnh hưởng đến tâm tư của người lao động và doanh
nghiệp mà còn đối với xã hội. Nếu tiền lương cao sẽ ảnh hưởng tích cực, ngược
lại họ sẽ không tha thiết với doanh nghiệp, chán nản công việc, có thể nói tiền
lương là nhân tố động lực nhất.
2
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
Tiền lương là một công cụ sắc bén, có tác dụng sắp xếp, điều phối sức lao
động giữa các ngành, các khâu của quá trình sản xuất một cách có kế hoạch và
hợp lý.
Tiền lương có khả năng thu hút các nguồn lao động tiềm năng tham gia
vào quá trình sản xuất, ngày càng sản xuất ra nhiều của cải vật chất cho xã hội
khi áp dụng đúng đắn chế độ về tiền lương, tiền thưởng.
Tiền lương có tác dụng trong việc giáo dục thái độ quan tâm đúng đắn
làm cho người lao động có tinh thần kỷ luật tốt, có ý thức tự giác cao, quan tâm
hơn đến việc sử dụng ngày công, giờ công và sử dụng tốt thời gian lao động của
mình.
Tiền lương có tác dụng chặt chẽ giữa lợi ích tập thể, cá nhân người lao
động và lợi ích xã hội, khuyến khích người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến
kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề.

tiền lương là yếu tố sản xuất, còn đối với người cung ứng sức lao động thì tiền
lương là nguồn thu nhập. Mục đích của Doanh nghiệp là lợi nhuận, mục đích
của người lao động là tiền lương.
Với ý nghĩa này, tiền lương chỉ mang tính chất là chi phí mà nó trở thành
phương tiện tạo giá trị mới hay nới đúng hơn nó là nguồn cung ứng sáng tạo sức
sản xuất, năng suất lao động trong quá trình sinh ra các giá trị tăng.
Về phía người lao động thì nhờ vào tiền lương mà họ có thể nâng cao mức
sống, giúp họ hoà đồng với nền văn minh của xã hội. Trên một góc độ nào đó,
thì tiền lương là bằng chứng rõ ràng thể hiện giá trị, địa vị, uy tín của người lao
động đối với gia đình, Doanh nghiệp và xã hội.
1.2.2. Nhiệm vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
Kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương là một trong
những điều kiện quan trọng để quản lý tốt quỹ lương và quỹ BHXH, đảm bảo
cho việc trả lương và BHXH đúng nguyên tắc, đúng chế độ, có tác dụng khuyến
khích người lao động nâng cao năng suất lao động, đồng thời tạo điều kiện phân
bổ chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương và giá thành sản phẩm được
chính xác. Chính vì vậy, kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải
được thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
-Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời
gian lao động, kết quả lao động của từng người, từng bộ phận một cách chính
xác, kịp thời.
-Tính và phân bổ chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương cho
các đối tượng sử dụng.
-Hướng dẫn kiểm tra các nhân viên kinh tế phân xưởng, các phòng, ban
liên quan thực hiện đầy đủ việc hạch toán ban đầu về lao động, tiền lương theo
đúng quy định.
-Lập báo cáo về lao động và tiền lương kịp thời, chính xác.
-Tham gia phân tích tình hình quản lý, sử dụng lao động cả về số lượng,
thời gian, năng suất. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp thích hợp để nâng cao
hiệu quả sử dụng lao động.

* Phân loại lao động theo mối quan hệ với quá trình sản xuất:
Dựa theo mối quan hệ của lao động với quá trình sản xuất, có thể phân lao
động của Doanh nghiệp thành hai loại:
+ Lao động trực tiếp sản xuất: lao động trực tiếp chính là bộ phận công
nhân tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm hay thực hiện các lao
vụ, dịch vụ khác. Thuộc loại này bao gồm những người: điều khiển thiết bị máy
móc để sản xuất sản phẩm( kể cả cán bộ kỹ thuật trực tiếp sử dụng), những
người phục vụ quá trình sản xuất( vận chuyển, bốc dỡ nguyên vật liệu trong nội
bộ, sơ chế nguyên vật liệu trước khi đưa vào sản xuất...).
+ Lao động gián tiếp sản xuất: đây là bộ phận lao động tham gia gián tiếp
vào quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Thuộc loại này, bao gồm
nhân viên kỹ thuật( trực tiếp làm công tác kỹ thuật hoặc tổ chức chỉ đạo hướng
dẫn kỹ thuật), nhân viên quản lý kinh tế( trực tiếp lãnh đạo, tổ chức hoạt động
5
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
kinh doanh như Giám đốc, phó Giám đốc kinh doanh, cán bộ các phòng ban kế
toán, kế hoạch,...), nhân viên quản lý hành chính( những người làm công tác tổ
chức nhân sự, văn thư, đánh máy,...). Cách phân loại này giúp cho Doanh nghiệp
đánh giá được tính hợp lý của cơ cấu lao động. Từ đó có biện pháp tổ chức, bố
trí lao động hợp lý với yêu cầu công việc, tinh giảm bộ máy gián tiếp.
* Phân loại theo chức năng của lao động trong quá trình sản xuất kinh
doanh:
Theo cách này, toàn bộ lao động trong Doanh nghiệp có thể được chia
làm ba loại như sau:
+ Lao động thực hiện chức năng sản xuất chế biến: Bao gồm những người
lao động tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, chế tạo sản
phẩm hay thực hiện các nhiệm vụ như công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên
quản lý phân xưởng...
+ Lao động thực hiện chức năng bán hàng: Là những lao động tham gia

lương.
*Các hình thức tiền lương.
Các doanh nghiệp hiện nay thực hiện tuyển dụng lao động theo chế độ
hợp đồng lao động. Người lao động phải tuân thủ những cam kết đã ký trong
hợp đồng lao động, doanh ngiệp phải đảm bảo quyền lợi của người lao động.
Trong đó có tiền lương và các khoản khác theo quy định trong hợp đồng.
Hiện nay, thang bậc lương cơ bản được nhà nước quy định. Nhà nước
khống chế mức lương tối thiểu, khống chế mức lương tối đa mà điều tiết bằng
thuế thu nhập.
Việc tính và trả chi phí lao động có thể được thực hiện theo nhiều hình
thức khác nhau, tuỳ theo đặc điểm kinh doanh, tính chất công việc và trình độ
quản lý của doanh nghiệp. Mục đích của việc quy định các hình thức trả lương
là quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động. Trên thực tế, thường áp dụng
hình thức trả lương như sau:trả lương theo thời gian, theo sản phẩm và tiền
lương khoán.
a. Hình thức tiền lương theo thời gian.
Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao động được tính theo thời
gian làm việc, theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghiệp vụ kỹ thuật.
Thường áp dụng theo lao động làm công tác văn phòng như: Hành chính quản
trị, Tổ chức lao động, Thống kê, Tài vụ- kế toán…
Tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp,
tính trả lương có thể được thực hiện theo hai cách: Lương thời gian giản đơn và
lương thời gian có thưởng.
-Lương thời gian giản đơn: Là tiền lương được tính theo thời gian làm
việc và đơn giá lương thời gian. Lương thời gian giản đơn được chia thành:
+Tiền lương tháng: là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp
đồng lao động và thang lương, bậc lương cơ bản do Nhà nước quy định. Tiền
lương tháng thường áp dụng cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính,
quản lý kinh té và các nhân viên thuộc các ngành không có tính chất sản xuất.
+Tiền lương ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc và được xác

- Hình thức tiền lương theo sản phẩm có thưởng: là việc kết hợp trả
lương theo sản phẩm(gián tiếp hay trực tiếp) với chế độ tiền thưởng trong sản
xuất(thưởng nâng cao chất lượng, thưởng nâng cao năng suất lao động, thưởng
tiết kiệm chi phí…). Nhờ đó, người lao động quan tâm hơn đến việc cải tiến kỹ
thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm làm ra, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất lao
động.
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến: là việc trả lương trên cơ
sở sản phẩm trực tiếp, đồng thời căn cứ vào mức độ hoàn thành vượt mức khối
lượng sản phẩm. Mức độ hoàn thành định mức sản xuất càng cao thì lương luỹ
tiến càng lớn. Nhờ vậy trả lương theo sản phẩm luỹ tiến sẽ kích thích được
người lao động tăng nhanh năng suất lao động.
- Hình thức tiền lương sản phẩm khoán: là hình thức trả lương cho cá
nhân hay tập thể người lao động dựa theo khối lượng công việc mà doanh
nghiệp giao khoán cho họ. Hình thức này áp dụng cho những công việc lao động
8
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
giản đơn có tính chất đột xuất như: bốc dỡ nguyên vật liệu, hàng hoá, sửa chữa
nhà cửa…Hình thức này có thể khoán việc, khán khối lượng, khoán sản phẩm
cuối cùng, khoán quỹ lương.
Hình thức tiền lương sản phẩm có nhiều ưu điểm:
Đảm bảo nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động,
khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả và chất lượng sản phẩm.
* Quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp
trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý.
Quỹ tiền lương bao gồm:
- Tiền lương trả theo thời gian, trả theo sản phẩm và tiền lương khoán.
- Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ.
- Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong

chế độ hiên hành, tỷ lệ trích BHXH là 22%, trong đó 16% do chủ sử dụng lao
động nộp được tính vào chi phí kinh doanh, 6% còn lại do lao động đóng góp và
được trừ vào lương tháng.
Quỹ BHXH(tài khoản 3383) : Được chi tiêu cho các trường hợp lao động
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bênh nghề nghiệp, hưu trím, tử tuất.Quỹ này
do cơ quan BHXH quản lý.
Quỹ BHYT( tài khoản 3382): Được sử dụng để thanh toán các khoản tiền
khám, chữa bệnh, viện phí, thuốc thang… cho người lao động trong thời gian
ốm đau, sinh đẻ.
Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số
tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của công nhân viên chức thực tế phát
sinh trong tháng. Tỷ lệ trích BHYT hiện hành là 4.5%, trong đó 3% tính vào chi
phí kinh doanh, 1.5% trừ vào thu nhập của người lao động.
Kinh phí công đoàn( tài khoản 3384): Hình thành do việc trích lập theo tỷ
lệ quy định trên tổng số tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của công nhân
viên thực tế phát sinh trong tháng, tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
T ỷ lệ trích KPCĐ theo chế độ hiện hành là 2% .
Số KPCĐ doanh nghiệp trích được một phần nộp lên cơ quan quản lý
công đoàn cấp trên, một phần để lại doanh nghiệp chi tiêu cho hoạt động công
đoàn tại doanh nghiệp.
BHTN(TK 3389): Hình thành 2% trong đó người lao động 1% người sử
dụng lao động1%.
1.2.6. Tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo
lương.
1.2.6.1. Tổ chức chứng từ và hạch toán ban đầu.
a. Chứng từ hạch toán lao động.
Để quản lý lao động về mặt số lượng, các doanh nghiệp sư dụng sổ danh
sách lao động. Sổ này do phòng lao động tiền lương lập chung cho toàn doanh
nghiệp và lập riêng cho từng bộ phận để nắm vững tình hình phân bổ, sư dụng
hiện có trong doanh nghiệp.

kiểm tra, đối chiếu với chế độ của nhà nước, doanh nghiệp và thoả thuận theo
hợp đồng lao động; sau đó ký xác nhận chuyển cho kế toán tiền lương làm bản
căn cứ lập các bảng thanh toán lương, thanh toán BHXH.
b . Chứng từ tính lương và các khoản trợ cấp BHXH.
Việc tính lương và các khoản trợ cấp BHXH, kế toán phải tính riêng cho
từng người lao động, tổng hợp lương theo từng tổ sản xuất, từng phòng ban quản
lý.
Trường hợp trả lương khoá cho tập thể người lao động kế toán phải tính
lương , trả lương cho từng việc khoán và hướng dẫn chia lương cho từng thành
viên(tập thể) theo các phương pháp chia lương nhất định, nhưng phải đảm bảo
công bằng và hợp lý.
Căn cứ các chứng từ ban đầu có liên quan đến tiền lương và BHXH được
duyệt kế toán lập các bảng thanh toán sau:
11
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
Mẫu số:02-LĐTL- bảng thanh toán tiền lương.
Mỗi tổ sản xuất, mỗi phòng ban quản lý mở một bảng thanh toán tiền
lương, trong đó kê tên và các khoản tiền lương được lĩnh của từng người trong
đơn vị.
Mẫu số:04-LĐTL- danh sách người lao động hưởng trợ cấp BHXH.
Bảng này được mở để theo dõi cho cả doanh nghiệp và các chỉ tiêu: Họ
tên và nội dung từng khoản BHXH người lao động được hưởng trong tháng.
Mẫu số:05-LĐTL- bảng thanh toán tiền thưởng.
Bảng này được lập cho từng tổ sản xuất, phòng, ban bộ phận kinh
doanh… Các bảng thanh toán này được căn cứ để trả lương và khấu trừ các
khoản khác như BHXH, BHYT, khoản bồi thường vật chất … Đối với người lao
động.
2. Chứng từ kế toán sử dụng.
Để tiến hành kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử

các khoản phải trả, phải nộp cho cơ quan pháp luật, các tổ chức đoàn thể xã hội,
cho cấp trên về kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, y tế, các khoản cho vay,
cho mượn tạm thời, giá trị tài sản thừa chờ xử lý…vv.
Kết cấu tài khoản này như sau:
Bên Nợ:
- Các khoản đã nộp cho cơ quan quản lý.
- Khoản BHXH phải trả cho người lao động.
- Các khoản đã chi về kinh phí công đoàn.
- Xử lý giá trị tài sản thừa, các khoản đã trả, đã nộp khác.
Bên Có:
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính vào chi phí hoặc khấu trừ vào lương
công nhân viên.
- Giá trị tài sản thừa chờ xử lý.
- Các khoản phải trả khác.
Dư Nợ(nếu có): Số trả thừa, nộp thừa, vượt chi được thanh toán.
Dư Có: Số tiền còn phải trả, phải nộp, giá trị tài sản thừa chờ xử lý.
Tk 338 có các tài khoản cấp 2 sau:
-TK3381: Tài sản thừa chờ giải quyết.
-TK3382: Kinh phí công đoàn.
-TK3383: Bảo hiểm xã hội.
-TK3384: Bảo hiểm y tế.
-TK3385: Phí trả về cổ phần.
-TK3386: Nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn.
-TK3387: Doanh thu chưa thực hiện.
-TK3388: Phải nộp khác.
13
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản
liên quan như: 111,112,138,…các tài khoản này sẽ được giới thiệu ở các nội

TGTGT
15
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
(nếu có) theo hình thức khoán thu nhập

2.3.1. Tổ chức kế toán các khoản trích theo lương.

Sơ đồ 02: Sơ đồ kế toán các khoản trích theo lương. TK 338
TK111,112 TK622,627,641,642
Nộp BHXH,BHYT,KPCĐ
Trích BHXH, BHYT,KPCĐ
tính vào chi phí
TK334 TK334
Trợ cấp BHXH cho người lđ BHYT,NHYT trừ vào lương
Của CNVC
ok

16
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
3. Sổ sách kế toán của kế toán tiền lương và các khoản trích theo
lương.
- Sổ kế toán tổng hợp: Sổ cái Tk 334, Tk 338.
- Sổ Kế toán chi tiết : sổ chi tiết tk 334, Tk 338
4: phương pháp kế toán.
*Đối với tài khoản 334:

động của DN như tiền tạm ứng chi không hết, BHYT,BHXH, tiền thu bồi
thường về tài sản thiếu theo quyết định sử lý:
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động(3341)
Có TK141- Tạm ứng
Có TK338- Phải trả, phải nộp khác
Có TK 138- Phải thu khác
g. Tính tiền thuế TNCN Của CNV và người lao động khác của DN
Phải nộp nhà nước, ghi:
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động(3341)
Có TK 333- Thuế và các khoản phải nộp nhá nước(3335)
h. Khi ứng trước hoặc thực trả tiền lương , tiền công cho CNV và
người lao động khác của DN,ghi:
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động(3341)
Có TK 111, 112…..
l. Xác định và thanh toán tiền ăn ca phải trả cho CNV và người lao
động .
- Khi xác định được số tiền ăn ca, ghi:
Nợ TK 622,623,641. 642
Có TK 3334- Phải trả người lao động(3341)
18
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
- Khi chi tiền ăn ca cho CNV, ghi:
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động(3341)
Có TK 111, 112…..
- Đối với TK 338
a. Trường hợp vật tư, hàng hóa, tiền mặt tại quỹ phát hiện thừa qua
kiểm kê chưa xác định rõ nguyên nhân phải chờ giải quyết ghi:
Nợ TK 111,112,152,153,155,156
Có TK 338- Phải trả, phải nộp khác(3381)

Nợ TK 338- Phải trả, phải nộp khác(3386)( Đã trừ tiền phạt)
Có TK 111,112….
l. Khi xác định số lãi phải trả cho bên tham gia liên doanh cổ tức
phải trả cho các cổ đông theo quyết đingj của đại hội cổ đông ghi:
Nợ TK 421- Lợi nhuận chưa phân phối
Có TK 338- Phải trả, phải nộp khác(3388)
m.Hạch toán doanh thu chưa thực hiện về cho thuê TSCĐ, bất động
sản đầu tư theo phương thức cho thuê hoạt động .
- Đối với đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ :
+ Khi nhận tiền của khách trả trước về cho thuê TSCĐ, bất động sản
đầu tư Trong nhiều năm kế toán phản ánh doanh thu chưa thực hiện theo
giá chưa thuế GTGT,ghi:
Nợ TK 111,112…….(Tổng số tiền nhận trước)
Có TK 3387- Doanh thu chưa thực hiện( Giá chưa thuế GTGT)
Có TK 3331- Thuế GTGT phải nộp(33311)
+ Khi tính và ghi nhận doanh thu của từng kỳ kế toán,ghi:
Nợ TK 3387- Doanh thu chưa thực hiện
Có TK 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ(5113,5117)
-Đối với đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
+Khi nhận tiền của khách hàng trả trước về cho thuê TSCĐ trong
nhiều năm, kế toán phản ánh doanh thu nhận trước theo tổng số tiền đã
nhận, ghi :
Nợ TK 111,112……….
Có TK 3387- Doanh thu chưa thực hiện(Tổng số tiền nhận trước)
+ Khi tính và ghi nhận doanh thu của từng kỳ,ghi:
20
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
Nợ TK 3387- Doanh thu chưa thực hiện
Có TK 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ(5113,5117)

các đội thi công đang xây dựng và thi công trên các tỉnh sau: Bắc Ninh, Hưng
Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Nam, Lạng Sơn, Hải Phòng…vv.
Từ khi thành lập đến nay mặc dù có những lúc gặp nhiều khó khăn nhưng
lãnh đạo và toàn thể CBCNV Công ty đã đồng sức đồng lòng đưa Công ty từng
bước vượt qua khó khăn, thử thách để tồn tại và phát triển.
Trong mấy năm qua, Công ty luôn làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước, coi
trọng chữ tín với khách hàng, tạo niềm tin cho khách hàng khi họ giao công
trình cho Công ty: Công ty ngày càng tuyển thêm nhiều lao động và đảm bảo thu
nhập cũng như động viên đời sống tinh thần cho họ hăng say lao động.
Cụ thể : Năm 2004 nhận được bằng khen của tổng cục thế ngày
29/03/2005.
Giấy khen chi cục thuế tỉnh Hải Dương ngày 07/04/2004….vv
Phương châm hoạt động của Công ty là “ổn định và ngày càng mở rộng thị
trường”. Điều đó được thể hiện qua hai bảng sau:
22
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
1.2. Tình hình tài chính và nguồn vốn của Doanh nghiệp.
- Cụ thể qua các bảng:
Bảng 1: Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát kết quả kinh doanh trong 2
năm 2008-2009. .
ĐVT: 1.000đ
ST
T
Năm 2008 Năm 2009
Chênh lệch
(2009/2008)
+ (-) + (-) %
1
Tổng doanh thu

tăng 54,55%
Điều đó chứng tỏ Công ty có biện pháp quản lý tốt hơn về chi phí SXKD
nên đã giảm được chi phí, tăng lợi nhuận. Dẫn tới tài sản của Công ty năm 2009
tăng so với năm 2008 là 13,53%.
+ Tổng giá trị sản xuất năm sau tăng hơn so với năm trước là 28,03% Chứng
tỏ quy mô sản xuất của Doanh nghiệp đang ngày càng được mở rộng.
Các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước năm giảm hơn so với năm trước
là do cơ cấu về mức thuế suất GTGT trong doanh thu có thay đổi (Doanh thu có
thuế suất 5% chiếm tỷ lệ lớn hơn doanh thu có thuế suất GTGT 10%.
24
SVTH: Thư Lớp: C47F
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Ngấn
Bảng 2: Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh trong 2 năm 2008-2009:

Đơn vị tính:1000 đồng
ST
T
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2008 Năm 2009
Chênh lệch
2009/2008
+(-) %
1
Doanh thu & thu
nhập khác
1.000
đ
41.779.657
41.758.05
0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status